Nghiên cứu, đánh giá mức độ tích lũy một số kim loại nặng as, hg, pb trong trầm tích và ngao vùng ven biển tỉnh thái bình - Pdf 47

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TÍCH LŨY MỘT SỐ
KIM LOẠI NẶNG As, Hg, Pb TRONG TRẦM TÍCH VÀ
NGAO VÙNG VEN BIỂN TỈNH THÁI BÌNH

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

CAO THỊ HẢO

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TÍCH LŨY MỘT SỐ
KIM LOẠI NẶNG As, Hg, Pb TRONG TRẦM TÍCH VÀ
NGAO VÙNG VEN BIỂN TỈNH THÁI BÌNH

CAO THỊ HẢO
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60440301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. DƯƠNG THỊ LỊM
TS. MAI VĂN TIẾN

HÀ NỘI, NĂM 2017


2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................33

i


2.2. Địa điểm nghiên cứu ..........................................................................................33
2.3. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................35
2.3.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu .......................................................35
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa .........................................................35
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ..........................................37
2.3.4. Phương pháp phân tích số liệu ........................................................................40
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................................44
3.1. Hiện trạng một số kim loại nặng As, Hg, Pb trong trầm tích vùng ven biển tỉnh
Thái Bình ...................................................................................................................44
3.2. Mức độ tích lũy một số kim loại nặng As, Hg,Pb trong trầm tích và ngao vùng
ven biển tỉnh Thái Bình .............................................................................................48
3.2.1. Mức độ tích lũy một số kim loại nặng As, Hg, Pb trong trầm tích .................48
3.2.2. Mức độ tích lũy một số kim loại nặng As, Hg, Pb trong ngao .......................54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................59
I. KẾT LUẬN............................................................................................................59
II. KIẾN NGHỊ..........................................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................60
PHỤ LỤC

ii


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công


Cao Thị Hảo

iv


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt

Tiếng Việt

AAS (Atomic Absorption
Spectroscopy)

Phổ hấp thụ nguyên tử
Phổ phát xạ nguyên tử

AES (Atomic Emission
Spectroscopy)
BCR (The Commission of the
European Communities Bureau of
Reference)

Ủy ban tham chiếu cộng đồng
Châu Âu

F-AAS (Flame Atomic Absorption
Spectroscopy)

Phổ hấp thụ nguyên tử - ngọn


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Kết quả hoạt động nuôi ngao tỉnh Thái Bình giai đoạn 2008 - 2012. ........8
Bảng 1.2. Tải lượng chất ô nhiễm qua hai cửa sông Cấm - Bạch Đằng ...................10
và Ba Lạt (tấn) ...........................................................................................................10
Bảng 1.3. Khả năng một số kim loại nặng As, Hg, Pb trong vùng cửa sông Cấm Bạch Đằng và Ba Lạt ................................................................................................11
Bảng 1.4. Nguồn thải một số kim loại của một số ngành công nghiệp phổ biến......18
Bảng 1.5. Tỷ lệ sử dụng thủy ngân trong một số ngành kỹ thuật .............................22
Bảng 2.1. Tọa độ vị trí điểm lấy mẫu........................................................................35
Bảng 2.2. Giá trị giới hạn của As, Pb, Hg trong trầm tích theo QCVN
43:2012/BTNMT.......................................................................................................41
Bảng 2.3. Giá trị giới hạn của As, Pb, Hg theo hướng dẫn chất lượng trầm tích của
Canada năm 2002 ......................................................................................................41
Bảng 2.4. Phân loại mức độ ô nhiễm dựa vào chỉ số Igeo[11]....................................42
Bảng 2.5. Phân loại các mức độ làm giàu kim loại theo EF [11]. ............................43
Bảng 3.1. Hàm lượng một số kim loại nặng As, Hg, Pb trong trầm tích tại một số
khu vực ven biển .......................................................................................................47
Bảng 3.2. Mức độ tích lũy As, Pb, Hg trong trầm tích vùng ven biển tỉnh Thái Bình. .... 48
Bảng 3.3. Mức độ làm giàu kim loại As, Pb, Hg tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình. 51
Bảng 3.4. Kết quả phân tích hàm lượng As, Hg, Pb có trong ngao vùng ven biển
tỉnh Thái Bình. ..........................................................................................................55
Bảng 3.5. Hệ số tích tụ sinh học trầm tích trong ngao vùng ven biển tỉnh Thái Bình ...56

