ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Thực phẩm là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu đối với sự sống của con
người. Trong quá trình phát triển kinh tế mạnh mẽ con người đã tạo ra nhiều
sản phẩm, vật chất tốt đặc biệt những sản phẩm về thực phẩm được chế biến
từ nguyên liệu là gạo như các loại bánh và một số đồ uống Điều đó là cơ sở
tạo nên một cuộc sống no đủ về dinh dưỡng cho mọi người, cho từng lứa tuổi.
Tuy nhiên, hiện nay thực phẩm mà do chính con người tạo ra lại có nhiều
thực phẩm không tốt có chứa nhiều hàm lượng kim loại nặng (KLN) như: As,
Zn, Pb, Ni, Cu, Ni, Cd, do các nguồn ô nhiễm từ sinh hoạt, công nghiệp,
nông nghiệp, khai khoáng, phát thải vào đất, nước và không khí theo dây
chuyền sẽ tích tụ lại và từ đó ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người tiêu
dùng.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa
gạo làm lương thực chính và có đến 70% khẩu phần ăn được chế biến từ gạo.
Gạo là nguồn thu nhập và cuộc sống của hàng triệu nông dân trên toàn thế
giới. Họ dùng khoảng 150 triệu hecta hàng năm để trồng lúa, với sản lượng
khoảng 600 triệu tấn. Nước ta có hai vùng trồng lúa chính là Đồng Bằng Sông
Hồng ở phía bắc và Đồng Bằng Sông Cửu Long ở phía Nam. Hàng năm sản
lượng của cả nước đạt 33 - 34 triệu tấn thóc, trong đó chỉ sử dụng khoảng 8
triệu tấn (tương đương 4 triệu tấn gạo sau khi xay xát) cho xuất khẩu, còn lại
là tiêu thụ trong nước và bổ sung dự trữ quốc gia.
Việt Nam có điều kiện thuận lợi về mặt địa hình, khí hậu và xuất phát từ
một nền nông nghiệp lâu đời. Điều đó giúp cho ngành lương thực Việt Nam
đạt nhiều thành công, đồng thời giải quyết việc làm cho người lao động cũng
như đóng góp vào kim nghạch xuất khẩu chung của cả nước, từng bước đưa
Zn
Đất Feralit
phát triể
n trên
đá bazan
TS
59,5
257,6
125091
1192
227,1
9,0
81,0
DĐ 0,46 <0,36 <0,83 55,5 0,96 <0,51 <0,51
Đất phù sa
vùng ĐBSCL
TS
6,1
30,8
17924
239
18,6
29,1
36,2
DĐ
0,52
<0,36
1,45
134,7
<0,57
2,6
9,3
11,6
DĐ <0,1 <0,36 <2,83 0,42 0,62 <0,51 <0,51
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
3
Đất phèn
TS
1,9
25,9
8823
26,0
12,4
23,4
21,4
DĐ
0,48
<0,36
19,8
14,5
1,14
<0,51
4,89
QCVN
03:2008
− − − − −
70 200
các tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang. Trong các tỉnh này
thì Long An và Tiền Giang là 2 tỉnh hiện đang có ngành công nghiệp hóa phát
triển mạnh mẽ, điều này dẫn tới các nguồn gây ô nhiễm nếu không được kiểm
soát chặt chẽ sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của người dân đồng
thời ảnh hưởng tới thực phẩm được trồng ở đây.
Do thời gian và kinh phí cho
quá trình nghiên cứu hạn hẹp không thể nghiên cứu được cả 2 tỉnh, nên đề tài
chỉ tập trung nghiên cứu hàm lượng KLN là As (có trong điều kiện tự nhiên)
và hàm lượng Pb, Cd (có trong điều kiện nhân tạo) và được nghiên cứu tại xã
Bình Xuân, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang thuộc ĐBSCL.
Đề tài “Nghiên cứu hàm lượng một số KLN trong gạo trên địa bàn tỉnh
Tiền Giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng” nhằm
đánh giá hiện trạng ô nhiễm KLN (As, Sb,Cd) trong một số loại gạo chính
đang sử dụng trên thị trường cụ thể là tại xã Bình Xuân, thị xã Gò Công, tỉnh
Tiền Giang (các loại giống lúa này được trồng ở ĐBSCL) và những ảnh
hưởng có thể có đến sức khỏe người tiêu dùng. Đề tài được thực hiện với hy
vọng làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý ra các
quyết định phù hợp, đồng thời cũng làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề được thực hiện với hai mục tiêu cụ thể sau:
Xác định hàm lượng tổng số của một số kim loại nặng (As, Cd, Pb) trong
gạo đang được tiêu dùng tại xã Bình Xuân, tỉnh Tiền Giang thuộc Đồng Bằng
Sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất cả nước.
