Khảo sát khả năng xua đuổi rầy nâu của chế phẩm chứa hoạt chất SALICYLIC ACID - Pdf 13

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾNSVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở nước ta, nghề trồng lúa vẫn còn là một nghề quan trọng vì nó nuôi sống
khoảng 80% dân số cả nước. Những năm gần đây, với sự thâm canh tăng vụ và
tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất lúa giúp cải tiến chất
lượng, năng suất lúa, cụ thể ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong hơn
mười năm qua đã mang lại nhiều lợi ích, giúp đảm bảo an ninh lương thực cho cả
nước đồng thời giúp nâng sản lượng lúa xuất khẩu. Nhiều nơi đã sản xuất lúa liên
tục nhiều vụ trong năm và canh tác nhiều năm liền, chính điều này đã tạo điều
kiện cho sự phát triển của các tác nhân gây hại, trong đó phải kể đến là các loài
côn trùng mà rầy nâu được xếp vào tác nhân nhóm gây hại nhiều nhất.
Rầy nâu là một trong những loài côn trùng gây hại phổ biến trên các ruộng
lúa bằng cách chích hút nhựa cây làm cây cháy khô, truyền bệnh vàng lùn và lùn
xoắn lá. Ở nước ta trong những năm gần đây, nhất là trên những cánh đồng ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long đã xuất hiện những đợt rầy nâu rất lớn gây hại trên
nhiều cánh đồng.
Mặc dù ngày nay đã có nhiều thuốc đặc trò rầy nâu như: Osin, Chess…
nhưng việc sử dụng các loại thuốc này có thể dẫn đến việc mất cân bằng sinh thái
trong khu vực, và ngày càng tạo điều kiện tăng khả năng kháng thuốc. Mà rầy nâu
loài có khả năng kháng thuốc rất nhanh. Ngoài ra, việc tiêu diệt loài này có thể
làm xuất hiện các loài khác nguy hiểm hơn.
Do đó, việc sử dụng các loài thuốc phòng ngừa, các chế phẩm sinh học như:
chế phẩm AIM là chế phẩm có chứa hoạt chất Salicylic acid giúp cho cây lúa có
khả năng xua đuổi, phòng tránh được những đợt tấn công của rầy nâu là rất cần
thiết. Nội dung bài báo cáo nhằm đánh giá khả năng xua đuổi rầy nâu của chế
phẩm AIM.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾN



SVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 3
Tuy có nhiều ý kiến chưa thống nhất, nhưng có một điều là lòch sử cây lúa
đã có tư ø lâu và gắn liền với lòch sử phát triển của nhân dân các nước Châu Á.
Hai loài lúa trồng hiện nay là Oryza sativa L. ở Châu Á và Oryza
glaberrima Steud. ở Châu Phi. Người ta cho rằng tổ tiên của chi lúa Oryza hiện
nay là một loại cây hoang dại trên siêu lục đòa Gondwana xuất hiện cách đây ít
nhất là 130 triệu năm và phát tán rộng khắp các châu lục trong quá trình trôi giạt
lục đòa.
Loài cây hoang dại này sau đó được con người chọn lọc và thuần hoá tạo
thành cây lúa trồng như hiện nay. Các loài thuộc chi Oryza đều là họ hàng với
cây lúa trồng ngày nay. Hiện nay chi Oryza có khoảng 21 loài, tuy nhiên số lượng
loài này không đồng nhất và thay đổi tùy theo người nghiên cứu như 19 loài theo
Roschiwicz (1950), 23 loài theo Erygin P.S (1960), 25 loài theo Grist D. H (1960),
… Trong đó có hai loài đã được thuần hoá là loài Oryza sativa (lúa châu Á) và
loài Oryza glaberrima (lúa châu Phi). Trong đó loài Oryza sativa là được trồng phổ
biến. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾN



SVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 5
Tuy theo đặc tính thích nghi với môi trường mà chia thành: lúa chòu phèn,
lúa chòu úng. Lúa chòu hạn, lúa chòu mặn…
Tùy theo chế độ nhiệt khác nhau, người ta còn phân biệt lúa chòu lạnh và
lúa chòu nhiệt.
Theo sinh thái đòa lý: đựơc chia thành 3 nhóm là Indica, Japonica và
janvanica.
c. Theo đặc tính sinh hóa hạt gạo
Tùy theo lượng amylose trong tinh bột hạt gạo, người ta phân biệt lúa nếp
và lúa tẻ. Biết rằng tinh bột có 2 dạng là amylose và amylapectin. Hàm lượng
amylopectin trong thành phần tinh bột gạo càng cao, hàm lượng amylose sẽ thấp
khi đó hạt gạo sẽ càng dẻo. T.T Chang (1980) đã phân cấp gạo dựa vào hàm
lượng amylose như bảng sau:
Bảng 1.1 : Phân loại gạo dựa vào hàm lượng amylose trong tinh bột
Cấp
Hàm lượng Amylose (%)
Loại gạo
0
1
3
5
7
9
< 3.0
3,1 – 10
10,1 – 15
15,1 – 20
20,1 – 25
25,1 – 30

Hình 1.1: Dạng tổng quát của cây lúa
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾNSVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 7
Cây mạ: Cây mạ hoàn chỉnh gồm ba bộ phận là lá, rễ và thân. Để cây mạ
tăng trưởng tốt thì cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, nước, ánh sáng và nhiệt
độ (23 – 25
o
C) thích hợp.
Lá: bao gồm các bộ phận là phiến lá, bẹ lá, cổ lá, tai lá và thìa là. Đây là
nơi diễn ra quá trình quang hợp tổng hợp chất hữu cơ cho cây. Số lượng và màu
sắc của lá lúa thay đổi theo giống. Bình thường cứ 7 ngày là có một lá lúa hình
thành.
Rễ lúa: Rễ lúa có dạng chùm, giúp cho lúa đứng vững trong môi trường, hút
nước và chất dinh dưỡng cung cấp cho cây.
Thân lúa: Có hai loại là thân giả và thân thật. Thân giả do các bẹ lá kết lại
tạo thành. Thân thật gồm các lóng thân nối tiếp nhau qua các mắt. Thường mỗi
cây lúa có từ 4 đến 6 lóng.
Chồi: Sau khi cấy khoảng 10 ngày thì chồi bắt đầu xuất hiện và số chồi đạt
tối đa vào khoảng 50 – 60 ngày sau cấy. Khả năng nảy chồi thay đổi tùy theo

Tiếp theo đó là sự hình thành của lá. Thời gian từ lúc hạt nẩy mầm đến khi
có 3 lá thật là thời gian hạt sử dụng chủ yếu các chất dinh dưỡng trong hạt.
 Giai đoạn mạ
Thời kỳ mạ dài hay ngắn tùy thuộc vào giống lúa và mùa vụ. Thời kỳ mạ
được chia thành hai thời kỳ nhỏ là thời kỳ mạ non và thời kỳ mạ khỏe:
Thời kỳ mạ non: là thời kỳ từ lúc gieo đến khi ra ba lá thật. Thời kỳ này
thường kéo dài từ 7 – 10 ngày. Trong thời kỳ này dinh dưỡng của cây mạ chủ yếu
dựa vào chất dự trữ trong hạt.
Thời kỳ mạ khỏe: tính từ lúc cây mạ có 4 lá thật đến khi nhổ cấy. Ở thời kỳ
này, chiều cao và kích thước cây mạ tăng rõ rệt, có thể ra được 4 – 5 lứa rễ nên
tính chống chòu của cây lúa cũng tăng lên rất nhiều.
 Thời kỳ đẻ nhánh
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾNSVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 9
Sau khi cấy, cây lúa bén rễ hồi xanh rồi bước vào thời kỳ đẻ nhánh. Ở thời
kỳ đẻ nhánh cây lúa sinh trưởng nhanh và mạnh. Trong thời kỳ này cây lúa tập
trung vào các quá trình phát triển của bộ rễ, ra lá và đẻ nhánh.
Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đến quá
trình hình thành bông và năng suất lúa. Một số kết quả thí nghiệm cho thấy trong
điều kiện cấy 1 – 2 thửa ruộng và cấy thưa, cây lúa có thể đẻ được 20 – 30 nhánh.
 Thời kỳ làm đốt
Trên đồng ruộng, sau khi đẻ đạt số nhánh tối đa, cây lúa sẽ chuyển sang
thời kỳ làm đốt.
Thời gian của quá trình này dài hay ngắn tùy theo giống lúa, thường là từ
25 – 60 ngày. Thời gian này cũng có liên quan đến số lóng kéo dài trên thân nhiều
hay ít.
b. Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn này bắt đầu từ lúc tượng đòng và chấm dứt khi lúa trổ bông. Giai

