nghiệp vụ thị trường mở - một công cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ - Pdf 13

lêi nãi ®Çu
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
đối với các nớc đang phát triển nói chung và việt nam nói riêng, phát
triển và tăng trởng kinh tế luôn là mục tiêu quốc gia. trong khi nền
kinh tế phát triển thấp, tích luỹ từ nội bộ không nhiều, các nguồn lực
của nền kinh tế cha có điều kiện khai thác thì việc hỗ trợ của dòng vốn
từ bên ngoài là rất cần thiết và đóng vai trò quan trọng đối với việc tăng
trởng kinh tế. tuy nhiên, để có thể thu hút dòng vốn từ bên ngoài đòi
hỏi chúng ta phải thực thi hàng loạt các chính sách kinh tế có liên quan
nhằm tạo môi trờng cho dòng vốn đợc lu chuyển dới tác động của cung
cầu tiền tệ trên thị trờng. bởi vì tiền tệ là vấn đề rất nhạy cảm, việc thực
thi chính sách tiền tệ không những tác động đến tình trạng của nền kinh
tế quốc gia mà còn ảnh hởng đến các nớc khác do xu thế toàn cầu hoá,
khu vực hoá nền kinh tế thế giới. mặt khác, việc thực thi chính sách tiền
tệ rất đa dạng, phần lớn tuỳ vào quan điểm nhận định của nhà lãnh đạo.
đặc biệt, với bất kỳ một ngân hàng trung ơng (nht) nào, việc bảo
đảm ổn định giá trị đồng tiền, bao giờ cũng là chức năng quan trọng
nhất. muốn hoàn thành tốt trọng trách trên, nht phải điều hành chính
sách tiền tệ thông qua các chính sách và công cụ. ngoài các chính sách
vĩ mô, thông thờng nh các nớc thờng sử dụng ba công cụ quan trọng
nhất, đó là: nghiệp vụ thị trờng mở, tái chiết khấu và dự trữ bắt buộc.
với các nớc phát triển đã từng sử dụng các công cụ để điều chỉnh cơ số
tiền tệ và tạo ra những biến động trong cung ứng tiền thì nghiệp vụ thị
trờng mở luôn là công cụ tuyệt vời nhất, có vai trò quyết định quan
trọng nhất trong số các công cụ đợc sử dụng. trên tinh thần đó, việc
nghiên cứu, tổng kết việc thực thi chính sách tiền tệ - cụ thể là hoạt
động của nghiệp vụ thị trờng mở là điều đáng quan tâm. Nhận thức đợc
tầm quan trọng của nghiệp vụ thị trờng mở, em đã chọn đề tài:
Nghiệp vụ thị trờng mở - một công cụ hữu hiệu của chính sách tiền
tệ làm tên chính cho đề án của môn học lý thuyết tài chính tiền tệ.
2

ợc và duy trì ở mức lãi suất thấp để cho kho bạc tài trợ chiến tranh đã đa
đến một cuộc lạm phát dữ dội. Trong năm 1919 và 1920, tỉ lệ lạm phát bình
quân là 14%. Fed quyết định sẽ không tiếp tục theo đuổi chính sách bị
động theo học thuyết tín phiếu thực tế, bởi vì nó không phù hợp mục tiêu ổn
định giá cả, và lần đầu tiên từ khi đợc thành lập, Fed chấp nhận trách
nhiệm đóng một vai trò chủ động để ảnh hởng đến nền kinh tế.
* Phát hiện ra các nghiệp vụ thị trờng mở:
Vào những năm 1920, xảy ra một sự kiện đặc biệt quan trọng
Fed phát hiện ra nghiệp vụ thị trờng mở. Khi Fed đợc thành lập, nguồn
4
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
thu nhập của nó hoàn toàn chỉ là từ lãi thu đợc của những khoản tín dung
cấp cho các ngân hàng thành viên. Sau cuộc suy thoái 1920-1921, khối lợng
vay chiết khấu giảm sút nghiêm trọng và Fed rất túng tiền. Nó giải quyết
vấn đề này bằng cách mua các chứng khoán sinh lãi. Khi làm nh vậy, Fed
phát hiện ra rằng, dự trữ trong hệ thống ngân hàng thơng mại tăng lên và
những khoản cho vay và tiền gửi ngân hàng tăng lên gấp bội. Kết quả đó
ngày nay đối với chúng ta rất hiển nhiên nhng đối với Fed lúc bấy giờ là
một phát hiện. Một công cụ mới của chính sách tiền tệ ra đời, và vào cuối
những năm 1920, đó là một vũ khí quan trọng nhất trong kho vũ khí của
Fed.