Đánh giá rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe của các mẫu gạo khảo sát đối với
người tiêu dùng tại xã Bình Xuân, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
4. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài triển khai thực hiện các nội dung sau:
- Nội dung 1: Tổng hợp, biên hội các tài liệu liên quan
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
6
- Lấy kết quả từ phiếu khảo sát để tính toán sự ảnh hưởng của chúng
đến sức khỏe người tiêu dùng.
• So sánh Kết quả mẫu phân tích với tiêu chuẩn quy định về hàm lượng
KLN trong thực phẩm (gạo) để xem có mẫu nào bị thôi nhiễm về KLN
không?
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Sơ đồ nghiên cứu
Hình 0.1: Sơ đồ trình tự nghiên cứu
Giải thích sơ đồ: Để tiến hành nghiên cứu thì trước hết phải tìm hiểu về
vấn đề nghiên cứu bằng cách tìm và tổng hợp các tài liệu liên quan. Sau đó đi
điều tra tên và sản phẩm gạo trên thị trường (có mấy loại gạo, nguồn gốc xuât
khảo sát và kết quả phân tích thì tiến hành đánh giá rủi ro ảnh hưởng người
tiêu dùng, cuối cùng đưa ra nhận xét và kết luận chung cho quá trình nghiên
cứu.
5.2. Phương pháp cụ thể
• Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham
gia của người dân (PRA) để thu thập thông tin (về kinh tế hộ, liều lượng,
nguồn gốc và cách thức sử dụng thực phẩm, ). 20 hộ dân được phỏng vấn,
thu thập thông tin (các hộ dân này đều sử dụng gạo của Đồng Bằng Sông
Cửu Long).Trong 30 phiếu khảo sát thì có 8 phiếu sử dụng gạo 504; 5 phiếu
gạo Jacmine; 5 phiếu gạo Đài Loan; 6 phiếu gạo 64; 3 phiếu Nàng Thơm; 2
phiếu gạo Tài Nguyên Sữa; 3 phiếu gạo Hương Lài.
• Phương pháp thu thập và xử lý mẫu
Tổng số có 4 vị trí lấy mẫu được chọn ngẫu nhiên bao gồm 40 mẫu (10
loại gạo). Các mẫu được chuyển về phòng thí nghiệm và được bảo quản trong
túi nylông (PE) trong điều kiện mát.
• Phân tích KLN trong gạo
Mẫu gạo được công phá bằng dung dịch HNO
3
đặc (65%) với tỷ lệ chiết
rút 2:15 (2 g gạo: 15 ml HNO
3
đặc); dung dịch sau khi công phá được định
mức, lọc qua giấy lọc băng xanh và sử dụng để xác định hàm lượng As trên
thiết bị HG – AAS, xác định hàm lượng Cd, Pb trên thiết bị ICP - MS.
• Phương pháp đánh giá rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe của các mẫu gạo
khảo sát đối với người tiêu dùng.
Nhằm đánh giá rủi ro ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng
Cụ thể các phương pháp được trình bày ở chương 2.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
trắng trong, cho cơm dẻo mềm, ngọt cơm, mùi thơm đặc trưng.
o Jasmine 85:
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
9
Lúa Thơm Jasmine là giống lúa ngắn ngày được trồng chủ yếu ở vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long. Hạt gạo Thơm Jasmine có kích thước lớn,
dài, màu trắng trong, cho cơm dẻo, thơm nhẹ, cơm vẫn dẻo khi để
nguội
o Hương Lài:
- Gạo Hương Lài trong
Thơm Lài cũng là giống lúa mùa được trồng nhiều ở vùng Cần Đước,
Long An. Hạt gạo Hương Lài trong có màu trắng trong, dài hạt, cơm
dẻo, mềm, ngọt cơm. Hạt gạo to, có mùi hương hoa lài. Đặc biệt tỏa
mùi rất thơm khi nấu. Cơm vẫn thơm và dẻo khi nguội.
