Chương I: MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việc sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất và ăn uống tăng lên đáng kể ở các
thành phố lớn trong những năm gần đây. Tại các thành phố lớn, đặc biệt thành
phố Hồ Chí Minh nơi có tốc độ phát triển kinh tế nhanh cùng với sự tập trung
dân cư cao thì việc đáp ứng nhu cầu này đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Tuy nhiên cho đến nay, tại một số vùng trong thành phố cụ thể quận Bình Tân
(tách ra từ huyện Bình Chánh) nước máy chỉ đáp ứng cho một bộ phận nhỏ
dân cư sống trong khu vực này, do đó việc khai thác và sử dụng nước dưới đất
là điều rất cần thiết và tất yếu của người dân. Hiện nay các giếng khoan khai
thác tập trung chủ yếu ở hai tầng: tầng Pleistocen (QI-III) và tầng Pliocen
trên(Nb2).
Việc khai thác nước dưới đất với lưu lượng quá mức, không theo quy hoạch
đã làm cho khả năng bị ô nhiễm của các tầng nước dưới đất trong khu vực có
thể xảy ra. Nhất là tầng Pleistocen.
Với đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ hiện trạng nước dưới đất trong khu
vực, cũng như làm sáng tỏ chất lượng nước dưới đất theo thời gian và không
gian tại khu vực này
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu các thành phần hoá học và sự thay đổi của chúng trong nước dưới
đất, để từ đó có biện pháp bảo vệ và khai thác một cách hợp lý nguồn tài
nguyên này.
III. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Làm sáng tỏ điều kiện địa chất thuỷ văn khu vực. Nghiên cứu và hiện trạng
chất lượng nước dưới đất đang khai thác. Đồng thời nêu lên nguyên nhân gây
ra sự biến đổi chất lượng nước và đề xuất hướng sử dụng.
Trang 1
IV. Ý NGHĨA KHOA HỌC – THỰC TIỄN
1. Ý nghĩa khoa học.
Qua kết quả nghiên cứu phân tích thành phần hoá học nước dưới đất đã góp
phần làm sáng tỏ về hiện trạng chất lượng nước dưới đất tại khu vực quận
(mapinfor 6.0 )
Chương II. KHÁI QUÁT VÙNG NGHIÊN CỨU
Quận Bình Tân là đô thị mới được thành lập bao gồm 10 phường, theo nghị
định số 130/NĐ ngày 5/11/2003 của chính phủ từ thị trấn An Lac, xã Bình
Hưng Hoà, xã Bình Trị Đông và xã Tân Tạo của huyện Bình Chánh trước đây.
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá diễn ra khá nhanh, có phường
hầu như không còn đất nông nghiệp (phường An Lạc A năm 2003 còn 3.5 ha,
phường Bình Hưng Hoà A còn 39.5 ha).
VỊ TRÍ ĐỊA LÍ
Quận Bình Tân là đô thị mới phát triển, gồm 3 xã và 1 thị trấn được tách ra từ
huyện Bình Chánh. Quận nằm trong toạ độ địa lí từ 10027’38” đến 10045’30”
vĩ độ Bắc và từ 106027’51” đến 106042’00” kinh độ Đông, tiếp giáp với:
Phía Bắc: quận 12, huyện Hóc Môn.
Phía Nam: quận 8, xã Tân Kiên, xã Tân Nhựt.
Phía Đông:quận Tân Bình, quận 6, quận 8.
Phía Tây: xã Vĩnh Lộc A, xã Vĩnh Lộc B, xã Lê Minh Xuân.
KHÍ HẬU, ĐẶC ĐIỂM THUỶ VĂN:
Trang 3
Bình Tân nằm trong khu vưc nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa mưa
nắng, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12
đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ cao nhất: 300C (tháng 4).
Nhiệt độ thấp nhất: 26,80C (tháng 11).
Nhiệt độ trung bình năm: 27.90c.
(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đến
năm 2010).
Độ ẩm không khí:
Độ ẩm cao nhất:82% (tháng 8).
