Khu hệ thực vật nổi và đánh giá chất lượng nước thông qua chỉ số sinh học của tảo ở sông rạch tỉnh bạc liêu - Pdf 71

KHU HỆ THỰC VẬT NỔI VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
THÔNG QUA CHỈ SỐ SINH HỌC CỦA TẢO Ở SÔNG RẠCH TỈNH BẠC LIÊU
THÁNG 4 NĂM 2006
I. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I.1. Công tác thực địa:
I.2. Trong phòng thí nghiệm:
Định loại và đếm số lượng của từng loài thực vật nổi có trong mẫu và quy ra số lượng tế bào
trong 1m
3
.
Từ kết quả phân tích, chúng tôi xác định các loài chiếm ưu thế và chỉ số đa dạng để đánh giá tính
chất môi trường nước ở các điểm thu mẫu thuộc các thủy vực khác nhau:
1. Chất lượng nước được đánh giá qua số lượng loài và số lượng tế bào tảo
Loại nước Độ bẩn Số lượng loài SL tảo x 10
6
tb/l
1 Rất sạch (Katarobe) >100 loài < 0,01
2 Sạch (Olygosaprobe) 150-100 0,01 – 0,05
3 Sơ nhiễm (Mesosaprobe) 100-70 0,1 – 0,5
4 Nhiễm bẩn (Mesopolysaprobe) 70-30 1,0 – 10
5 Bẩn (Polysaprobe1) 30-10 10 – 100
6 Rất bẩn (Polysaprobe 2) < 10-0 100 - 500
Theo Fefoldy Lajos trong Biological Vizminosites, 1980, Hungary
2. Chất lượng nước được đánh giá qua chỉ số đa dạng của tảo
- Chỉ số đa dạng Shannon - Wienner
N
ni
N
ni
n
i

Bảng 1: Cấu trúc thành phần loài
Stt Ngành Số loài Tỷ lệ (%)
1 Cyanophyta (Tảo Lam) 15 32
2 Bacillariophyta (Tảo Silic) 27 57
3 Chlorophyta (Tảo Lục) 1 2
4 Dinophyta (Tảo Giáp) 4 9
Tổng Số 47 100
Số lượng loài tại các điểm nghiên cứu thấp, dao động từ 8 – 15 loài, chúng hầu hết là những loài
tảo ít có giá trị dinh dưỡng với tôm, cá, thậm trí còn gây hại cho các loài nuôi thủy sản như: các
chi tảo lam dạng chuỗi Oscillatoria, Phormidium, Anabaena, các chi tảo bám thuộc ngành tảo
silic lông chim như Navicula, Pleurosigma, Nitschia. Các loài tảo trên tập trung trong các ao nuôi
là chủ yếu, chúng thích nghi với môi trường nước tĩnh và giàu dinh dưỡng, đặc biệt đối với các
loài thuộc ngành tảo lam, chúng dễ phát triển chiếm ưu thế và có thể lấn át các loài khác phát
triển, khiến độ đa dạng loài trong khu vực giảm đi.
Giữa các khu vực được nghiên cứu có số lượng loài biến thiên không lớn (Bảng 2):
- Khu vực sông chính có số lượng loài: từ 8 – 14 loài, trong đó khu vực cửa Gành Hào có số
lượng loài cao nhất (14 loài), cống Sư Son có số lượng loài thấp nhất (8 loài).
- Khu vực Kênh dẫn có số loài thấp nhất trong 3 khu vực nghiên cứu: 8-9 loài
- Khu vực ao có số lượng loài từ 8 – 15 loài, trong đó ao DVT có số loài cao nhất (15 loài), ao
NHB và ao NVD thấp nhất (8 loài).
- Các loài phân bố ở kênh dẫn đều có mặt ở các ao nuôi, số loài trong các ao nuôi cao hơn kênh
dẫn chủ yếu là các loài tảo lam ưa bẩn.
Tuy số lượng loài biến thiên không lớn giữa các khu vực, nhưng cấu trúc loài khác biệt nhau
tương đối rõ rệt:
- Khu vực sông chính có số loài tảo silic Trung tâm (Centrales) cao, số loài tảo lam và tảo silic
lông chim (Penales) phân bố ít hơn các khu vực khác.
- Khu vực ao nuôi có khu hệ tảo ngược lại với khu vực ngoài sông chính, thành phần loài tảo
lam, tảo silic lông chim cao hơn, tảo silic trung tâm ít hơn, thậm trí có ao hoàn toàn không có
mặt loài nào.
- Khu vực kênh dẫn: có khu hệ tảo tương tự với khu vực ao nuôi, (Phụ lục 1).