- Gạo Hương Lài sữa
Thơm Lài cũng là giống lúa mùa được trồng nhiều ở vùng Cần Đước,
Long An. Hạt gạo Hương Lài sữa có màu trắng trong, dài hạt, cơm
dẻo, mềm, ngọt cơm. Hạt gạo nhỏ, có mùi hương hoa lài. Đặc biệt tỏa
mùi rất thơm khi nấu. Gạo thơm lài rất thích hợp với người lớn tuổi,
thanh thiếu niên thích gạo dẻo. Cơm vẫn thơm và dẻo khi nguội.
o Nàng Thơm Chợ Đào:
Nàng Thơm là giống lúa mùa nổi tiếng của vùng Long An, mỗi vụ lúa
Nàng Thơm kéo dài 6 tháng và mỗi năm chỉ trồng được một vụ. Hạt
gạo Nàng Thơm này màu hơi ngà ngà và ngay khi chưa nấu ngửi cũng
đã có mùi thơm. Ở giữa hột gạo đã chà xát có ẩn một vết đục nhẹ. Ðể
trong bao nylon đến 4, 5 tháng sau gạo còn thơm. Nhưng có lẽ vì gạo
có một chất dầu nên không để lâu được vì đến khoảng 10 tháng là ăn
mất ngon. Ðiểm đặc biệt hơn nữa là khi nấu chín, hột gạo bóng mượt
UBND xã Bình Xuân về tình trạng ô nhiễm kim loại nặng (KLN) trong gạo
(nếu có) từ đó xã có thể có giải pháp hợp lý để xử lý chất thải, vệ sinh môi
trường và cải tạo đất trồng…
- Nâng cao nhận thức cho những người trực tiếp có liên quan đến sản
xuất lúa của địa phương, cũng như tăng thêm vốn hiểu biết về phòng ngừa ô
nhiễm môi trường trong các hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của
nhân dân.
- Góp phần tích cực vào việc bảo vệ cộng đồng.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
11
- Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đất cho xã Bình Xuân nói riêng và
cho tỉnh Tiền Giang nói chung, để thực hiện đúng chỉ thị và quy chế quản lý
và cải tạo đất nông nghiệp và áp dụng quy trình GAP trong việc trồng lúa để
hạt gạo đạt được yêu cầu về chất lượng phục vụ cho việc xuất khẩu vẫn dữ
được vị trí số 1 trên thế giới đồng thời đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng.
- Cung cấp các dữ liệu cơ bản cho các nghiên cứu tiếp theo.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
12
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Kim loại nặng và nguồn gốc phát sinh KLN trong thực phẩm
Thuật ngữ KLN nhằm nói tới bất cứ một nguyên tố nào có khối lượng
riêng lớn (d > 5 g/cm
3
) và thể hiện độc tính ở nồng độ thấp. Tuy nhiên, độ độc
của KLN còn phụ vào nồng độ của từng chất.
Kim loại nặng ban đầu một phần được sinh ra từ các quá trình hoạt động
+ Nguồn từ đô thị và khu công nghiệp, bao gồm chất thải, thiêu huỷ
cây trồng : Cd, Cu, Pb, Sn, Hg, V.
+ Công nghiệp luyện kim: As, Cd, Cr, Cu, Mn, Ni, Pb
+ Khói linh động: Mo, Pb cùng với Br, Cl và V
+ Đốt cháy xăng, dầu (bao gồm các trạm xăng): As, Pb, Sb, Se, U, V,
Zn và Cd
- Kim loại từ rác thải
+ Bùn cặn: Cd, Cr, Cu, Hg, Mn, Mo, Ni, Pb, V, Zn
+ Rửa trôi từ đất: As, Cd, Fe, Pb
+ Phế thải: Cd, Cr, Cu, Pb, Zn
+ Đốt rác, bụi than: Cu và Pb
Các dạng tồn tại đó của KLN đều đi sâu vào đất nông nghiệp làm ảnh
hưởng tới cây trồng.
1.2. Ảnh hưởng của KLN tới sức khỏe con người
Ngày nay, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và hình thành
nhiều thành phố lớn, vấn đề ô nhiễm ngày càng trở nên nghiêm trọng. Khói từ
nhà máy, từ hoạt động giao thông làm ô nhiễm bầu khí quyển. Nước thải từ
các nhà máy, khu dân cư làm ô nhiễm nguồn nước. Phế thải từ các khu công
nghiệp, các làng nghề và việc sử dụng phân bón hoá học, bùn thải, thuốc bảo
vệ thực vật trong nông nghiệp làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn tài nguyên
đất. Tất cả những nguồn gây ô nhiễm này đều là nguyên nhân của sự tích tụ
quá mức hàm lượng KLN trong đất và nước.