Độ ẩm thấp nhất: 70% (tháng 2).
triều không đều dễ gây ngập vào mùa mưa và mặn xâm nhập sâu nội đồng vào
mùa khô. Chất lượng nước ở hệ thống sông rạch của quận rất kém do nằm ở
hạ lưu của hệ thống sông nên mức độ ô nhiễm nặng, chủ yếu là các chất thảy
từ thành phố theo hệ thống kênh Tàu Hủ, Tân Hoá-Lò Gốm, Kênh Đôi, rạch
Nước Lên đổ về. Bên cạnh đó còn có nguồn nước thải từ các khu công nghiệp
và khu dân cư của quận thải ra làm cho chất lượng nước càng kém hơn. Do
chất lượng nguồn nước kém nên ảnh hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội của
quận đặc biệt là ô nhiễm môi trường tác động đến đời sống của dân cư rất
nhiều.
Nguồn nước ngầm :nguồn nước phần lớn đều bị nhiễm phèn trong các tháng
mùa khô nên ảnh hưởng đến việc khai thác sử dụng.
ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO
Trang 5
Địa hình:
Địa hình quận Bình Tân thấp dần theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, cao trình
biến dạng từ 0.5-4m so với mực nước biển, được chia làm 2 vùng:
-Vùng 1: vùng cao dạng địa hình bào mòn bồi tụ, cao độ từ 3-4m, tập trung ở
các phường Bình Trị Đông, Bình Hưng Hoà.
-Vùng 2: vùng thấp, dạng địa hình tích tụ bao gồm phường Tân Tạo và An
Lạc.
Địa mạo:
Vùng nghiên cứu nằm ở phía Tây của thành phố Hồ Chí Minh – thuộc đới địa
hình chuyển tiếp giữa vùng đồi núi nâng cao ở phía Bắc – Đông
Bắc và vùng đồng bằng tích tụ rộng lớn Tây Nam bộ – địa hình có dạng bậc
thềm và đồng bằng đầm lầy, sông-biển.
Địa hình đồng bằng thềm bậc II cao 3m – 3,5m phân bố ở phía Tây nội thành
là chủ yếu. Thềm được cấu tạo từ trầm tích sét, bột có nguồn gốc hỗn hợp
sông – biển tuổi Holocen sớm.
Địa hình tích tụ đồng bằng thềm bậc I phân bố rộng rãi ở Bình Chánh, đông
Hóc Môn, nam Củ Chi,…Độ cao trung bình là 1m. Cấu tạo nên thềm này là
2003 so với năm 2000 tăng 590.6 ha, tăng bình quân năm những năm 2000-
2003 là 196.8 ha được sử dụng 70% cho phát triển giao thông. Chính việc này
phát triển mạnh giao thông là nhân tố tiên quyết cho phát triển mặt kinh tế xã
hội và hình thành quân mới Bình Tân .
Đất ở năm 2000 là 1056.9 ha, chiếm 20.4% đất tự nhiên, năm 2003 tăng lên
1782.7 ha, chiếm 34.4% đất tự nhiên. Năm 2003 so với năm 2000 tăng 725.8
ha, tăng bình quân năm những năm 2000-20003 là 242 ha. Đất ở tăng lên đại
đa số là đất ở đô thị được xây dựng không đồng đều và một số dự án dân cư
Trang 7
tập trung. Điều này quan trọng là nhiều khu dân cư mới ở các phường Bình
Hưng Hoà, Bình Hưng Hoà B, Bình Trị Đông, Bình Trị Đông A, Tân Tạo,
Tân Tạo A không được xây dựng đồng bộ với hệ thống thoát nước, hệ thống
giao thông… gây ngập nước nhiều nơi đang là trở ngại cho việc phát triển đô
thị.