2. Khái niệm thị trờng mở:
2.1 Khái niệm:
Với những lợi thế hơn hẳn các công cụ khác cho nên sau khi ra đời
nghiệp vụ thị trờng mở đã đợc áp dung rộng rãi ở hầu hết các nớc phát triển.
Tuy nhiên, một câu hỏi đợc đặt ra là: thị trờng mở là gì ? Câu hỏi tởng
chừng đơn giản, nhng trên thực tế không phải vậy. Mặc dù khái niệm thị tr-
ờng mở đợc chúng ta bắt đầu tiếp cận từ thời kỳ đầu đổi mới hoạt động
ngân hàng và cho đến nay, NHNN Việt Nam đang thực sự sử dụng nghiệp
vụ này vào việc điều hành chính sách tiền tệ ở nớc ta, song để trả lời câu hỏi

còn rất non trẻ. Đây là lần đầu tiên, thị trờng mở hữu hiệu ở Việt Nam trong
khi các điều kiện cần thiết khác cho nó hội tụ cha đủ, ít ra là vào thời điểm
này.
2.2. Phân loại nghiệp vụ thị trờng mở:
Có hai loại nghiệp vụ thị trờng mở:
nghiệp vụ thị trờng mở năng động: nhằm thay đổi mức dự trữ và
cơ số tiền tệ.
nghiệp vụ thị trờng mở thụ động : nhằm bù lại những chuyển động
của các nhân tố khác đã ảnh hởng đến cơ số tiền tệ.
6
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
Ví dụ nh thay đổi trong tiền gửi của kho bạc tại Fed hoặc tiền nổi.
Fed tiến hành nghiệp vụ thị trờng mở với chứng khoán của kho bạc Mỹ và
của các cơ quan nhà nớc khác, nhất là các tín phiếu kho bạc.
3. Nội dung hoạt động của thị trờng mở:
3.1. Nội dung thứ nhất : Phạm vi thành viên tham gia nghiệp vụ thị
trờng mở:
Thành viên tham gia nghiệp vụ thị trờng mở là các tổ chức tín dung
thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dung có đủ ba điều kiện
sau:
*1. Có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nớc (Sở giao dịch Ngân
hàng Nhà nớc hoặc chi nhánh ngân hàng Nhà nớc tỉnh, thành phố).
*2. Có đủ các phơng tiện cần thiết để tham gia nghiệp vụ thị trờng
mở gồm nối mạng máy vi tính với Ngân hàng Nhà nớc, có máy Fax và điện
thoại để giao dịch với Ngân hàng Nhà nớc
*3. Có đăng ký tham gia nghiệp vụ thị trờng mở.
Từ các yêu cầu trên của Thống đốc NHNN đối với các thành viên
tham gia thị trờng mở có thể thấy :
thứ nhất: NHTƯ muốn can thiệp trực tiếp vào lợng tiền cung ứng
bao gồm cả tiền mặt và tiền gửi, về lý thuyết, thành viên tham gia mua bán

Chúng đợc hoàn trả vốn khi đến hạn thanh toán hoặc chúng đợc thanh toán
lãi do việc bán lần đầu có giảm giá. Tức là, với giá thấp hơn so với khoản
tiền đã định đợc thanh toán khi hết hạn. Tín phiếu kho bạc là loại lỏng nhất
trong tất cả các công cụ trên thị tròng tiền tệ, do vậy, chúng đợc mua bán
nhiều nhất. Chúng cũng là loại công cụ an toàn nhất trong tất cả các công
cụ ở thị trờng tiền tệ, vì Chính phủ luôn đáp ứng đợc các món nợ phải trả
bằng cách tăng thuế hoặc phát hành giâý bạc. Tín phiếu kho bạc chủ yếu
do các ngân hàng nắm giữ, cũng có một lợng nhỏ các hộ gia đình, các công
ty và các trung gian tài chính khác nắm giữ.