Với sự tích tụ quá mức lượng KLN trong môi trường đất đã làm cho thảm
thực vật trên mặt đất bị mất đi, nhiều loài không thể sống được ở những vùng
đất chứa lượng KLN quá cao. Đất giảm lượng tích luỹ mùn và trở nên chặt
hơn, nghèo dinh dưỡng hơn. Những cây có thể mọc được ở những vùng đất
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
14
kìm hãm sự chuyển hoá vitamin D.
- Tiêu chuẩn tối đa cho phép theo QCVN 8-2:2011/BYT nồng độ chì
trong thực phẩm: 0,025 mg/kg theo thể trọng từng người. ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
15
Tính độc của Thuỷ ngân (Hg)
- Thuỷ ngân (Hg): tính độc phụ thuộc vào dạng hoá học của nó. Thuỷ ngân
nguyên tố tương đối trơ, không độc. Nếu nuốt phải thuỷ ngân kim loại thì sau
đó sẽ được thải ra mà không gây hậu quả nghiêm trọng. Nhưng thuỷ ngân dễ
bay hơi ở nhiệt độ thường nên nếu hít phải sẽ rất độc. Thuỷ ngân có khả năng
phản ứng với axit amin chứa lưu huỳnh, các hemoglobin, abumin; có khả
năng liên kết màng tế bào, làm thay đổi hàm lượng kali, thay đổi cân bằng
axit bazơ của các mô, làm thiếu hụt năng lượng cung cấp cho tế bào thần
kinh. Trẻ em bị ngộ độc thuỷ ngân sẽ bị phân liệt, co giật không chủ động.
Trong nước, metyl thủy ngân là dạng độc nhất, nó làm phân liệt nhiễm sắc thể
và ngăn cản quá trình phân chia tế bào.
- Thuỷ ngân đưa vào môi trường từ các chất thải, bụi khói của các nhà
máy luyện kim, sản xuất đèn huỳnh quang, nhiệt kế, thuốc bảo vệ thực vật,
bột giấy…
- Tiêu chuẩn tối đa cho phép theo QCVN 8-2:2011/BYT nồng độ thủy
ngân trong thực phẩm: ≤ 0,005 mg/kg theo thể trọng từng người.
Tính độc của Crom (Cr)
Crom (Cr): tồn tại trong nước với 2 dạng Cr (III), Cr (VI). Cr (III) không
độc nhưng Cr (VI) độc đối với động thực vật. Với người Cr (VI) gây loét dạ
dày, ruột non, viêm gan, viêm thận, ung thư phổi.
Tính độc của Mangan (Mn)
Tính độc của Arsenic (As)
Arsen là kim loại có thể tồn tại ở dạng tổng hợp chất vô cơ và hữu cơ.
Trong tự nhiên tồn tại trong các khoáng chất. Nồng độ thấp thì kích thích sinh
trưởng, nồng độ cao gây độc cho động thực vật.
- Nguồn tự nhiên gây ô nhiễm Arsen là núi lửa, bụi đại dương. Nguồn
nhân tạo gây ô nhiễm Arsen là quá trình nung chảy đồng, chì, kẽm, luyện
thép, đốt rừng, sử dụng thuốc trừ sâu…
- Arsen có thể gây ra 19 căn bệnh khác nhau. Các ảnh hưởng chính đối
với sức khoẻ con người: làm keo tụ protein do tạo phức với Arsen III và phá
huỷ quá trình photpho hoá; gây ung thư tiểu mô da, phổi, phế quản, xoang…
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
17
- Tiêu chuẩn tối đa cho phép theo QCVN 8-2:2011/BYT nồng độ
Arsenic trong thực phẩm: ≤ 0,015 mg/kg theo thể trọng từng người.
Tính độc của Cadmium (Cd)
Cd trong môi trường thường không độc hại nhiều nhưng nguy hại chính
đối với sức khoẻ con người từ Cd là: sự tích tụ mãn tính của nó ở trong thận.
