Quan trắc và đánh giá chất lượng nước sông Hương năm 2008 - Pdf 12

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA MÔI TRƯỜNG
----------
Báo cáo thực tập tốt nghiệp năm 2009: Sinh viên thực hiện:
LÊ THỊ TỊNH CHI
Lớp KHMT K29 (KHÓA 2005÷2009)
Huế, 2009
Báo cáo thực tập tốt nghiệp - 2009
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Sông Hương là hệ thống sông chính ở Thành phố Huế, có vai trò cực kỳ quan
trọng đối với người dân Thành phố Huế và các vùng phụ cận. Sông Hương là một
nguồn nước mặt quan trọng, cung cấp 75% khối lượng nước cho mọi hoạt động của đô
thị Huế, bao gồm cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông thuỷ,
du lịch trên thuyền.... đồng thời cũng là nơi tiếp nhận nước thải không qua xử lý từ các
hoạt động của đô thị Huế.
Trong những năm gần đây, do sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế ngày
càng mạnh mẽ, dẫn đến nhu cầu về nguồn nước cũng ngày càng tăng lên. Ngày càng có
nhiều công trình phục vụ cho công tác khai thác tài nguyên nước được xây dựng. Bên
cạnh đó với xu thế biến đổi bất lợi của thời tiết, sông Hương cũng phải thường xuyên
gánh chịu những tác động bất lợi từ thiên nhiên như: lũ lụt, hạn hán, xâm nhập
mặn,...Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho chất lượng nước sông Hương biến
chuyển theo chiều hướng xấu đi rất nhiều, về cả số lượng lẫn chất lượng.
Từ những lý do trên,tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quan trắc và đánh giá chất lượng
nước sông Hương năm 2008” nhằm tìm hiểu diễn biến của chất lượng nước Sông
Hương trong năm từ đó đánh giá hiệu quả của công tác giám sát và bảo vệ môi trường
nước sông Hương của Thành phố Huế.
Lê Thị Tịnh Chi

+ Tiến hành quan trắc tại chỗ, lấy mẫu và phân tích tại phòng thí nghiệm
II.2. TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG HƯƠNG
II.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành lưu vực sông Hương
* Vị trí địa lý.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển nằm ở Miền Trung Việt Nam, có toạ độ
16-16,8 vĩ độ Bắc và 107,8-108,2 kinh độ Đông. Phía Bắc Thừa Thiên Huế giáp Quảng
Trị, phía Nam giáp Thành phố Đà Nẵng, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Đông
giáp biển Đông.Thừa Thiên Huế có 8 huyện và thành phố Huế với 150 xã, phường, thị
trấn. Diện tích toàn tỉnh là 5.053,99km
2
, tổng dân số năm 2006 là 1.137.692 người.
Lê Thị Tịnh Chi
Lớp: Môi Trường K29
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp - 2009
Thành phố Huế có diện tích: 70.99 km
2
với 333.715 người dân (tính đến 31/12/2007) –
chiếm 1.4% về diện tích nhưng chiếm 24.1% về dân số toàn tỉnh[6].
* Chế độ khí hậu:
Cùng với các yếu tố ảnh hưởng khác, tác động của các hình thế thời tiết đặc biệt
như bão, áp thấp nhiệt đới, hội tụ nhiệt đới, gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam khô
nóng làm cho chế độ mưa ở Thừa Thiên Huế biến động mãnh liệt và phức tạp theo mùa.
Theo số liệu của trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn Thừa Thiên Huế lượng
bức xạ tổng cộng đo trong toàn tỉnh là 135,2Kcal/cm
2
. Trong đó lượng bức xạ thấp nhất
là tháng 1 (2,92 kcal/cm
2
) và cao nhất là tháng 5 hoặc tháng 6 (10,49kcal/m