vi


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình ..............................................................4
Hình 2.1. Sơ đồ các điểm nghiên cứu .......................................................................34
Hình 2.2. Đường chuẩn xác định hàm lượng Asen ...................................................39

tuỳ thuộc vào các yếu tố vật lý, hoá học của môi trường nước mà có thể dịch
chuyển từ trầm tích vào nước và ngược lại. Do đó, để xem xét một cách đầy
đủ mức độ ô nhiễm KLN của một nguồn nước không thể chỉ dựa trên các kết
quả phân tích mẫu nước mà cần tập trung nghiên cứu cả trong các mẫu trầm
tích. Sự tích tụ kim loại nặng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của các sinh vật thủy
sinh, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người thông qua chuỗi thức ăn. Sự
tích tụ KLN trong sinh vật có thể đe dọa sức khỏe của nhiều loài sinh vật đặc
biệt cá, chim và con người. Do vậy, xác định hàm lượng KLN trong trầm tích
là rất cần thiết bởi tính độc, tính bền vững và sự tích lũy sinh học của chúng.
Các kim loại nặng như As, Hg, Pb là những nguyên tố có độc tính cao
nhất với môi trường thuỷ sinh. Các nguyên tố này có trong nguồn nước thải
của các khu đô thị, công nghiệp, khai thác mỏ và hoạt động sản xuất nông
nghiệp chưa được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để đổ vào nguồn nước qua hệ
thống kênh mương chuyển vào các con sông đổ ra biển. Khi các kim loại
nặng chuyển vào môi trường nước, một phần nhỏ hòa tan trong nước, phần
còn lại chúng được hấp phụ lên các hạt vật chất lơ lửng và lắng đọng lại trong
trầm tích. Tuy nhiên, khi điều kiện môi trường thay đổi, những trầm tích này
có thể chuyển từ dạng keo sang dạng hòa tan trong môi trường nước. Bởi
1


vậy hàm lượng kim loại nặng trong nước và trong trầm tích có sự trao đổi
qua lại với nhau. Do vậy, hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích là một
trong những thông tin cơ bản đánh giá mức độ gây hại đối với hệ sinh thái
thủy sinh.
Trong môi trường biển ven bờ, nhóm động vật nhuyễn thể sống đáy đã
được các nhà khoa học chọn làm đối tượng nghiên cứu do khả năng tích tụ
sinh học cao, đời sống ít di chuyển, ăn lọc bùn bã hữu cơ. Để nghiên cứu khả
năng tích tụ của sinh vật thì loài được chọn phải đáp ứng được các yêu cầu
sau: Có đời sống tĩnh; có khả năng tích tụ chất ô nhiễm; có đời sống đủ dài;

- Đánh giá được hiện trạng hàm lượng một số kim loại nặng As, Hg, Pb
trong trầm tích vùng ven biển tỉnh Thái Bình.
- Đánh giá mức độ tích lũy một số kim loại nặng As, Hg, Pb trong trầm
tích và ngao vùng ven biển tình Thái Bình.
3. Nội dung nghiên cứu
- Thu thập tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.
- Thu thập mẫu trầm tích, mẫu ngao trắng Bến Tre ở vùng ven biển tỉnh
Thái Bình và bảo quản vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm.
- Phân tích xác định hàm lượng một số kim loại nặng như As, Hg, Pb
trong trầm tích và ngao ở vùng ven biển tỉnh Thái Bình, luận giải kết quả thu
được.
- Đánh giá hiện trạng hàm lượng một số kim loại nặng như As, Hg, Pb
trong trầm tích vùng ven biển tỉnh Thái Bình, luận giải kết quả thu được.
- Nghiên cứu mức độ tích lũy của các kim loại nặng thông qua việc tính
toán chỉ số tích lũy địa hóa (Igeo: Geo-accumulation Index), nhân tố làm giàu
trầm tích (EF:Sediment Enrichment Factor) và hệ số tích tụ sinh học trầm tích
(BSAF: Biota-sendiment accumulation factor).

