nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại ngân hàng công thương chi nhánh hai bà trưng - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến mạnh
mẽ, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO những cơ hội và thách thức đặt ra càng
lớn. Cùng với đó là sự ra đời của rất nhiều những doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực
khác nhau, kéo theo sự ra đời của nhiều dự án lớn nhỏ khác nhau, vì thế nhu cầu
về vốn vay tài trợ cho các dự án này cũng tăng cao, đây sẽ là điều kiện vô cùng
thuận lợi cho các NHTM tăng cường hoạt động cho vay tài trợ cho dự án.Yêu
cầu đặt ra là khi số lượng các dự án ngày càng tăng như thế liệu chất lượng dự
án có được đảm bảo? Vấn đề về hiệu quả của dự án được đặt ra đối với các cơ
quan chức năng có liên quan, trong đó có NHTM.
Không nằm ngoài xu hướng chung, ngân hàng Công thương Chi nhánh
Hai Bà Trưng trong giai đoạn vừa qua đã thực hiện chỉ đạo của NHCT Việt
Nam: “ Tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ, mà chủ yếu là
cho vay theo dự án”. Điều này đòi hỏi chất lượng thẩm định cũng phải được
đảm bảo vì các dự án thường đòi hỏi lượng vốn lớn và thời gian khá dài nên
chứa đựng rủi ro lớn.
Sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Hai bà
Trưng, nhận thức được tầm quan trọng của việc thẩm định tài chính dự án nên
em đã quyết định chọn đề tài: “ Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự
án trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Hai Bà
Trưng”. là chuyên đề thực tập của mình.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 chương :
Chương 1: Chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho
vay của NHTM.
Chương 2 : Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Hai Bà Trưng.
Chương 3 : Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự
án trong hoạt động cho vay tại NHCT Chi nhánh Hai Bà Trưng.
Do kiến thức còn hạn chế nên chuyên đề thực tập của em còn có nhiều
thiếu sót. Do vậy em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của của các thầy cô
trong khoa Ngân hàng – Tài chính và các cô chú, anh chị trong Chi nhánh Ngân

nền kinh tế. Các kênh truyền dẫn vốn có thể qua thị trường tài chính đó là các
nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn, nhưng nó đã bị cạnh tranh mạnh mẽ của các
tổ chức tài chính phi ngân hàng tham gia vào thị trường này như: Công ty Bảo
hiểm, các quỹ đầu tư, công ty tài chính Hoặc là thị trường tiền tệ là kênh dẫn và
huy động những nguồn vốn và các giấy tờ có giá ngắn hạn. Thị trường này hoạt
động rất linh hoạt và cung cấp một nguồn rất lớn cho nền kinh tế. Do đó tín
dụng ngắn hạn ngày càng phát triển mạnh mẽ.
* Đối với các doanh nghiệp.
Tín dụng ngân hàng là nguồn bổ sung vốn lưu động để bảo đảm hoạt động
kinh doanh được liên tục
Không có sự ăn khớp về mặt thời gian giữa các khoản thu và các khoản
chi của một doanh nghiệp nên tại một thời điểm nhất định, trong nền kinh tế có
những thời điểm trong nền kinh tế có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời và
cần bổ sung ngay để đảm bảo tính sản xuất được liên tục. Đối với các doanh
nghiệp sản xuất mang tính thời vụ như các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực
phẩm, các công ty chế biến nông sản, các doanh nghiệp xây lắp…hoặc các
doanh nghiệp có vòng quay vốn lưu động chậm thì các khoản tín dụng từ ngân
hàng có vai trò quan trọng trong việc giúp cho quá trình sản xuất không bị gián
đoạn. Các khoản tín dụng ngắn hạn có ý nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp khi
xuất hiện cơ hội kinh doanh trên thị trường, giúp doanh nghiệp tận dụng được
thời cơ phát triển sản xuất.
Tín dụng ngắn hạn tạo áp lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu
quả.