BẢNG 1: CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT
Loại đất
2000 2001 2003
2001
so với
2.000
2003
so với
2.001
Trị số
Cơ
cấu
(%)
Trị số
Cơ
cấu
4- Đất cỏ
cho chăn
nuôi
2,4
5- Mặt
nước nuôi
trồng thuỷ
sản
196,8 187,5 132,08 -9,3 -55,4
II-Đất
chuyên
dùng
1.162,1 22,4 1.450,3 28,0 1.752,7 33,8 288,2 302,4
1- Đất xây
dựng
778,4 1.022,5 898,3 244,1 -124,2
2- Đất giao
thông
173,1 179,6 585,0 6,5 405,4
3- Đất thuỷ
lợi và mặt
nước CD
64.6 102.1 66.8 37.5 35.3
4- Đất di
tích lịch sử
văn hoá
3,1
5- Đất an
ninh quốc
phòng
cho dân từ nội thành ra đã làm cho đất nông nghiêp giảm mạnh, nếu tính giai
đoạn từ năm 2001 đến năm 2003 đất nông nghiệp toàn quận giảm khoảng 820
ha, tương ứng tốc độ giảm là 18.9 %/năm, đất nông nghiệp từ chổ chiếm tỷ
trọng 46.1% tổng diện tích tự nhiên toàn quận năm 2001, đến năm 2003 đất
nông nghiệp còn 1572 ha, chiếm khoảng 3.3%. Việc giảm đất nông nghiệp để
ưu tiên cho phát triển các khu công nghiệp, các khu dân cư và các công trình
công cộng là điều tất yếu và hợp lí.
Nhìn chung trong mấy năm gần đây (giai đoạn từ 2001-2003) tất cả các loại
đất nông nghiệp đều giảm tương đối nhanh, trong đó đất thuộc nhóm trồng
Trang 10
hàng năm giảm với tốc độ nhanh nhất 22.0 %/năm, đất vườn tạp gỉam 11.5%,
đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản giảm 16.1% riêng cây lâu năm tăng 30%.
Tóm lại, sử dụng quỹ đất, biến động quỹ đất, xu hướng dịch chuyển quỹ đất
của quận thời gian qua khá mạnh thể hiện sự hình thành, phát triển một đô thị.
Tuy nhiên công tác quản lí nhà nước về xây dựng, quy hoạch không gian đô
thị còn bất cập trước yêu cầu phát triển.
Dân số:
Dân số quận Bình Tân năm 2003 là 265.411 người, trong đó nam chiếm
47,45%, nữ chiếm 52,55%. Do tác động của quá trình đô thị hoá, dân số quận
Bình Tân tăng rất nhanh trong thời gian qua, tốc độ tăng dân số bình quân năm
giai đoạn 1999 - 2003 là 16,17%.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm dần qua các năm từ 1,51% năm
1999 xuống còn 1,3% năm 2003, tuy nhiên so với tỷ lệ tăng tự nhiên của
thành phố(1,27% năm 2002) thì tỷ lệ này vẫn còn cao, do đó công tác kế
hoạch hoá gia đình phải được quan tâm.
Tỷ lệ tăng cơ học thời gian qua luôn ở mức cao, năm 2001 là 19,84%, năm
2002 tăng 17,65% và đến năm 2003 tăng là 17,31%. phần lớn dân nhập cư là
do giản dân từ nội thành, số lao động từ các quận, huyện và các tỉnh khác đến
tìm kiếm việc làm. Dân nhập cư chủ yếu tập trung ở các phường có mức đô độ
thị hoá cao và các phường có xí nghiệp sản xuất. Vì vậy bên cạnh việc tích
15,36
- Nữ “ 74.637 79.814 96.791
115.19
6
139.46
2
16,92
2. Tỉ lệ
tăng dân
số
% 6,51 6,50 21,15 18,99 18,61
- Tăng tự
nhiên
% 1,51 1,50 1,31 1,34 1,30
- Tăng cơ
học
% 5,00 5,00 19,84 17,65 17,31
3. Mật độ
dân cư
Ngườ
i/km2
2.809 2.992 3.624 4.313 5.115
- Mật độ
cao nhất
“ 6.375 6.789 6.700 6.915 16.680
- Mật độ
thấp nhất
“ 1.278 1.361 1.682 2.016 1.592
( nguồn: Niên giám thống kê huyện Bình Chánh cũ. Phòng thống kê quận
Bình Tân )
10 Tân Tạo A 1,172 18.661 1.592
( nguồn: phong thống kê quận Bình Tân )
Trên địa bàn quận Bình Tân có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, trong đó
chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 91.27% so với tổng dân số, dân tộc Hoa chiếm
8,45% còn lại là các dân Tộc Khơme, Chăm, Tày, Thái, Mường, người nước
ngoài.