3


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Thái Bình là tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ở phía Nam châu thổ sông
Hồng, có ba mặt giáp sông và một mặt giáp biển, vị trí toạ độ 20 017’ đến
20044’ vĩ độ Bắc và 106006’ đến 106039’ kinh độ Đông. Từ Tây sang Đông
dài 54 km, từ Bắc xuống Nam dài 49 km.
Phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ

mưa to có sức tàn phá ghê gớm. Bình quân mỗi năm có từ 2 - 3 cơn bão, cá
biệt có năm có 6 cơn bão.
Độ ẩm không khí: Mùa hè độ ẩm rất cao, nhất là những ngày mưa ngâu (tới
90%). Nhưng khi có gió Tây Nam xuất hiện, độ ẩm xuống thấp (có khi dưới
30%).
- Mùa đông lạnh: Bắt đầu từ giữa tháng 10 và kết thúc vào giữa tháng 4.
Mưa: chiếm lượng nhỏ, khoảng 15 - 20% tổng lượng mưa cả năm. Các
tháng 12 và 1 lượng mưa thường nhỏ hơn lượng bốc hơi. Tháng 2 và tháng 3
là thời kỳ mưa phùn và ẩm ướt. Nhìn chung lượng mưa giữa các tháng trong
năm không đều.
Gió: Gió hướng Bắc, Đông Bắc và Đông. Tuy gió không mạnh nhưng
hay gây ra lạnh đột ngột.
5


Độ ẩm không khí: Ngày khô hanh độ ẩm rất thấp, độ bốc hơi cao, thường
xuất hiện vào đầu mùa. Trong thời kỳ này hay gặp hạn nhưng có điều kiện
làm ải đất. Ngày thời tiết nồm thường xẩy ra vào cuối đông và thời kỳ chuyển
sang hè, độ ẩm lớn trên 90%.
- Các mùa chuyển tiếp thể hiện sự thay đổi của 2 hệ thống gió mùa:
Đông Bắc (mùa đông) và Tây Nam (mùa hè). Do có các đặc tính khí tượng,
thời tiết không ổn định. Song hai mùa chuyển tiếp thời tiết có tính chất gần
như mùa hè. Như vậy đặc trưng là khí hậu gió mùa nhiệt đới nóng ẩm rất
thuận tiện cho phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên tính biến động mạnh mẽ với
điều kiện thời tiết như bão, dông, gió Tây Nam, gió bấc,... đòi hỏi phải có
biện pháp phòng tránh úng, bão, hạn, lụt.
Thủy văn
Có 4 con sông lớn chảy qua:
- Phía Bắc và Đông Bắc có sông Hoá chảy qua địa phận ranh giới tỉnh có
chiều dài 38 km.

thị, điều này thể hiện rõ ở tốc độ tăng trưởng dân số ở hai khu vực này, khu
vực nông thôn giảm 0,05%/năm, trong khi đó khu vực thành thị tăng
0,01%/năm (bình quân giai đoạn 2010-2015 dân số nông thôn giảm gấp 5 lần
so với tốc độ tăng trưởng của dân số thành thị). Điều này cho thấy kinh tế của
tỉnh đang phát triển mạnh và có sức hút rất lớn dân số từ nông thôn ra thành
thị, tuy nhiên điều này sẽ có tiềm ẩn rủi ro rất lớn về nguồn nhân lực phục vụ
phát triển của khu vực nông, lâm và thủy sản, đặc biệt là lao động trong lĩnh
vực khai thác thủy sản.
1.1.3. Hiện trạng nuôi thủy sản vùng ven biển tỉnh Thái Bình
Phát triển nuôi ngao tại Thái Bình hiện được coi là một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn. Với lợi thế là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, có 5
cửa sông lớn đổ ra biển tạo nên vùng triều rộng lớn khoảng 25 nghìn ha; lưu
lượng nước từ các sông đổ về hạ lưu kéo theo lượng phù sa, trầm tích hữu cơ
với khồi lượng lớn, đã tạo điều kiện cho Thái Bình có một vùng triều thích
hợp để nuôi nhuyễn thể, trong đó có ngao.
Theo kết quả thống kê của Cục Thống kê Thái Bình, diện tích nuôi ngao
bãi triều của tỉnh đã tăng từ 850 ha năm 2005 lên 1.089 ha năm 2010, tăng
28%. Giai đoạn năm 2008 - 2010, diện tích nuôi ngao không tăng do hoạt
động nuôi ngao chưa được quy hoạch thể, cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển
nuôi ngao chưa được các cấp quan tâm kịp thời. Năm 2011, diện tích nuôi
ngao đã đạt 1.300 ha, tăng 19% so với năm 2010; trong đó: huyện Tiền Hải
7