8
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
3.2.2. tín phiếu ngân hàng nhà nớc:
Để huy động đợc một khối lợng vốn lớn trong thời gian ngắn, phục
vụ mục đích hoạt động hoặc đầu t trung hạn cho các chơng trình, chính phủ
quy định các ngân hàng thơng mại quốc doanh phát hành tín phiếu ngân
hàng nhà nớc để thu hút vốn. Lãi suất thông thờng cao hơn lãi suất gửi tiết
kiệm, trả lãi trớc hoặc sau. Nếu so sánh với tín phiếu kho bạc, thì loại kỳ
phiếu này có mức độ rủi ro cao hơn, do có thể các ngân hàng này không có
khả năng thanh toán. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy các ngân hàng này là
các ngân hàng của chính phủ, do vậy việc mất khả năng thanh toán là rất
khó có thể xảy ra.
3.2.3. Giấy chứng nhận tiền gửi của ngân hàng( CD):
Giấy chứng nhận tiền gửi của ngân hàng(CD) là một công cụ vay nợ
do ngân hàng thơng mại bán cho ngời gửi tiền. Ngời gửi đợc thanh toán lãi
hàng năm theo một tỷ lệ nhất định và khi đến kỳ thanh toán, thì hoàn trả
gốc theo giá mua ban đầu. Trớc 1961, CD là không thể bán lại đợc. Năm
1966, nhằm làm cho CD lỏng và hấp dẫn những ngời đầu t hơn, Citibank đă
lần đầu phát hành CD bán lại đợc đối với những loaị có mệnh giá cao (trên
100.000 đô la). CD có thể bán lại ở thị trờng cấp hai. Hiện nay, công cụ này
đợc hầu hết các ngân hàng thơng mại lớn phát hành và thu đợc thành công

Tb: thời hạn bán (số ngày)
365: số ngày quy ớc của một năm
3.3.2. Trờng hợp mua hoặc bán hẳn giấy tờ có giá giữa ngân hàng
nhà nớc với các tổ chức tín dung
Giá mua hoặc giá bán hẳn giấy tờ có giá đợc áp dụng nh công thức
quy định tại mục a nêu trên.
3.4. Nội dung thứ t: là phơng thức giao dịch thể hiện tính linh hoạt
của công cụ nghiệp vụ thị trờng mở mà các công cụ khác không thể có đợc.
Nghiệp vụ thị trờng mở cho phép mua hoặc bán với số lợng, thời gian giao
10
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
dịch và một phơng pháp giao dịch tuỳ ý, phù hợp yêu cầu chính sách tiền tệ.
Khi dự báo cho thấy vốn khả dụng không thay đổi biểu hiện một sự trì trệ
trong lu thông tiền tệ trong trờng hợp nh vậy phơng thức giao dịch sẽ là
mua bán hẳn giấy tờ có giá, nhằm tạo ra một sự chuyển động tiền tệ ban
đầu cần thiết. Ngoài ra, nghiệp vụ mua bán hẳn cho phép sửa sai bằng cách
đảo ngợc giao dịch. Khi dự báo cho thấy vốn khả dung thay đổi thất thờng
do nhiều nguyên nhân nh thời tiết, thiên tai để đảm bảo hạn chế sai sót
trong việc cung ứng tiền tệ, phơng thức giao dịch đợc áp dung sẽ là phơng
thức mua bán có kỳ hạn gọi là hợp đồng mua lại. Kết thúc thời hạn hợp
đồng,vốn khả dung cũng đồng thời giảm xuống.
3.5. Nội dung thứ năm: ảnh hởng đến hiệu quả của nghiệp vụ thị tr-
ờng mở đó là trình độ phối hợp giữa các công cụ điều trong điều hành chính
sách tiền tệ, đặc biệt là giữa nghiệp vụ thị trờng mở và công cụ cho vay tái
cấp vốn không có bảo đảm bằng giấy tờ có giá hoặc giấy tờ có giá chất lợng
thấp, thực chất là cho vay tái cấp vốn theo chỉ định hiện nay là một loại tín
dung không phải ai cũng có quyền vay. Vì vậy, TCTD đợc vay sẽ có nhiều
lợi thế trong giao dịch trên nghiệp vụ thị trờng mở, một khi tổ chức đó tìm
đợc nguồn vay với giá rẻ có thể sử dung để mua giấy tờ có giá với lãi suất
có lợi hơn trên nghiệp vụ thị trờng mở. Điều này không những tạo ra một

4.2. Phơng thức mua bán hẳn:
Là việc mua, bán và chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá từ bên
bán cho bên mua và không kèm theo thoả thuận mua, bán lại giấy tờ có giá.