Một trong những nguyên tắc cơ bản là vay có hoàn trả ngốc lẫn lãi sau
một thời gian nhất định. Do vậy có thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng và tạo lập
được uy tín trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng, các doanh nghiệp phải hoạt
động có hiệu quả để trả nợ cho ngân hàng.
Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng là một yếu tố kích thích sản xuất của
doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải tiến mẫu mã sản phẩm để có
thể rút ngắn chu kỳ sản xuất, đưa nhanh sản phẩm vào lưu thông, tạo lập chỗ

và giảm thiểu chi phí đến mức thấp nhất có thể. Muốn thực hiện được điều này
đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư rất lớn. Để huy động vốn
cho các kế hoạch sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp có thể tìm kiếm từ các
nguồn sau:
Tự tích luỹ bằng lợi nhuận không chia: là một phương thức tạo nguồn tài
chính khá quan trọng đối với doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp tránh được
sự phân chia kiểm soát với bên ngoài. Tuy nhiên, phương thức tài trợ này đòi
hỏi một thời gian dài mới mang lại một lượng vốn đáng kể cho doanh nghiệp, do
đó có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh. Hơn nữa, tự tích luỹ
chỉ có thể thực hiện được trong điều kiện doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, có lợi
nhuận. Điều này là khó khăn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh
nghiệp mới đi vào hoạt động.
Phát hành cổ phiếu, trái phiếu: nguồn này có ưu điểm là có thể tập trung
được lượng vốn cần thiết trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, nếu phát hành cổ
phiếu có thể dẫn đến sự phân chia quyền kiểm soát công ty. Nếu phát hành trái
phiếu, doanh nghiệp sẽ phải chịu nhiều chi phí tốn kém như: chi phí giao dịch,
chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký chứng khoán,… Hơn nữa,
không phải trái phiếu của doanh nghiệp nào cũng được công chúng đầu tư tín
nhiệm, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện để được phép phát
hành trái phiếu ra công chúng. Thêm vào đó, trái phiếu không tạo ra sự linh hoạt
về kỳ hạn của khoản nợ.
Tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng: có ưu thế hơn so với các nguồn
trên, thể hiện ở chỗ:
Một là: Nó giúp cho doanh nghiệp chớp lấy thời cơ kinh doanh nhờ rút
ngắn thời gian tìm kiếm vốn. Thủ tục vay ngân hàng tuy chặt chẽ nhưng nếu
tuân thủ đúng thì thời gian để doanh nghiệp nhận được khoản tín dụng là ngắn
hơn rất nhiều so với tự tích luỹ hay phát hành trái phiếu, cổ phiếu.
Hai là: Không dẫn đến sự phân chia quyền kiểm soát công ty với bên
ngoài so với việc phát hành cổ phiếu.
Ba là: Mọi doanh nghiệp chỉ cần có tình hình tài chính lành mạnh, có

Thu nhập từ lãi vay là khoản thu nhập chủ yếu giúp trang trải được các chi phí
huy động, chi phí hoạt động và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó, có thể
nói tín dụng là nghiệp vụ quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của
một NHTM. Không có hoạt động tín dụng thì không có NHTM.
Tín dụng trung và dài hạn với đặc điểm là rủi ro cao, vốn đầu tư lớn, thời
gian cho vay dài nên có lãi suất cao, là nguồn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho
ngân hàng.
Thông qua hoạt động tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng không ngừng
mở rộng quy mô khách hàng: bằng việc thu hút thêm các khách hàng mới, tạo ra
mối liên hệ chặt chẽ và lâu bền với các khách hàng truyền thống. Nhờ đó, ngân
hàng không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, ngày càng khẳng định vị thế
và vai trò của mình trong nền kinh tế. Một ngân hàng sẽ không thể tồn tại và
phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh gay gắt từ phía
các ngân hàng và các trung gian tài chính khác nếu không đa dạng hoá hoạt
động cho vay, khách hàng vay và thời hạn vay.
Sau khi huy động được vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân
hàng không thể để vốn đó trong két mà phải sử dụng nó để tìm kiếm lợi nhuận.