Tôn giáo có Phật Giáo, Công Giáo, Tinh Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi
Giáo…trong đó Phật Giáo, Công Giáo chiếm 27,26% trong tổng số dân cư
theo đạo.
Hoạt động kinh tế:
Tăng trưởng và cơ cấu:
Trang 13
Tổng giá trị sản xuất (GTSX) các ngành kinh tế trên địa bàn quận năm 2003
đạt 6034.6 tỷ đồng so với năm 2002 tăng 39.2%. Tính chung giai đoan 2001-
2003, GTSX trên địa bàn quận Bình Tân tăng so với tốc độ bình quân là
49.4% năm. Đây là một tăng trưởng rất cao so với các quận, huyện khác trên
địa bàn thành phố .
BẢNG 4: TỔNG GIÁ TRỊ SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN
(giá so sánh 1994)
Chủ tiêu 2001 2002 2003
Tốc độ tăng
bình quân
2001-
2003(%)
Tổng GTSX trên địa bàn 2.702,1 436,2 6.034,6 49,4
I. Phân theo khu vực
1. Nông nghiệp, thuỷ sản 38,1 36,2 35,7 -3,2
2. Công nghiệp- xây dựng 2.474 4.020 5.578,9 50,2
3. Thương mại- dịch vụ 190 280 420 48,7
II. Phân theo thành phần kinh tế
301.609 360.588 498.548
4.Doanh nghiệp tư
nhân
45.653 49.477 71.235
5.Hộ cá thể 201.237 273.949 361.200
6.Có vốn đầu tư nước
ngoài
1.512.000 2.632.000 3.460.800
II.Tốc độ tăng
Tổng số (%) 61,31 32,65 46,28
Chia theo cấp quản lí
1.Nhà nước 28,57 47,90 37,90
2.Ngoài nhà nước 30,33 34,99 32,64
3.Có vốn đầu tư nước
ngoài
74,07 31,49 51,29
Chia theo thành phần kinh tế
1.Doanh nghiệp nhà
nước
28,57 47,90 37,90
2.Công ty cổ phần 3.541,18 11,13 536,12
3.Công ty trách nhiệm
hữu hạn
19,55 38,26 28,57
4.Doanh nghiệp tư
nhân
8,38 43,98 24,91
Trang 15
5.Hộ cá thể 36,13 31,85 33,97
6.Có vốn đầu tư nước
quân là 3.0 %/năm, trong khi đó ngành trồng trọt giảm đến 17.9 %/năm.
Giao thông vận tải:
Trên địa bàn quận Bình Tân có một hệ thống giao thông thuỷ và bộ khá thuận
tiện, nhiều trục lộ chính nối liền giữa quận Bình Tân nói riêng và thành phố
Hồ Chí Minh nói chung với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Mạng lưới
giao thông quốc gia- nội quận có các trục chính sau:
Quốc lộ 1A theo hướng Bắc- Nam.
Tỉnh lộ 10 theo hướng Đông- Tây.
Ngoài ra quận Bình Tân còn có những đường liên khu vực, khu vưc và đường
nội bộ.
Đường bộ:
Tổng số tuyến đường trên địa bàn quận Bình Tân là 228 tuyến đường, tổng
chiều dài 177,121 km và tổng số hẻm là 186 hẻm, tổng chiều dài là 40,950
km.
Mật độ mạng lưới đường bộ quận Bình Tân là 3.14 km/km2.
Nhìn chung: mạng lưới giao thông trên địa bàn quận Bình Tân còn yếu. Phần
lớn các tuyến đường đang xuống cấp, nhất là vào mùa mưa, tình trạng ngập
nước trên đường giao thông xảy ra thường xuyên. Đường quốc lộ 1A ngang
qua khu công nghiệp Tân Tạo Và Pou-Chen là một ví dụ, hầu hết quãng
đường này đều có những “ổ gà” rất lớn, gây trở ngại không chỉ cho người dân
tham gia giao thông trên đường mà còn ảnh hưởng đến công việc kinh doanh
của các doanh nghiệp trên địa bàn. Tỉnh lộ 10, đường Tên lửa, Hương lộ 2…
cũng có tình trạng tương tự.