đạt 1.120 ha (tăng 21%), Thái Thụy đạt 180 ha (tăng 6,5%); năm 2012 diện
tích đạt 2.385 ha, tăng mạnh 83% so với năm trước; trong đó: huyện Tiền Hải
đạt 1.910 ha (tăng 70%), Thái Thụy đạt 475 ha (tăng 1,63%). Đây là kết quả
của việc quy hoạch mở rộng diện tích vùng nuôi của các xã thuộc 2 huyện ven
biển Thái Thụy, Tiền Hải. Năng suất nuôi ngao bình quân từ 11,16 tấn/ha
năm 2005 tăng lên 27,66 tấn/ha năm 2010 (tăng 1,37 lần). Giai đoạn 2008 2011, năng suất nuôi ngao đều tăng khá, từ 17,96 tấn/ha năm 2008 lên 21,68


Ha

1089

1089

1089

1300

2385

Sản lượng

Nghìn tấn

19,5

23,6

30,1

43,1

59,5

Năng suất

Tấn/ha

lớn với số lượng giống sản xuất đạt 81,5 triệu con thì đến năm 2012 đã có 13
cơ sở sản xuất với số lượng sản xuất đạt 1,2 tỷ con [1].

8


Giá trị sản xuất ngao giai đoạn 2008 - 2012 cũng tăng mạnh qua các
năm. Năm 2008 giá trị sản xuất đạt 97,7 tỷ đồng tăng 50,8% so với năm 2007;
năm 2009 tăng 20,7%; năm 2010 tăng 25,5%; năm 2011 tăng 45,4% và năm
2012 tăng 38% so với năm trước. Cơ cấu giá trị sản xuất ngao trong tổng giá
trị sản xuất hoạt động nuôi trồng thủy sản luôn ở mức khá, tăng dần từ 19,5%
năm 2008 đến 32,4% năm 2011, năm 2012 cơ cấu giảm, đạt 27,3% do giá
ngao thương phẩm từ giữa năm 2012 giảm nhiều so với năm 2011. Không chỉ
đem lại giá trị kinh tế khá mà hàng năm hoạt động nuôi ngao tỉnh Thái Bình
đã giải quyết việc làm trực tiếp cho trên 1,4 nghìn lao động và hàng nghìn lao
động thời vụ [1].
1.1.4. Hiện trạng một số kim loại nặng trong môi trường vùng ven biển
tỉnh Thái Bình
Nguồn gây ô nhiễm môi trường biển tỉnh Thái Bình
Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 2015 [2] xác định các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển Thái Bình chủ yếu
bắt nguồn từ đất liền và các hoạt động trên biển, bao gồm:
Nguồn thải sinh hoạt: Với dân số của tỉnh gần 2 triệu người tập trung
trên diện tích nhỏ, mật độ dân số cao đã tạo ra nguồn thải sinh hoạt rất lớn.
Cùng với đó, nhiều bãi rác ven sông, ven biển chưa được thiết kế phù hợp,
chưa có hệ thống thu gom xử lý nước rỉ rác cũng là nguonf bổ sung đáng kể
các chất ô nhiễm cho vùng ven bờ biển tỉnh Thái Bình.
Nguồn thải nông nghiệp: Là địa phương có cơ cấu nông nghiệp cao với
giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn khu vực ven biển tăng trưởng
bình quân hằng năm đạt trên 5%. Do vậy, nguồn thải nông nghiệp ra vùng
biển ven bờ của Thái Bình gồm các loại phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật,

hai cửa sông cụ thể ở hai bảng dưới đây:
Bảng 1.2. Tải lượng chất ô nhiễm qua hai cửa sông Cấm - Bạch Đằng
và Ba Lạt (tấn)
Thông
số