Mặt khác, ngân hàng không thể "ngừng" nhận tiền gửi từ dân cư và các tổ chức
kinh tế. Nếu không có phương án sử dụng vốn huy động một cách khả thi thì
vốn huy động sẽ trở thành gánh nặnh cho ngân hàng (vì ngân hàng vẫn phải trả
lãi tiền gửi). Tín dụng trung và dài hạn góp phần vào việc làm cho vốn huy động
không bị nhàn rỗi, mà được sử dụng hiệu quả để đem lại lợi nhuận cao cho ngân
hàng. Tín dụng trung và dài hạn là một trong các cơ sở để ngân hàng mở rộng
huy động vốn, sử dụng vốn một cách khả thi, tăng sức cạnh tranh của bản thân
ngân hàng.
* Đối với nền kinh tế
Ở mọi quốc gia, nhu cầu vốn trung và dài hạn để đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng, hiện đại hoá và mở rộng sản xuất đều rất lớn. Nhu cầu này có thể được
đáp ứng bởi nhiều nguồn như: Ngân sách Nhà nước, viện trợ phát triển, vay nợ
nước ngoài nhưng nguồn quan trọng nhất vẫn là tín dụng trung và dài hạn của

trường sử dụng vốn ngắn hạn. Nguồn vốn trung và dài hạn được đầu tư để trang
bị máy móc, công nghệ hiện đại cho doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất phát
triển. Khi sản xuất phát triển, tất yếu nhu cầu sử dụng vốn lưu động sẽ tăng lên,
tạo ra thị trường sử dụng vốn ngắn hạn. Thị trường này càng được mở rộng khi
tốc độ phát triển sản xuất càng cao.
Tín dụng trung và dài hạn tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Nó
mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi. NHTM
và doanh nghiệp càng thu được nhiều lợi nhuận thì lượng thuế đóng cho ngân
sách Nhà nước càng nhiều. Thêm vào đó, bằng việc kích thích nền kinh tế phát
triển, kim ngạch xuất nhập khẩu gia tăng, lượng thuế gián thu thu được từ các
hoạt động kinh tế cũng tăng lên. Ta biết rằng thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân
sách Nhà nước nên thông qua việc làm tăng lượng thuế phải nộp, tín dụng trung
và dài hạn góp phần làm cho ngân sách Nhà nước tăng trưởng ổn định và lâu
dài.
Tín dụng trung và dài hạn còn góp phần ổn định cuộc sống, tạo công ăn
việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống của các tầng lớp dân cư.
1.1.3 Phân loại cho vay gồm có
Cho vay thương mại: Ngay từ thời kỳ đầu mới hình thành, các ngân hàng
đã chiết khấu thương phiếu, mà thực tế là cho vay đối với những người buôn
bán (người bán chuyển các khoản phai thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau
đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với
các khách hang (là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ, mở rộng sản
xuất kinh doanh
Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng không
tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình vì họ tin rằng các khoản cho vay
tiên dùng khả năng vỡ nợ là tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu
dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới
người tiêu dùng như một khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới thứ 2,
tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng
nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.

trọng điểm của Nhà nước thì đảm bảo an toàn vì phần lớn được Bộ tài chính bảo
lãnh.
* Đào tạo và nâng cao trình độ quản trị điều hành đầu tư vốn theo dự án,
trình độ thẩm định và cho vay theo dự án của đội ngũ cán bộ ngân hàng, nhất là
nhiều ngành nghề mới, có kỹ thuật phức tạp. Rút ra nhiều bài học kinh nghiệm
quý báu về quản trị rủi ro trong lĩnh vực này.
* Cơ cấu lại tài sản có.
* Thúc đẩy sự cạnh tranh, hợp tác và nâng cao trình độ công nghệ ngân
hàng trong cộng đồng Ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua cho vay hợp
vốn, đồng tài trợ các dự án lớn.