Ở đây, nó có thể gây ra rối loạn chức năng nếu tập trung ở trong thận lên trên
200 mg/kg trọng lượng tươi. Thức ăn là con đường chính mà Cd đi vào cơ
thể, nhưng việc hút thuốc lá cũng là nguồn ô nhiễm KLN, những người hút
thuốc lá có thể thấm vào cơ thể lượng Cd dư thừa từ 20 – 35 μgCd/ngày.
Cd đã được tìm thấy trong Protein mà thường ở trong các khối của cơ thể
và những Protein này có thể tìm thấy trong nấm, đậu nành, lúa mì, cải bắp và
trong một số loại thực vật khác. Cd là một KLN có hại, nó vào cơ thể qua
thực phẩm và nước uống, Cd dễ dàng chuyển từ đất lên rau xanh và bám chặt
ở đó. Cadimi xâm nhập vào cơ thể được tích tụ ở thận và xương; gây nhiễu
hoạt động của một số enzim, gây tăng huyết áp, ung thư phổi, thủng vách
ngăn mũi, làm rối loạn chức năng thận, phá huỷ tuỷ xương, gây ảnh hưởng
44
Cu
190
2,600
Pb
59
20,000
Mn
6,100
3,200
Hg
0,4
110
Mo
11
510
Ni
280
980
Se
4,1
140
Ag
0,6
50
Sn
52
430
V
650
21
57
0,05
Bắc Giang
Đá vôi
Cây ăn quả
16
19
32
0,07
Sơn La
Đá vôi
Cây ăn quả
58
27
144
0,04
Ninh Bình
Đá vôi
Mía
106
33
153
0,02
Nghệ An
Đá bazan
Cao su
47
24
159
nghiệp, thường bao gồm những khâu chính sau: làm đất, chọn thóc giống,
gieo hạt, ươm mạ, cấy, chăm bón (bón phân, đổ nước), gặt và xay xát.
Việt Nam được thiên nhiên ban tặng cho những vùng đồng bằng đất đai
màu mỡ, người nông dân có kinh nghiệm trong khai thác, chăm sóc và phát
triển các giống lúa nước, loại cây lương thực chính nuôi sống loài người.
Hình 1.1: Gạo Hương Lài và lúa gạo Thơm Đài Loan
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
20 Hình 1.2: Các sản phẩm và phế phẩm được sản xuất từ trồng lúa
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
21
Theo sử liệu mà các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, khảo cổ học đã tìm
thấy và chứng minh thì Việt Nam là một trong những nơi khởi thủy trồng cây
lúa nước ở Đông Nam Á, có niên đại cách nay từ 10.000 - 12.000 năm. Năm
1890, Việt Nam đã có tên trên bản đồ xuất khẩu gạo của thế giới, năm 1913
miền Hậu Giang đã xuất khẩu gạo ra thế giới. Cây lúa Việt Nam gắn liền với
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nhờ lúa gạo, dân tộc
Việt Nam đã đấu tranh, bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Và lúa gạo đã góp phần
đưa Việt Nam vươn lên và từng bước hội nhập với thế giới. Trong 22 năm
qua, Việt Nam xuất khẩu trên 75 triệu tấn gạo, trị giá 23 tỷ USD.
Bảng 1.3: Giá trị dinh dưỡng của lúa gạo tính theo % chất khô so với một số
cây lấy hạt khác
Hàm lượng
loại hạt
12,7
3,2
1,5
1,6
9,9
Kª
59,0
11,3
3,8
8,9
3,6
13,0
Tinh bột: Hàm lượng tinh bột 62,4%. Là nguồn chủ yếu cung cấp calo. Giá
trị nhiệt lượng của lúa là 3594 calo. Tinh bột được cấu tạo bởi Amylose và
amylopectin. Amylose có cấu tạo mạch thẳng và có nhiều ở gạo tẻ.
Amylopectin có cấu tạo mạch ngang và có nhiều ở gạo nếp.
Protêin: Các giống lúa Việt Nam có hàm lượng Protêin chủ yếu trong
khoảng 7- 8%. Các giống lúa Nếp có hàm lượng prôtêin cao hơn lúa tẻ.
Lipit: Chủ yếu ở lớp vỏ gạo. Nếu ở gạo xay là 2,02% thì ở gạo đã xát chỉ
còn 0,52%.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
22
Vitamin: Trong lúa gạo còn có 1số vitamin nhất là vitamin nhóm B như
B1, B2, B6, PP lượng vitamin B1 là 0,45 mg /100 hạt ( trong đó ở phôi 47
%, vỏ cám 34,5 %, hạt gạo 3,8%).