Địa hình Thừa Thiên Huế nói chung và lưu vực sông Hương nói riêng chuyển
biến khá đột ngột từ khu vực núi trung bình – thấp, qua khu vực đồi gò, đồng bằng
duyên hải đến đầm phá. Hơn nữa, do địa hình đa dạng và bị chia cắt ngang mạnh nên độ
dốc mặt đất cao, chiều dài và diện tích lưu vực sông suối rất hạn chế.
Thời gian gần đây rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng và thảm thực vật rừng bị suy
kiệt, chất lượng mặt đệm kém, cùng với độ dốc mặt đất và đáy sông suối lớn, sông
ngắn, lưu vực hẹp là những yếu tố thúc đẩy nhanh quá trình tập trung nước, truyền lũ và
gây ra lũ quét nhiều nơi.
* Đặc điểm địa chất thủy văn
Hầu như toàn bộ lãnh thổ đồi núi được cấu tạo từ đá cứng chặt sít, ít nức nẻ và
chứa nước kém. Địa hình dốc, độ che phủ rừng thấp, đá cứng chứa nước kém làm giảm
lưu lượng nước tàng trữ trong đất đá, và hạn chế khả năng nước mưa ngấm xuống sâu
Lê Thị Tịnh Chi
Lớp: Môi Trường K29
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp - 2009
trong đất đá và tăng hệ số, lượng dòng chảy lũ hàng năm. Đặc biệt trong các tháng kiệt
(ứng với cực tiểu về mưa trong các tháng II, IV, VII) lưu lượng, vận tốc, mực nước các
sông suối thấp nhất, xâm nhập mặn lấn sâu nhất vào đồng bằng.
* Dân cư
Đoạn sông Hương từ ngã ba Tuần đến phá Tam Giang chảy qua 10 xã (gồm 36
thôn với hơn 112.000 người) và thành phố Huế (330.836 người năm 2006). Trong đó, có
khoảng 75% số dân là sinh sống ngay trên bờ sông. Đây là khu vực tập trung dân cư và
các hoạt động kinh tế chủ yếu của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ngành nghề chính của dân cư là sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
một phần nhỏ làm nghề ngư, khai thác cát sạn lòng sông.
* Các hoạt động kinh tế xã hội 2 bên bờ sông:
+ Các công trình kinh tế: Nhà máy xi măng Long Thọ, khách sạn Century, khách
sạn Hương Giang, khách sạn Công Đoàn, nhà máy bia Huda, Công ty xuất nhập khẩu
thuỷ hải sản Sông Hương...

thải sinh hoạt...Hoạt động du lịch bằng thuyền trên SH phát triển khá mạnh và tăng lên
hàng năm. Số lượng tăng lên: năm 2000 có 50 thuyền đến nay đã có gần 200 thuyền.
Lê Thị Tịnh Chi
Lớp: Môi Trường K29
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp - 2009
+ Sự phân bố dân cư và sản xuất nông nghiệp.
Ở 2 bên bờ sông đoạn xã Hương Hồ, Thuỷ Biều, Hương Vinh, Phú Mậu tập trung
dân cư với số lượng lớn là sản xuất nông nghiệp và khai thác bãi bồi ven sông.Trên hệ
thống sông Hương, hiện có 960 hộ dân đang sinh sống trên nhà thuyền[1], tập trung chủ
yếu ở nhánh sông Xước Dũ, nhánh sông Đông Ba, khu vực Cồn Hến và rải rác từ khu
vực Phú Bình về đến Địa Linh (trong đó,có khoảng 170 nhà thuyền trên nhánh sông
Xước Dũ và trên 150 nhà thuyền trên nhánh sông Đông Ba) với hoạt động kinh tế chủ
yếu là khai thác cát sạn, nuôi cá lồng và đánh bắt thuỷ sản. Việc sinh sống của bộ phận
dân ngày cũng góp phần không nhỏ vào việc làm giảm chất lượng nước sông.
II.2.2. Hình thái lưu vực sông Hương.
Hệ thống sông Hương có lưu vực dạng nan quạt với diện tích lưu lượng 2713km
2
chiếm 60% diện tích toàn tỉnh.Sông Hương bắt nguồn từ các dãy núi cao của dãy núi
Đông A Lưới thuộc Trường Sơn Bắc, trong đó, có hơn 80% là đồi núi, 5% là đồi cát ven
biển.
Hệ thống sông Hương gồm 3 nhánh chính là sông Bồ, sông Tả Trạch và sông
Hữu Trạch. Nhánh Tả Trạch chảy từ núi Vang và nhánh Hữu Trạch bắt đầu từ núi Ruy,
gặp nhau ở ngã ba Tuần (cách thành phố Huế 15km về phía Nam) tạo thành dòng chính
sông Hương, rồi hội lưu với sông Bồ (bắt đầu từ núi Động – Quảng Điền) ở ngã ba Sình
(cách Huế 8km về phía Bắc) và đổ vào phá Tam Giang theo hướng Đông Bắc và Đông
trước khi chảy ra biển ở cửa biển Thuận An. Ngoài các chi lưu tự nhiên, còn có các sông
đào nối với sông Hương, trong số đó có nhánh sông Đông Ba.
Dốc lòng sông bình quân 11.7m/km
2