Cho vay theo dự án đầu tư là hình thức Ngân hàng thương mại cho khách
hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và phục vụ đời sống. Thời hạn của món vay theo dự án được xác định phù
hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng
và tính chất nguồn vốn cho vay của Ngân hàng thương mại. Như vậy, cho vay
theo dự án đầu tư có đặc điểm sau:
Thời hạn cho vay kéo dài từ 12 đến 60 tháng đối với cho vay trung hạn và
từ 60 tháng trở lên đối với dự án cho vay dài hạn.
Vốn đầu tư cho các dự án thường khá lớn nhưng ngân hàng không cho
vay toàn bộ nhu cầu vốn của dự án mà Ngân hàng sẽ căn cứ vào nhu cầu vay
vốn của khách hàng tham gia vào dự án.
Số tiền cho vay =
Tổng vốn đầu
tư của dự án
-
Vốn CSH hoặc
VTC tham gia
-
Nguồn vốn huy
động khác

trọng nhất.
1.2.1.2 Giai đoạn phân tích và lập dự án.
Đây là giai đoạn nghiên cứu chi tiết ý tưởng đầu tư đã được đề xuất và
được lựa chọn trên mọi phương diện: Thị trường, kỹ thuật, kinh tế xã hội, tài
chính, tổ chức, quản lý. Những nội dung trên được thể hiện trong nghiên cứu
tiền khả thi và nghiên cứu khả thi của dự án.
+ Nghiên cứu tiền khả thi là nghiên cứu sơ bộ ban đầu về nhu cầu và khả
năng tiến hành dự án cũng như kết quả của dự án.
+ Nghiên cứu khả thi hay còn gọi là lập luận chứng kinh tế kỹ thuật, là
giai đoạn nghiên cứu dự án một cách đầy đủ và toàn diện nhất. Đây là cơ sở
quan trọng nhất để chấp thuận hay bác bỏ dự án và lựa chọn phương án tốt nhất.
Giai đoạn phân tích và lập dự án được tiến hành cụ thể, sát thực và qua
thẩm định sẽ góp phần hạn chế đáng kể những rủi ro trong quá trình triển khai
thực hiện dự án.
1.2.1.3 Duyệt dự án
Đây là giai đoạn quyết định dự án có được chấp nhận hay không. Tham
gia duyệt dự án là một hội đồng gồm các thành viên liên quan như các cơ quan
nhà nước, các tổ chức tài chính và các thành phần khác. Mục đích của giai đoạn
này là xác định lại những kết luân được tổng hợp từ những giai đoạn trước để ra
quyết định cuối cùng. Nếu các dự án được khẳng định là có hiệu quả với các
mức chấp nhận được và khả thi thì hội đồng sẽ thông qua dự án và quyết định
đầu tư. Thực chất giai đoạn này cũng mang tính thẩm định song ở mức độ cơ
bản.
1.2.1.4. Thực hiện dự án
Dự án được triển khai thực hiện khi bắt đầu giải ngân. Giai đoạn này bao
gồm một số công đoạn: thi công xây dựng công trình, vận hành bước đầu tư dự
án (dự án sinh lời), dự án được sử dụng hết công suất và kết thúc dự án. Mặc dù
giai đoạn thực hiện dự án được tiến hành trên cơ sở các giai đoạn chuẩn bị, phân
tích và thẩm định thận trong, song những khó khăn rủi ro vẫn thường xảy ra. Do
vậy các nhà quản lý dự án phải giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện dự án để xử

* Các kết quả của dự án
* Các hoạt động của dự án
* Các nguồn lực của dự án
1.2.3 Thẩm định dự án
1.2.3.1. Khái niệm thẩm định dự án
Dự án đựơc chuẩn bị, phân tích kỹ lưỡng đến đâu vẫn thể hiện tính chủ
quan của nhà phân tích và lập dự án, những khiếm khuyết, lệch lạc trong quá
trình lập dự án là lẽ đương nhiên Để khẳng định một cách chắc chắn hơn mức độ
hợp lý và hiệu quả, tính khả thi của dự án cũng như quyết định đầu tư thực hiện
dự án cần phải xem xét, kiểm tra một cách độc lập với quá trình chuẩn bị, soạn
thảo dự án, hay nói cách khác là thẩm định dự án.