Trang 17
Những đường giao thông do quận và phường quản lí cũng đang xuống cấp
nhất là đường hẻm trong khu dân cư hiện hữu. Phần lớn các đường hẻm này
có chiều rộng hẹp và cũng thường xuyên bị ngập nước vào mùa mưa. Việc
xây dựng tràn lan không theo quy hoạch đã ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng
mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn quận. Ngay trên phường An Lạc
chỉ có 22.4% các đường hẻm do quận và phường quản lí được đánh giá là tốt,
CHƯƠNG III. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT ĐỊA CHẤT THUỶ
VĂN
I . LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT:
1. Trước năm 1975:
Năm 1883, Pháp thành lập sở địa chất Đông Dương nhưng đến năm 1895-
1960 Pháp bắt đầu nghiên cứu đồng bằng sông Cửu Long (với hai tác giả lỗi
lạc là J.Fromaget và E. Saurin) và cho ra đời một số mặt cắt dọc sông Đà,
sông Mã, sông Mêkông… đồng thời cho ra đời bộ bản đồ địa chất Đông
Dương tỷ lệ 1:1.000.000 và 1:500.000 và được ấn hành năm 1950.
Năm 1960, bắt đầu có sự đóng góp của các nhà địa chất Việt Nam.
Năm 1962, E.Saurin và Tạ Trần Tấn đã lập cột địa tầng vùng Châu Thới –
Biên Hòa – Sài Gòn.
Năm 1965, Nguyễn Văn Vân đã nghiên cứu và cho ra đời bài “Thềm phù sa
Sài Gòn – Chợ Lớn”.
Trang 19
Năm 1966, Trần Kim Thạch phát họa nét kiến tạo ở vùng hạ lưu sông Đồng
Nai và Lê Quang Tiếp xác định nét cơ bản địa tầng kiến tạo và mô tả trầm
tích, kiến trúc của trầm tích hạ lưu sông Đồng Nai.
Năm 1971, H.Fontane và Hoàng Thị Thân vẽ tờ bản đồ Sài Gòn – Thủ Đức -
Biên Hòa – Phú Cường – Nhà Bè, tỷ lệ 1:25.000 kèm theo thuyết minh.
Năm 1974, H.Fontane phát họa sơ lược về đứt gãy và lịch sử phát triển địa
chất vùng Biên Hòa.
2. Sau năm 1975:
Năm 1975, Trần Kim Thạch cho sản xuất bản đồ địa chất Miền Nam tỷ lệ
1:2.000.000 nhưng chưa chi tiết và hệ thống. Cùng năm này Hồ Chín, Võ
Đình Ngộ với báo cáo “ Những kết quả nghiên cứu mới về địa chất kỉ thứ tư
của đồng bằng sông Cửu Long”.
Năm 1977, Trần Kim Thạch hoàn thành tờ bản đồ địa chất kỉ thứ tư của đồng
bằng sông Cửu Long tỉ lệ 1:250.000. Nguyễn Hữu Phước “Trầm tích phù sa ở
vùng hạ lưu sông Đồng Nai”, Phạm Hùng “ Các trầm tích trẻ đồng bằng Tây
Năm 1982 Nguyễn Hoàng Bỉnh và Lê Văn Tốt (Sở thủy lợi) đã báo cáo về đặc
điểm nguồn nước ngầm khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Trần Kim Thạch,
Võ Ngọc Tùng và Đoàn 500N tham gia nghiên cứu, đánh giá trữ lượng, chất
lượng, nguồn cung cấp, hướng vận động và sự phân bố nước ngầm thành phố
Hồ Chí Minh.
Trang 21
Chương IV. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT
Khu vực Quận Bình Tân (Thành Phố Hồ Chí Minh) nằm ở phạm vi chuyển
tiếp giữa đới hoạt hoá Mezozoi (MZ) Đà Lạt ở phía Bắc và đới sụt võng
Kainozoi (KZ) Nam Bộ.
Tuy nhiên, vùng nghiên cứu chủ yếu nằm ở đới sụt võng Kainozoi nên cấu
trúc Kainozoi được thể hiện rõ hơn, các cấu trúc Mezozoi chỉ được phát hiện ở
một số công trình khoan đơn lẻ. Lịch sử nghiên cứu và cấu trúc địa chất khu
vực đã được thể hiện ở báo cáo Bản đồ Địa chất thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ
1/50.000 (Ma Công Cọ - 1987) và Báo cáo lập bản đồ địa chất thuỷ văn –
công trình vùng thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ 1/50.000 (Đoàn Văn Tín –
1988).