Việc thực hiện nghiệp vụ thị trờng mở dới hình thức mua bán hẳn sẽ
làm tăng tỉ lệ cung ứng tiền của NHTƯ qua quan hệ tín dung, làm yếu khả
năng điều tiết của NHTƯ, gây biến động lớn tới thị trờng chứng khoán theo
chiều hớng không tốt khi mà thị trờng chứng khoán Việt Nam còn rất nhỏ
bé và yếu ớt. Nếu nh ngân hàng Trung ơng mua hẳn tín phiếu kho bạc, trái
phiếu kho bạc thì lợng tiền tệ trong lu thông sẽ thay đổi, khả năng tiền tệ
hoá thâm hụt ngân sách sẽ xảy ra. Vì vậy, NVTTM có tính linh hoạt cao
trong thực tế sử dung, mà phơng thức mua bán hẳn chỉ phù hợp với giai
đoạn đầu.
12
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
5. Cơ chế tác động tới lợng tiền cung ứng của nghiệp vụ thị trờng
mở:
5.1. Khái niệm lợng tiền cung ứng:
Lợng tiền cung ứng (MS) là tổng các phơng tiện tiền tệ, bao gồm tiền
mặt và tiền gửi không kỳ hạn tại các Ngân hàng thơng mại (NHTM).
Để dẫn ra một mô hình của quá trình cung ứng tiền tệ, ngời ta phân
biệt các khối lợng tiền trong lu thông. Sự phân chia tuỳ theo mỗi nớc, nhng
cách phân chia phổ biến là:
M1: Bao gồm tiền mặt lu thông ngoài hệ thống ngân hàng và tiền gửi
không kỳ hạn tại các ngân hàng.
M2: Bao gồm M1 cộng với các khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có
kỳ hạn tại các ngân hàng.
M3: Bao gồm M2 cộng với các khoản tiền gửi tại các định chế tài
chính khác.
Khối tiền tệ L: bao gồm M3 và các loại giấy tờ có giá trong thanh
toán.

Trờng hợp 1: giả sử rằng 1 cá nhân hay 1 công ty bán 100 triệu đồng
trái khoán cho NHTƯ vào 1 ngân hàng địa phơng. Tài khoản của công
chúng đó sau giao dịch này là :
Giới phi ngân hàng
Tài sản có Tài sản nợ
Chứng khoán -100
Tiền gửi có thể phất séc +100
14
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
Sau khi ngân hàng này nhận séc ấy, nó ghi có cho tài khoản của ngời
gửi tiền và sau dố gửi tấm séc ấy vào tài khoản của mình ở NHTƯ. Tài
khoản T của hệ thống ngân hàng trở thành :
Hệ thống ngân hàng
Tài sản có Tài sản nợ
Tiền dự trữ +100 Tiền gửi có thể phát séc
+100
Tác dung đối với bản quyết toán tài sản của NHTƯ là ở chỗ nó đã
thêm đợc 100 chứng khoán trong coọt tài sản của nó, trong khi ấy , nó tăng
thêm 100 tiền dự trữ ở cột tài sản nợ của nó.
NHTƯ
Tài sản có Tái sản nợ
Chứng khoán +100 Tiền dự trữ +100
Nh tài khoản T ở trên, khi tấm séc đó của NHTƯ đợc gửi vào một
ngân hàng, kết quả thực của vụ mua từ một giới phi ngân hàng trên thị trờng
mở là tơng tự với vụ mua từ một ngân hàng trên thị trờng mở.
Tiền dự trữ tăng thêm 100 triệu đồng từ vụ mua trên thị trờng mở và
cơ số tiền tệ cũng tăng thêm 100 triệu đồng đó.