6 KNQ 9 5076 3000 59.1 Oscillatoria acuta 1.1 Ô nhiễm
7 KCC 10 20613 20160 97.8 Oscillatoria formosa 0.1 Rất ô nhiễm
8 K500 8 6478 6150 95.0 Oscillatoria subbrevis 0.3 Rất ô nhiễm
9 KCG 9 3376 3000 88.9 Oscillatoria acuta 0.6 Rất ô nhiễm
10 NVC 10 122281 74880 61.2 Oscillatoria formosa 1.0 Ô nhiễm
11 NHB 8 78690 41400 52.6 Oscillatoria acuta 0.7 Rất ô nhiễm
12 NMD 12 33552 13500 40.2 Oscillatoria subbrevis 1.3 Ô nhiễm
13 NVT 11 2510794 1359300 54.1 Oscillatoria acuta 1.0 Ô nhiễm
14 LMT 12 423176 401400 94.9 Oscillatoria formosa 0.3 Rất ô nhiễm
15 LVK 13 10931 7000 64.1 Oscillatoria formosa 1.1 Ô nhiễm
16 NVD 8 27702 21850 78.9 Oscillatoria acuta 0.7 Rất ô nhiễm
17 DVT 15 1563637 1058460 67.7 Oscillatoria acuta 0.7 Rất ô nhiễm
II.2. Chất lượng nước thông qua các chỉ số của tảo
Thông qua cấu trúc thành phần loài và số lượng tế bào tảo
• Dựa theo thang đánh giá chất lượng nước của Fefoldy Lajos 1980, Hungary, số lượng loài
tảo phát hiện thấy tại các điểm nghiên cứu rất thấp dao động 8-15 loài, rơi vào hai loại nước
5 (bẩn) và 6 (rất bẩn).
• Số lượng tế bào rơi vào các loại nước nhiễm bẩn và bẩn
Thông qua chỉ số đa dạng của tảo (Shannon – Wienner H’):
Chỉ số đa dạng biểu hiện mối tương quan giữa số lượng loài và số lượng tế bào, vì vậy khi điều
kiện ngoại cảnh thuận lợi thì số lượng loài cao, số lượng tế bào trong loài nhỏ, hệ số đa dạng cao,
ngược lại khi điều kiện môi trường không còn phù hợp thì số lượng của loài giảm, số lượng cá
thể tăng nhanh, lúc đó hệ số đa dạng có xu hướng giảm đi nhiều.
 Tại các điểm nghiên cứu độ đa dạng (H’) của tảo rất thấp dao động từ 0,1 – 2,0. Mặc dù số
lượng tảo không cao, nhưng số lượng loài rất thấp và số lượng tế bào của các loài chiếm ưu
thế quá cao (80-90%), đã dẫn đến hệ số đa dạng tại khu vực nghiên cứu thấp (Bảng 2).
Theo chỉ số đa dạng của tảo đã tính toán được và áp dụng theo thang điểm đánh giá chất lượng
nước của Henna & Rya Sunoko, 1995 cho thấy chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu rất kém,
có đến 10 điểm/17 điểm có chất lượng nước ở mức rất ô nhiễm (H’<1), còn lại là các điểm có
môi trường nước ở mức độ ô nhiễm (H’>1):

triển chiếm ưu thế hầu như là các loài thuộc một chi tảo lam ưa bẩn và nước tĩnh Oscillatoria.
Riêng hai cửa sông Gành Hào và Năm Căn có chất lượng nước tương đối khác biệt đối với các
điểm khác: biểu hiện ở loài phát triển chiếm ưu thế là các loài tảo silic và có chất lượng môi
trường sinh học tốt hơn cả (H’: 1,7-2,0).
Tp. HCM, ngày 21 tháng 09 năm 2006
Người thực hiện

Đỗ Thị Bích Lộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status