Thẩm định dự án là rà soát kiểm tra một cách khoa học; khách quan và
toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính
hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án truớc khi quyết định đầu tư. Trong quá
trình thẩm định dự án nhiều khi phải tính toán phân tích lại dự án.
1.2.3.2. Nội dung của thẩm định dự án bao gồm các nội dung sau
* Thẩm định kỹ thuật dự án
+ Thẩm định sự cần thiết của dự án: xác định mức độ cấp thiết của dự án
đối với doanh nghiệp, đối với ngành, đối với nền kinh tế; xem xét sự phù hợp
của dự án đối với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô
thị, nông thôn.
+ Thẩm định quy mô của dự án: Thẩm định mức độ phù hợp giữa quy mô
của dự án , công suất của dự án với khả năng chấp nhận sản phẩm của thị
trường, với khả năng đáp ứng vốn, khả năng cung ứng nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị cũng như khả năng quản lý dự án của các nhà quản lý.
+ Thẩm định công nghệ và trang thiết bị: Xác định rõ căn cứ lựa chon
công nghệ, máy móc thiết bị, mức độ đảm bảo về chuyển giao công nghệ, lắp
đặt, bảo hành chạy thử, phụ tùng thay thế; đặc biệt lưu ý kiểm soát trang thiết bị;
chương trình đào tạo và quản lý con người phù hợp với công nghệ, thiết bị lựa
chọn.

xem xét thông qua sự gia tăng thu nhập quốc dân (đòng góp vào mục tiêu tăng
trưởng kinh tế). Đánh giá tác động của dự án tới sự gia tăng thu nhập quốc dân
được dựa trên các tiêu chuẩn hiệu quả như: Giá trị hiện tại ròng, tỷ lệ nội hoàn,
tỷ lệ lợi ích/chi phí. Tuy nhiên, trong phân tích cũng như trong thẩm định kinh tế
của dự án theo các tiêu chuẩn hiệu quả, đặc trưng quan trọng là phải xác định
được lợi ích và chi phí kinh tế cũng như chi phí cơ hộ kinh tế. Ngoài việc đánh
giá tác động trên, cần thiết đánh giá những tác động khác của dự án về kinh tế,
xã hội như giả quyết việc làm, cải thiện cán cân thanh toán, cải thiện môi trường
sinh thái, cải thiện đời sống sức khoẻ nhân dân.
Nhìn chung thẩm định kinh tế dự án là một công việc khó khăn và phức
tạp nhưng nó rất cần được tiến hành cùng với thẩm định tài chính dự án trước
khi quyết định thực hiện dự án.
* Thẩm định tài chính dự án.
Là một nội dung lớn và quan trong trong thẩm định dự án, thẩm định tài
chính dự án sẽ được trình bày cụ thể chi tiết hơn trong phần tiếp theo.
1.2.4 Thẩm định tài chính dự án
1.2.4.1 Khái niệm
Thẩm định tài chính dự án là rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn
diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư: Doanh
nghiệp, các tổ chức tài chính , kinh tế khác, các cá nhân. Nếu như chính phủ,
các cơ quan quản lý vĩ mô quan tâm nhiều hơn tới hiệu quả kinh tế xã hội của dự
án thì các nhà đầu tư này lại quan tâm hơn đến khả năng sinh lãi của dự án.
Thẩm định tài chính dự án là một nội dung rất quan trọng trong thẩm định dự
án. Cùng với thẩm định kinh tế, thẩm định tài chính giúp các nhà đầu tư có
những thông tin cần thiết để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.