Mặt khác, nếu cá nhân hoặc công ty ấy bán trái khoáncho NHTƯ đổi
tờ séc của NHTƯ lấy tiền mặt tại một ngân hàng địa phơng hoặc tại một
ngân hàng dự trữ liên bang, thì tác dung đối với tiền dự trữ khác nhau. Cá

5. 2.3. Bán trên thị trờng mở:
16
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
Nếu NHTƯ bán 100 triệu đồng trái khoán cho một ngân hàng hay
một giới phi ngân hàng cơ số tiền tệ sẽ giảm 100 triệu đồng. Ví dụ, nếu
NHTƯ bán các trái khoán đó cho một cá nhân, cá nhân đó thanh toán các
tài khoản ấy bằng tiền mặt, thì ngời mua đó trao đổi 100 triệu đồng tiền
mặt lấy 100 triệu đồng trái khoán và đa đến tài khoản T nh sau:
Giới phi ngân hàng
Tài sản có Tài sản nợ
Chứng khoán +100
Tiền mặt -100
Mặt khác, NHTƯ đã giảm bớt tài sản chứng khoán của nó 100 triệu
đồng và cũng đã hạ thấp tài sản nợ tiền tệ qua việc nhận tiền mặt để thanh
toán cho các trái khoán của nó, do vậy giảm bớt số lợng tiền lu hành 100
triệu đồng.
NHTƯ
Tài sản có Tài sản nợ
Chứng khoán -100 Đồng tiền lu hành - 100
Tác dụng của 100 triệu đồng trái khoán đó trên thị trờng mở là làm
giảm bớt một số tiền bằng nh thế của cơ số tiền tệ, tuy rằng tiền dự trữ giữ
nguyên không thay đổi. Những trạng thái khác nhau của các tài khoản trong
các trờng hợp ngời mua các trái khoán đó là một ngân hàng hoặc ngời mua
đó thanh toán các trái khoán ấy bằng một séc phát ra theo một tài khoản
tiền gửi có thể phát séc tại ngân hàng địa phơngcủa ngời ấy, đều dẫn đến
một sự giảm bớt 100 triệu đồng trong cơ số tiền tệ, tuy rằng việc giảm xảy
ra do mức tiền dự trữ đã sụt giảm.
Từ sự phân tích của chúng ta về mua bán trên thị trờng mở, nay có
thể đa ra kết luận sau: tác dung của các nghiệp vụ thị trờng mở đối với
tiền dự trữ là không chắc chắn hơn nhiều so với tác dung đố đối với cơ

của cả ngân hàng trung ơng lẫn các NHTM, bởi vì, cơ sở bảo đảm cho các
18
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
giao dịch trên thị trờng mở đều là những giâý tờ có giá, có tính thanh khoản
cao, không có rủi ro tài chính.
6.5. Nghiệp vụ thị trờng mở có thể thực hiện một cách nhanh
chóng không vấp phải sự chậm trễ của các thủ tục hành chính. Khi NHTƯ
quyết định muốn thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, NHTƯ chỉ cần đa ra
yêu cầu cho các nhà giao dịch chứng khoán ( trên thị trờng tiền tệ ) và sau
đó việc mua bán sẽ đợc thực thi ngay.
7. Thực trạng hoạt động của nghiệp vụ thị trờng mở của một số n-
ớc trên thế giới:
Nh ta đã biết nghiệp vụ thị trờng mở ra đời từ những năm 1920 đầu
tiên tại Mỹ và sau đó do tính chất khả thi của nó mà nghiệp vụ thị trờng mở
đợc nhiều nớc trên thế giới áp dụng, đặc biệt là các nớc phát triển. Sau đây
ta sẽ xem xét hoạt động thị trờng mở tại một số nớc tiêu biểu trên thế giới
nh Mỹ hoặc Đức.
7.1.Hoạt động thị trờng mở tại Mỹ:
Nghiệp vụ thị trờng mở là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất
bởi vì những nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với
những thay đổi trong cơ số tiền tệ, và là nguồn chính gây ra những biến
động trong cung ứng tiền tệ. Việc mua trên thị trờng tiền tệ làm tăng cơ số
tiền tệ, do đó tăng cung ứng tiền tệ, còn việc bán trên thị trờng tiền tệ thì
thu hẹp cơ số tiền tệ bằng cách giảm bớt cung ứng tiền tệ. Ví dụ nh thay đổi
trong tiền gửi của kho bạc tại Fed hoặc tiền nổi. Fed tiến hành nghiệp vụ
thị trờng mở với các chứng khoán của kho bạc Mỹ và của các cơ quan nhà
nớc khác, nhất là các tín phiếu kho bạc.