Cửa Cấm - Bạch Đằng
Mùa mưa Mùa khô

Cả năm

Cửa Ba Lạt
Mùa mưa Mùa khô

Cả năm

As

61,5

4,7

66,1

36,7

6,7

43,4



10


Bảng 1.2 cho thấy, mỗi năm nguồn lục địa đưa ra qua cửa sông Cấm Bạch Đằng khoảng 66 tấn Asen; 7 tấn thủy ngân; 570 tấn chì và khoảng 88 99% lượng kim loại nặng này được đưa ra qua cửa sông trong mùa mưa lũ do
tổng lượng nước trong mùa mưa lớn. Đối với khu vực cửa Ba Lạt, mỗi năm
có khoảng 43,4 tấn asen; 13,8 tấn thủy ngân; 356,8 tấn chì đi qua cửa sông
này.
Bảng 1.3. Khả năng một số kim loại nặng As, Hg, Pb trong vùng cửa sông
Cấm - Bạch Đằng và Ba Lạt
Cửa Cấm - Bạch Đằng

Thông
số

Tải
lượng
(tấn)

Lưu
giữ
trong
nước
(%)

Tích
lũy
trong
trầm
tích


As

66,1

0,70

3,86

4,55

43,35

0,19

4,18

4,36

Hg

7,1

1,44

3,10

4,51

13,82

tích tụ các kim loại nặng As, Hg, Pb trong trầm tích vùng cửa sông Ba Lạt
thuộc tỉnh Thái Bình và để đánh giá toàn diện hơn, tác giả thực hiện đề tài
nghiên cứu đánh giá khả năng tích lũy các kim loại nặng As, Hg, Pb trong
trầm tích dọc ven bờ biển tỉnh Thái Bình.

11


1.2. Hiện trạng và tình hình nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng trong
trầm tích và động vật hai mảnh vỏ
1.2.1. Trên thế giới
Hiện trạng ô nhiễm
Sự cố nhiễm độc cadmium xảy ra ở tỉnh Toyama (Nhật Bản) vào những
nẵm 1940 do hoạt động khai khoáng làm ô nhiễm cadimi trên sông Jinzu và
các phụ lưu đã làm cho hàng trăm người dân sống trong khu vực bị mắc bệnh
do nhiễm độc cadmi có tên gọi là bệnh “itai - itai”. Hầu hết nạn nhân đều bị
tổn thương thận và loãng xương và nhiều người dã chết. Vụ nhiễm độc ở
Toyama được xem là vụ nhiễm độc cadimi nghiêm trọng nhất từ trước đến
nay. Năm 1953 ở Nhật Bản, một nhà máy sản xuất hóa chất đã thải metyl thủy
ngân ra vịnh Minamata, thông qua con đường thực phẩm đã gây ra các triệu
chứng bệnh thần kinh và biết đến như là bệnh “Minamata”. Ở dạng muối vô
cơ, thủy ngân đã gây nên các rối loạn thần kinh cho công nhân làm mũ nón
trong ngành công nghiệp làm mũ của Hà Lan.
Ở một số vùng trên thế giới, như ở Đài Loan, Nam Mỹ, Banglades,
...nồng độ của asen trong nước ngầm khá cao. Cư dân sinh sống và sử dụng
nước ngầm ở các vùng có nồng độ asen cao thường bị mắc bệnh như bệnh
sừng hóa, tăng sắc tố da... Phơi nhiễm ở mức nồng độ cao hơn có thể dẫn dến
các hậu quả nghiêm trọng như bị hoại từ đầu ngón tay, ngón chan, ung thư...
Tại Thiên Tân (Trung Quốc), một lượng lớn chì và KLN độc hại khác từ
mỏ và quá trinh khai thác chế biến đã phát tán vào môi trường cao gấp 24 lần