1.2.4.2 Nội dung của thẩm định tài chính dự án
Thẩm định tài chính dự án bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt chẽ với
nhau. Những nội dung chủ yếu được các nhà thẩm định chú trọng:
Xác định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ cũng như các
phương thức tài trợ dự án. Cụ thể: Xác định vốn đầu tư vào tài sản cố định, cách

việc thu thập và xử lý thông tin được tiến hành một cách nhanh chóng và chính
xác, các cở hội đầu tư được nắm bắt kịp thời
* Thông tin: Thẩm định tài chính dự án được tiến hành trên cở sở phân
tích các thông tin trực tiếp và gián tiếp liên quan đến dự án. Đó là các thông tin
về thị trường trong nước quà quốc tế, thông tin kỹ thuật, quy hoạch phát triển
kinh tế của nhà nước v.v… Nếu những thông tin này không được thu thập một
cách chính xác, đầy đủ thì kết quả thẩm định tài chính dự án sẽ bị hạn chế, quyết
định đầu tư sai.
* Tổ chức công tác thẩm định tài chính dự án: Do quá trình thẩm định
tài chính dự án được tiến hành theo nhiều giai đoạn nên tổ chức công tác thẩm
định có ảnh hưởng không nhỏ đến thẩm định tài chính dự án. Nếu công tác này
được tổ chức một cách khoa học, hợp lý trên cở sở phân tích trách nhiệm cụ thể
của từng cá nhân, có kiểm tra giám sát chặt chẽ, kết quả thẩm định tài chính dự
án sẽ cao.
Ngoài ra, môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lý, môi trường tự
nhiên cũng ảnh hưởng đáng kể tới thẩm định tài chính dự án.
1.2.4.4 Sự cần thiết nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án
trong hoạt động cho vay
Nghiệp vụ cho vay mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, cho vay để
thu lợi nhuận là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động huy động vốn. Tuy
nhiên, tất cả các ngân hàng đều sợ một rủi ro là khách hàng không có khả năng
hoàn trả vốn vay do làm ăn thua lỗ. Biểu hiện của tình trạng này là nợ quá hạn
ngày càng nhiểu. Để phòng ngừa rủi ro này các ngân hàng thường yêu cầu khách
hàng khi vay vốn phải có tài sản đảm bảo. Nhưng biện pháp này chỉ là biện pháp
“chữa cháy” có tính đối phó, không phải là biện pháp lâu dài.
Hơn nữa, trong các ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay ngoại trừ
Ngân hàng đầu tư phát triển, còn lại lâu nay hoạt động chủ yếu là kinh doanh tín
dụng ngắn hạn. Những năm gần đây, do dự thúc bách của yếu tố hội nhập, cạnh
tranh nên mới bắt đầu quan tâm đến tín dụng trung và dài hạn. Thế nhưng kết
quả của lĩnh vực này nhìn chung là rất khiêm tốn. Do vậy, công tác thẩm định

nhất của dự án
CF
t
: là dòng tiền xuất hiện tại năm thứ t của dự án, t chạy từ 1 đến n
n : là số năm thực hiện dự án
k : là tỷ lệ chiết khấu, giả định là không đổi qua các năm
* Ý nghĩa
NPV chỉ ra số lợi nhuận tuyệt đối của dự án mang lại. Chỉ số này đã tính
đến giá trị thời gian của tiền thông qua tỷ lệ chiết khấu.
Tuy nhiên chỉ tiêu này không tính đến sự khác biệt về thời gian hoạt động
của dự án. Hơn nữa tỷ lệ chiết khấu để tính NPV được giả định là không thay
đổi trong thời gian thực hiện dự án nên có thể NPV phản ánh chưa chính xác giá
trị tăng thêm cho chủ đầu tư. Giá trị của NPV phụ thuộc vào việc xác định dòng
tiền, cách lựa chọn tỷ lệ chiết khấu, mà đây không phải là vấn đề dễ dàng.
Chỉ tiêu này tính theo số tuyệt đối, chưa nói lên hiệu quả sử dụng đồng
vốn. Khi có hai dự án khác nhau về thời hạn và số vốn đầu tư khác nhau, việc
dùng chỉ tiêu này khó so sánh để lựa chọn.