I. ĐỊA TẦNG KHU VỰC
1.Giới Kainozoi (KZ):
1.1 Hệ Neogen (N):
Trầm tích Neogen lộ ra rất ít ở ấp Hàm Luông (Thủ Đức) còn hầu như
chỉ gặp trong một số lỗ khoan.
a) Thống Miocene - bậc trên. Hệ tầng Bình Trưng (N13bt)
Các thành tạo của hệ tầng này gặp tại lõi khoan 820, phường Bình Trưng,
Quận 02. Mặt cắt lõi khoan từ dưới lên có thể chia thành ba tập như sau:
Tập 1: cát, sạn sỏi chứa các mảnh dăm gắn kết yếu bởi bột sét màu lục, phủ
bất chỉnh hợp lên đá andesitobasalt của hệ tầng Long Bình, dày 3,3 mét; phía
trên là sét bột kết có màu nâu, dày 0,5 mét.
Tập 2: cát bột kết màu xám, dày 7,6 mét.
Tập 3: sét bột kết màu xám, phân lớp mỏng (phân lớp từ 0,5 đến 4,0 cm) dày 8
châu thổ, có chế độ thủy động lực trung bình, biến động phức tạp, đồ thị
đường cong phân bố hạt có 2-3 đỉnh.
Tập 4: Bột sét pha cát màu xanh, sét bột phân lớp mỏng màu vàng nghệ, loang
lổ nâu đỏ, bề dày khoảng 2,6 - 7m. Thành phần cấp hạt cát sạn =20%,
bột=47%, sét =33%. Các thông số độ hạt khác cho thấy trầm tích chọn lọc
kém, phân bố lệch về phía hạt nhỏ, có chế độ thủy động lực kém nhưng xáo
động, đồ thị đường cong phân bố hạt có 4 đỉnh. Tập này bị hệ tầng Bà Miêu
tuổi Pliocen muộn phủ bất chỉnh hợp lên.
Bào tử phấn hoa thu thập được bao gồm các dạng như Polypodiacae gen. sp.,
Rhus sp., Phorbiaceae gen. sp., Betula sp., Cystopteris sp., Quercus sp.,
Ginkgo sp., Lygodium sp., Palmae gen. sp., Podocarpus sp. được Nguyễn Đức
Tùng xác định có tuổi Pliocen sớm. Tảo nước mặn gồm có các giống loài như
Cyclotella striata, Paralia sulcata, Schuettia annulata, Coscinodiscus sp.,
Thalassiosira sp., Thalassionema nitzschioides, Nitzschia cocconeiformis,
Coscinodiscus lineatus, Actinocyclus ohrenbergii, Hantzschia amphioxys
Được Đào Thị Miên xác định tuổi Pliocen. Tập 3 chứa các bào tử phấn hoa
như Picea, Pinus, Florschuetzia meridionalis cho tuổi Pliocen (Nguyễn Đức
Tùng); di tích trùng lỗ gồm các giống loài như Lagena aff. laevis,
Asterorotalia pulchella.
Theo hướng Đông Bắc-Tây Nam (từ Thủ Đức đến Bình Chánh), bề mặt nóc
của tầng Pliocene hạ chìm dần với dạng bậc thang từ độ sâu 80-86 mét ở khu
vực Bình Thạnh, Quận 9, 136-144 m ở khu vực nội thành, 140-142 mét ở khu
vực Bình Chánh, với chiều dày của loạt trầm tích này cũng thay đổi một cách
tương ứng là 43-68 mét, 100-128 mét và 118-180 mét. Trầm tích chuyển dần
từ cụm tướng đồng bằng tam giác châu sang cụm tướng tiền tam giác châu và
biển nông, tương ứng với kỳ biển tiến thời này.
c) Thống Pliocen – bậc trên. Hệ tầng Bà Miêu (N22bm):
Trang 24
Phân bố rộng rãi ở các khu vực miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Khu vực
Thành phố Hồ Chí Minh, hệ tầng thường bắt đầu bằng các trầm tích hạt thô