nghiệp hoá dầu, in ấn, luyện kim, công nghiệp điện tử, nước thải đô thị, các
chế phẩm phân bón, thuốc trừ sâu sử dụng trong nông nghiệp đổ vào hệ thống
thoát nước chung như kênh, mương, sông và cuối cùng đổ ra biển. Vùng mà
bị ảnh hưởng lớn nhất đó là các vùng cửa sông ven biển, đây cũng là vùng
được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến sự tích luỹ của các kim loại
nặng [16, 21].
As, Hg và Pb là những kim loại nặng có độc tính cao do các hoạt động
của con người thải ra được chuyển vào môi trường nước, tích luỹ trong trầm
tích và được tích luỹ trong các sinh vật thông qua chuỗi thức ăn. Kết quả là
ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người do việc sử dụng thực phẩm được chế
biến từ các sinh vật sinh sống ở các vùng ven biển, phá huỷ hệ sinh thái thuỷ
sinh. Trong nghiên cứu của tác giả [20] đã cảnh báo về mức độ ô nhiễm
nghiêm trọng của As, Pb trong trầm tích bề mặt vùng ven biển phía nam
Trung Quốc, đặc biệt là vị trí gần các khu công nghiệp, khu đô thị như Hồng
Kong, Pearl River Estuary.
Các công bố cho thấy, các nhà khoa học trên thế giới đã rất quan tâm đến
ô nhiễm, tích lũy của các kim loại nặng trong trầm tích cũng như các tác động
13


của chúng đến các hệ sinh thái thủy sinh, cảnh báo mối nguy hiểm ảnh hưởng
đến sức khoẻ con người. Do vậy, việc nghiên đánh giá hàm lượng các kim
loại nặng trong trầm tích là rất cần thiết được tiến hành, đặc biệt ở các nước
có nền kinh tế đang phát triển với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhanh
như Việt Nam.
1.2.2. Ở Việt Nam
Hiện trạng ô nhiễm
Ở nước ta, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của công
nghiệp và đô thị đã làm gia tăng KLN vào môi trường nước. Theo kết quả
quan trắc và phân tích môi trường, ở các vùng ven biển gần các thị trấn và

của người dân địa phương.
Các dẫn liệu trên cho thấy tình hình ô nhiễm KLN trong nước đã và đang
gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống con người.
Nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá ô nhiễm ô nhiễm KLN là vấn
đề có ý nghĩa thực tiễn, nhằm quan trắc và kiểm soát các ảnh hưởng của nó
đến đời sống con người và môi trường.
Tình hình nghiên cứu
Đứng trước hiện trạng ô nhiễm trầm trọng của hệ thống sông ngòi trong
cả nước thể hiện qua các hiện tượng như cá chết hàng loạt, các loại thủy sản
nuôi trồng của bà con vùng ven biển liên tục bị dịch bệnh, các công trình
nghiên cứu trong nước đã và đang hướng tới làm rõ nguyên nhân của các hiện
tượng này. Trầm tích được xem là một môi trường tiếp nhận hầu hết các chất
ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người. Trong vài năm trở lại đây, vấn
đề ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích bắt đầu được quan tâm nhiều hơn ở
Việt Nam, xuất phát từ thực trạng xả chất thải có chứa kim loại nặng và việc
sử dụng bừa bãi hoá chất bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc làm cho một số
dòng sông trở thành dòng sông “chết”, các loại thủy sản dùng để chế biến
thức ăn phục vụ đời sống con người có hàm lượng tích lũy kim loại nặng ở
mức cao.
Tác giả Trần Đức Thạnh và các cộng tác [5] trong công bố nghiên cứu
về “Vịnh ven bờ biển Việt Nam và tiềm năng sử dụng” đã đưa ra cảnh bảo về
mức độ ô nhiễm kim loại nặng ở một số vịnh, trong đó có kết quả nghiên
cứu ở vịnh Bái Tử Long cho thấy hàm lượng các nguyên tố như Cu, Pb, As
trong trầm tích đã bị ô nhiễm ở mức độ trung bình.
Hàm lượng kim loại nặng Cu, Pb, Cd, Hg trong trầm tích và các loài
động vật đáy như vẹm xanh nuôi và sò lông tự nhiên tại vùng đầm Nha Phu,
15


Khánh Hòa [6] cho thấy hàm lượng hầu hết các kim loại nặng đã khảo sát

lượng tích lũy khác nhau hay phân vùng mức độ ảnh hưởng để phục vụ quy
16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status