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là bộ chủ quản, quản lý việc sản
xuất lúa gạo của Việt Nam.
đối SL
gạo
thực và
sử
dụng
(tr.tấn)
Chỉ số
cân đối
Cả nước
ĐB sông Hồng
Bắc Bộ
Bắc Trung Bộ
Cao Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐBSCL
39,08
6,94
3,05
6,25
0,99
1,33
20,52
25,79
4,58
2,01
4,13
0,65
0,88
13,54
4,66
1,18
0,72
0,37
3,33
Chú thích: (1) Gạo = 66%*lúa; (2) Thất thoát lúa trên đồng 9,8%+ Thất
thoát sau xay xát 9,83%
(3) = (1) – (2); (4) Giống & chăn nuôi 6.6% + tiêu dùng (dân số*135kg)
+ tiêu dùng công nghiệp 2%
Nông dân trồng lúa vùng ĐBSCL đã và đang trồng 47 giống lúa khác nhau
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
23
và đang thử nghiệm 9 loại giống mới (Nguyễn Công Thành, 2010), trong đó
có một số giống có chất lượng cao nhưng cũng có nhiều loại giống có chất
lượng gạo trung bình và thấp, ví dụ như giống IR50404 trong sản xuất vụ Hè
Thu năm 2009 có chất lượng thấp, khó tiêu thụ ở nội địa và xuất khẩu. Việt
Nam tham gia vào thị trường gạo thế giới với khối lượng giao dịch lớn và tập
trung vào những mùa vụ cụ thể trong năm, điều này ít nhiều làm thay đổi
cung và tác động lớn đến giá gạo thị trường thế giới. Hơn nữa, ảnh hưởng của
thời tiết, khí hậu, kết quả vụ mùa cũng như chu kỳ nhập khẩu của một số quốc
gia như Indonesia, Phillipines sẽ làm biến động giá và lượng của thị trường
lúa gạo. Việc điều hành xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện nay chủ yếu qua
Chính phủ.
Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 quy định định hướng điều
hành xuất khẩu gạo: “Bộ Thương mại phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn.
Uỷ ban nhân dân các tỉnh có sản lượng lúa hàng hoá lớn và Hiệp hội lương
thực Việt Nam (VFA) điều hành việc xuất khẩu gạo hàng năm theo nguyên
tắc bảo đảm về an ninh lương thực; tiêu thụ hết lúa hàng hoá và bảo đảm giá
đầu.
Giống:
• Cầu lớn hơn cung
• Ít cơ sở sản xuất tập trung
(trungtâm giống của các tỉnh hay
trung tâm khuyến nông (57,1%);
Viện, trường đại học (42,9%) và
các công ty hay cơ sở kinh doanh
lúa giống khác.
Đầu
vào
Vật tư đầu vào:
• Bán chịu cho nông dân nhiều, chậm
và khó thu hồi vốn (78,57%)
• Thiếu vốn kinh doanh
• Kênh mương cạn, vận chuyển khó
khăn
• Cạnh tranh cao
Giống:
• Thiếu lò sấy, sân phơi, máy tách hạt.
• Lúa giống sản xuất ra không phù
hợp với điều kiện sản xuất tại địa
phương nên khó tiêu thụ.
• Đánh giá nhu cầu thị trường chưa
chính xác thị trường dẫn đến sản xuất
không đáp ứng được nhu cầu
• Số lượng và chất lượng giống không
ổn định
• Giá bán không ổn định, phụ thuộc
• Bán thông qua “Cò lúa”
• Không kiểm soát được chất lượng
đầu vào
• Có uy tín, có mối quen
• Được công ty hỗ trợ vốn
• Biết được thông tin về giá cả thị
trường một cách thường xuyên
• Có sẵn nguồn vốn từ gia đình
• Giao thông thuận lợi
• Nhiều nguồn đầu vào đầu ra
• Giá cả biến động thất thường
• Cạnh tranh giữa các thương lái
• Thiếu kho chứa để dự trữ lúa
• Thiếu vốn trong mua bán lúa.
• Không đăng ký kinh doanh nên
không được hỗ trợ khi vay vốn trong
kinh doanh.
• Lợi nhuận thấp