* Tiêu chuẩn lựa chọn dự án
Dựa vào chỉ tiêu này một dự án chỉ được đầu tư nếu khoản tiền thu nhận
được từ đầu tư phải ít nhất là bằng, nếu không nói là lớn hơn khoản tiền đã bỏ
vào. Trường hợp chỉ có một dự án thì lựa chọn dự án có NPV dương, tức là đầu
tư vào dự án tạo ra giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư. Trường hợp có nhiều dự án
nhưng phải lựa chọn 1, thì chọn dự án có NPV dương và lớn nhất.
1.2.4.5.2 Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR
* Khái niệm, cách xác định
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là trường hợp đặc biệt của tỷ lệ chiết khấu ở đó
NPV bằng không hay nói cách khác tổng dòng thu bằng tổng dòng chi khi quy
về hiện tại.
Có thể tính IRR theo công thức sau:
IRR = k

Tuy nhiên, IRR được tính toán trên cơ sở giả định rằng các dòng tiền sẽ
được tái đầu tư với lãi suất chiết khấu không thay đổi qua các năm. Giả định này
là không hợp lý vì lãi suất chiết khấu có thay đổi. Vì vậy chỉ tiêu MIRR (tỷ suất
hoàn vốn nội bộ có điều chỉnh) được dùng để khắc phục nhược điểm trên.
* Tiêu chuẩn lựa chọn dự án
Đối với các dự án độc lập thì chọn các dự án có IRR ≥ tỷ lệ chiết khấu.
Với các dự án loại trừ thì chọn dự án có IRR ≥ tỷ suất chiết khấu và IRR max.
Trong trường hợp IRR đa trị hoặc đánh giá dự án bằng chỉ tiêu NPV và IRR cho
kết luận khác nhau thì chỉ tiêu NPV là sự lựa chọn tốt hơn để đánh giá.
1.2.4.5.3 Chỉ số doanh lợi (PI)
* Khái niệm, cách xác định
Chỉ số doanh lợi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi của một dự án, được
tính như sau:
PI =
Trong đó:
CF
0
: là vốn đầu tư bỏ ra ban đầu, giả định vốn bỏ ra một lần vào năm thứ
nhất của dự án
CF
t
: là dòng tiền xuất hiện tại năm thứ t của dự án, t chạy từ 1 đến n
n : là số năm thực hiện dự án
k : là tỷ lệ chiết khấu, giả định là không đổi qua các năm
* Ý nghĩa
Chỉ tiêu này đo lường tỷ lệ sinh lời của dự án thông qua việc tìm giá trị
hiện tại của các khoản thu nhâp trong các năm hoạt động trước khi tính tỷ lệ sinh
lời. Vì PI đo khả năng sinh lời của một đồng vốn nên chỉ tiêu này cũng cho biết
thông tin về độ toàn của dự án, giúp chủ đầu tư chọn được những dự án có mức
sinh lời cao, có thể dùng để so sánh dự án có thời hạn khác nhau.

quyết định thì người thẩm định phải dựa trên một số chỉ tiêu. Các chỉ tiêu thẩm
định thường dùng là giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR), tỷ
lệ hoàn vốn nội bộ có điều chỉnh (MIRR), chỉ số doanh lợi (PI), thời gian hoàn
vốn (PP).
1.2.4.7 Đánh giá rủi ro trong dự án
Rủi ro của dự án có thể xem là khả năng lợi tức của dự án tạo ra trên thực
tế khác với lợi tức dự kiến. Kết quả của một dự án sẽ phụ thuộc vào những sự
kiện bất định trong tương lai. Những yếu tố cơ bản trong thu nhập và chi phí của
dự án, như giá và chất lượng đầu vào, đầu ra ít khi là các con số chắc chắn. Vì
vậy khi đánh giá phân tích dự án, cán bộ thẩm định phải xem xét nhiều khả năng
dự án có thể gặp phải, phân tích rủi ro để nhìn thấu đáo hơn về khả năng thu lợi
nhuận của dự án, đảm bảo khả năng dự án có khả năng trả nợ.
Để đánh giá rủi ro của dự án người ta sử dụng phưong các phương pháp:
+) Phương pháp phân tích độ nhạy:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status