và thuỷ triều bù cấp ở vùng đồng bằng duyên hải. Do lưu lượng dòng chảy từ thượng
lưu đổ về ít, địa hình thấp thoải, đáy sông vùng đồng bằng hạ lưu thấp hơn mực nước
biển nên thuỷ triểu dễ lấn sâu vào đồng bằng duyên hải tạo ra dòng chảy 2 chiều và xâm
nhập mặn.
II.3.CHƯƠNG TRÌNH QUAN TRẮC
II.3.1. Vị trí các điểm lấy mẫu
Điểm SH1: Nhánh sông Tả Trạch
Điểm SH2: Nhánh sông Hữu Trạch
Hai điểm này ở thượng nguồn của lưu vực sông Hương, môi trường nước ở hai
nhánh sông này chưa bị tác động của các yếu tố ô nhiễm do con người gây ra. Đây được
xem là điểm nền của môi trường nước sông Hương.
Điểm SH3: Ở ngă ba Tuần, điểm này là sự hòa nhập của hai nhánh Tả Trạch và
Hữu Trạch vào sông Hương trước khi chảy qua thành phố Huế nên chưa bị ảnh hưởng
của các hoạt động của người dân thành phố Huế.
Điểm SH4: Nơi phân thành nhánh sông Xước Dũ (trước khi qua Nhà máy xi
măng Long Thọ), khu vực này nhận nước thải sinh hoạt của bộ phận dân sống ven hai
bên bờ sông và các chất thải từ hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp của người dân. Đặc
biệt khu vực này còn bị ô nhiễm kim loại nặng từ hoạt động đúc đồng của người dân.
Điểm SH5: Ngay chợ Đông Ba đối diện với khách sạn Century, khu vực này là
nơi tiếp nhận chất thải trực tiếp từ chợ, từ các hoạt động du lịch, dịch vụ. Đồng thời đây
cũng lŕ nơi nhận nước thải của Bệnh viện Trung ương Huế và nước thải sinh hoạt của
người dân.
Điểm SH6: Ở nhánh sông Đông Ba, nước sông ở đây chịu ảnh hưởng đáng kể
của các chất thải từ chợ và nước thải sinh hoạt của người dân, đặc biệt là mọi chất thải
của các cư dân vạn đò đều được thải trực tiếp ra đây.
Điểm SH7: Ở đập La Ỷ, là khu vực tiếp nhận các chất thải của các hoạt động
công nghiệp, tiêu điểm là hai nhà máy lớn: Nhà máy bia Huda và công ty Hải sản Sông
Hương. Ngoài ra, đây cũng là nơi bị ảnh hưởng từ các chất thải sinh hoạt khá rõ.
Điểm SH8: Ở ngă ba Sình, vị trí này là nơi giao nhau của sông Hương và sông
Bồ trước khi chảy ra biển. Khu vực này là nơi tiếp nhận chủ yếu các loại chất thải từ các

0
32’34”8 16
0
27’00”4
SH5 Khu vực chợ Đông Ba 107
0
35’40”3 16
0
28’12”5
SH6 Nhánh sông Đông Ba 107
0
35’39”8 16
0
28’34”0
SH7 Đập La Ỷ 107
0
35’17”7 16
0
30’18”2
SH8 Ngã ba Sình 107
0
34’60”4 16
0
32’09”6
SH9 Đập Thảo Long 107
0
37’26”5 16
0
33’11”2
Hình 1: Sơ đồ vị trí các điểm quan trắc và lấy mẫu nước sông Hương năm 2008

(mg/l) Phương pháp acid Ascorbic(TCVN 6202 – 1996)
Cl
-
(mg/l) Phương pháp Morh ( TCVN 6194 – 1996)
Fe tổng (mg/l)
So màu với thuốc thử ophenoltrolin (TCVN 6177
– 1996)
Tổng coliform MNP/100ml TCVN 6167 - 1996
II.3.3.Tần suất quan trắc
Quan trắc định kỳ 1 lần/ quý (4 lần trong năm).
Cụ thể trong năm 2008 là 4 đợt vào các tháng II, tháng V, tháng VIII và tháng XI
II.3.4. Phương pháp và thiết bị lấy mẫu
+ Dạng mẫu: Mẫu hỗn hợp
+ Loại thiết bị lấy mẫu: Máy lấy mẫu nước sông kiểu ngang (COLE – PARMER,
U – 05488 – 20, Mỹ)
+ Phương pháp lấy mẫu: TCVN 5996 – 1995
+ Kỹ thuật bảo quản mẫu: TCVN 5993 – 1995
PHẦN III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
III.1. Độ pH
Lê Thị Tịnh Chi
Lớp: Môi Trường K29
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status