Sở dĩ Fed tiến hành đại bộ phận nghiệp vụ thị trờng mở của mình
với chứng khoán kho bạc bởi vì thị trờng của những chứng khoán này rất
lỏng và có dung lợng kinh doanh lớn nhất. Thị trờng này có khả năng tiếp

mà không gây lạm phát cao. Mặt khác, uy tín đạt đợc của Fed còn do nó
20
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
sẵn sàng thực hiện chính sách đã lựa chọn trong điều kiện luôn chịu sức ép
của nhiều thế lực.
7.2.Hoạt động thị trờng mở tại Đức:
Tại Đức, nghiệp vụ thị trờng mở bao hàm việc NHTƯ buôn bán
chứng từ, tín phiếu có giá với lãi suất cố định. NHTƯ mua những loại giấy
tờ này và sẽ tạo ra tiền ngân hàng trung ơng( bỏ tiền ngân hàng trung -
ơng ra mua, nh vậy làm tăng khối lợng tiền tệ lu hành). Ngợc lại, NHTƯ
bán ra các loại giấy tờ này sẽ thu về tiền ngân hàng trung ơng. Chính sách
nghiệp vụ thị trờng mở tác động trực tiếp và gián tiếp vào các đại lợng khả
năng thanh toán của ngân hàng, khối lợng tiền tệ, lãi suất. Hiệu quả của
nghiệp vụ thị trờng mở phụ thuộc vào loại tín phiếu, phơng pháp mua bán
tín phiếu trên thị trờng và phạm vi đối tợng đợc tham gia vào nghiệp vụ thị
trờng mở.
a). Các loại chứng từ, giấy tờ có giá:
Ngời ta phân biệt chứng từ, giấy tờ có giá ngắn hạn hoặc dài hạn.
Nếu NHTƯ mua tín phiếu vào, các ngân hàng sẽ tăng đợc khả năng thanh
toán, còn khi NHT bán ra tín phiếu cho các ngân hàng mua, các ngân hàng
sẽ giảm khả năng thanh toán ( ngắn hạn).
Khi lãi suất trên thị trờng tiền tăng bởi khối lợng tiền NHTƯ trên thị
trờng tiền giảm hoặc nhu cầu đối với tiền ngân hàng trung ơng tăng.
NHTƯ bỏ tiền NHTƯ của mình ra mua các loại tín phiếu ngắn hạn và làm
lãi suất trên thị trờng giảm đi. Và ngơc lại, sự thay đổi ở thị trờng tiền tác
động tơng tự đối với các thị trờng tiền khác, tác động vào cơ cấu lãi suất,
vào lãi suất dài hạn trên thị trờng vốn.
Chính sách kinh tế ngắn hạn thờng hớng vào các mục tiêu kinh tế đòi
hỏi hiệu quả nhanh, cần tác động vào thị trờng vốn giảm lãi suất để kích
thích đầu t, do đó, NHTƯ phải mua bán cả các tín phiếu dài hạn.

thành phần ngân hàng và thành phần không phải là ngân hàng, có khả năng
tác động trực tiếp vào chính sách tiền tệ và khả năng thanh toán, nhất là về
22
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
khối lợng, có thể đạt đợc mục tiêu một cách vừa hữu hiệu vừa phù hợp với
thị trờng, cả về xu hớng chi phí lẫn giới hạn.
Điều 15 luật ngân hàng liên bang cho phép ngân hàng liên bang Đức
thực hiện chính sách thị trờng công khai, nhng không đợc tự phát hành tín
phiếu. Lúc đầu, ngân hàng liên bang sử dung hối phiếu, can thiệp vào thị tr-
ờng tiền bằng nghiệp vụ pension hối phiếu ( có nghĩa là mua các hối phiếu
của các ngân hàng với điều kiện sau một thời gian nhất định các ngân hàng
lại phải mua lại số hối phiếu này), bằng cách ngăn chặn các ngân hàng liên
tục sử dung tín dung thế chấp. Phơng pháp này có thể sử dung hữu hiệu về
ngắn hạn, không gây ra những biến động lớn trên thị trờng tiền. Ngân hàng
liên bang Đức cũng sử dung phơng pháp lãi suất, không gây ra những biến
động lớn trên thị trờng tiền. Ngân hàng liên bang Đức cũng sử dung phơng
pháp lãi suất, phân chia theo thời gian và loại. Nhng ngân hàng liên bang
Đức chủ trơng ngăn các ngân hàng trả lại tín phiếu trớc thời hạn nên không
công bố lãi suất nhận lại, không buôn bán những loại tín phiếu lúc nào cũng
có thể trả lại đợc cho ngân hàng liên bang vì nếu không, sẽ chẳng chi phối
đợc kha năng thanh toán của các ngân hàng.
Năm 1967, lần đầu tiên ngân hàng liên bang sử dung nghiệp vụ thị tr-
ờng mở với tín phiếu dài hạn, mục đích nhằm làm giảm lãi suất trên thị tr-
ờng vốn một cách nhanh hơn và trực tiếp hơn ( đến cuôí năm mua vào 1,3 tỉ
DM ). Từ tháng 6 năm 1971, ngân hàng liên bang Đức cho phép cả thành
phần không phải là ngân hàng tham gia nghiệp vụ thị trờng mở. Khi kinh tế
phát triển theo chiều hớng đi xuống, ngân hàng liên bang phải mua nhiều
( nh từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1975 mua tín phiếu trị giá 7,6 tỉ DM ). Từ
nhiều năm nay, ngân hàng liên bang Đức sử dung tín phiếu và chứng từ có
giá cho nghiệp vụ pesion, tăng cờng dùng phơng pháp đấu thầu, kết hợp ph-

Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ.
Hoạt động nghiệp vụ thị trờng mở bao quát toàn bộ những nội dung
quyết định tính hiệu quả của nó. Các bớc tiến hành của phiên giao dịch gồm
hoạt động của ban điều hành nghiệp vụ thị trờng mở và quy trình thao tác
kỹ thuật của bộ phận sàn giao dịch.
Từ những thuận lợi khi thực hiện nghiệp vụ thị trờng mở kết hợp với
điều kiện thực tế của nớc ta, ngày 09/03/2000 Quyết định số 85/2000/QĐ-
NHNN14 về việc ban hành Quy chế Nghiệp vụ thị trờng mở do thống đốc
NHNN Việt Nam ký đã đợc ban hành. Cho tới ngày 12/07/2000, nghiệp vụ
thị trờng mở do NHNN chủ trì đã mở phên giao dịch đầu tiên, đánh dấu một
bớc phát triển quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Trung ơng theo phơng pháp gián tiếp.
2. Vài nét về hoạt động của nghiệp vụ thị trờng mở tại Việt Nam:
Với việc mua bán trái phiếu, tín phiếu và các công cụ tài chính khác
trên thị trờng mở, Ngân hàng Trung ơng (NHTƯ) sẽ làm tăng hoặc giảm
mức tiền cơ bản ( tiền NHTƯ) trong toàn hệ thống ngân hàng và qua đó tác
đông đến mức cung tiền tệ cho nền kinh tế. Thị trờng mở tại Việt Nam đã
dợc đa vào hoạt động hơn hai năm. Trong hai năm qua, khối lợng trái, tín
phiếu đợc mua bán qua thị trờng không ngừng tăng lên, qua đó, NHNN đã
từng bớc tác động vào thị trờng, giảm dần các công cụ kiểm soát trực tiếp
để chuyển sang sử dụng các công cụ kiểm soát gián tiếp. Tuy nhiên, phải
nói rằng thị trờng mở hoạt động cha thực sự sôi động. Cụ thể là, thành phần
tham gia chủ yếu là bốn ngân hàng thơng mai nhà nớc; có nhiều phiên đấu
thầu không có thành viên đăng ký. Mặt khác, việt Nam đang trong quá
trình hội nhập khu vực và quốc tế, nền kinh tế đang tăng trởng, việc kiểm
soát gián tiếp ngày càng trở nên quan trọng. Nếu chúng ta tiếp tục duy trì sử
dung các công cụ kiểm soát trực tiếp thì thị trờng sẽ tìm cách lẩn tránh. tuy
vậy, để cho nghiệp vụ thị tròng mở trở thành một bộ phận chính của chính
sách tiền tệ thì các công cụ khác đang đợc NHNN sử dung cần đợc xem xét
lại và cần điều chỉnh; đồng thời, cơ sở hạ tầng của thị trờng cần phải đợc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status