C hoặc dưới 17
0
C, cây lúa tăng trưởng
chậm lại. Dưới 13
0
C cây lúa ngừng tăng trưởng, nếu kéo dài một tuần lễ cây lúa
sẽ chết. Phạm vi nhiệt độ mà cây lúa có thể chòu đựng được và nhiệt độ tối hảo
thay đổi tuỳ theo giống lúa, giai đoạn tăng trưởng, thời gian bò ảnh hưởng là tình
trạng sinh lý của cây lúa (xem bảng 1.2). Nói chung, các giống lúa ôn đới chòu
đựng nhiệt độ thấp giỏi hơn các giống lúa nhiệt đới và ngược lại. Cây lúa già chòu
đựng giỏi hơn cây lúa non; thời gian bò ảnh hửong càng dài, cây lúa càng suy yếu
thì khả năng chòu đựng càng kém.

Bảng 1.2: Yêu cầu nhiệt độ cho các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
Thời kỳ
Nhiệt độ (
0
C)
Tối thiểu
Tối thích
Tối đa
Nảy mầm
10 – 12
30 – 35
40
Mạ
15

bất thụ cao, hạt chắc giảm.
Nói chung, nhiệt độ thích hợp nhất cho cây lúa là 26 – 28
0
C, biến động
nhiệt độ giữa ngày và đêm (biên độ nhiệt) từ 8 - 10
0
C là điều kiện thuận lợi cho
quá trình tích luỹ chất khô trong cây, giúp cây lúa phát triển tốt và cho năng suất
cao. 1.1.3.2 Ánh Sáng
Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng phát triển và phát dục của
cây lúa trên 2 phương diện: cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày
(quang kỳ).
a. Cường độ ánh sáng
Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2007

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾNSVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 12
Cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp của cây lúa, thể
hiện chủ yếu bằng năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu trên đơn vò diện tích đất
(lượng bức xạ).
Thông thường cây lúa chỉ sử dụng được khoảng 65% năng lượng ánh sáng
mặt trời chiếu tới ruộng lúa. Trong điều kiện bình thường, lượng bức xạ trung bình
từ 250 – 300 cal/cm
2
/ngày thì cây lúa sinh trưởng tốt. Nếu lượng bức xạ càng cao

thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, sự thụ phấn, thụ tinh và sự tích lũy
chất khô trong hạt bò trở ngại làm tăng tỉ lệ hạt lép, hạt lửng (hạt không đầy vỏ
trấu) làm giảm năng xuất lúa.
Tuy nhiên, gió nhẹ giúp cho quá trình trao đổi không khí trong quần thể
ruộng lúa tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp và hô hấp của
ruộng lúa.
1.1.4. Đặc điểm sinh lý của cây lúa
1.1.4.2 Quang hợp và hô hấp
a. Quang hợp
Quang hợp là một chức năng quan trọng của cây xanh. Dưới tác dụng của
ánh sáng mặt trời, nhờ có diệp lục cây xanh đồng hóa CO
2

và nước để tạo thành
các hợp chất hữu cơ cung cấp cho mọi hoạt động của chúng.
Phương trình của quá trình quang hợp:
6CO
2

+ 12H
2
O → C
6
H
12
O
6

+ 6O
2


cao và có quá trình quang hô hấp. Nhiệt độ tối thích cho quang hợp ở giống lúa
Indica là khoảng 25 – 35
0
C. Cường độ quang hợp của lá lúa là khoảng 40 – 50
mgCO
2
/dm
2
/h.
Điểm bảo hòa ánh sáng trong quang hợp của cây lúa là khoảng 50klux,
cường độ quang hợp đạt tối đa trong khoảng 40 – 60klux.
Khi đầy đủ ánh sáng thì nhiệt độ thích hợp nhất cho quang hợp là khoảng
18 – 34
0
C.
Ngoài ra, các yếu tố như nồng độ CO
2
, các yếu tố dinh dưỡng đạm, lân, kali
cũng ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây lúa.
Quang hợp là hoạt động chủ yếu quyết đònh quá trình sinh trưởng và năng
suất lúa. Muốn tăng năng suất lúa thì cần tạo điều kiện cho hoạt động quang hợp
diễn ra thuận lơi.
b. Hô hấp
Hô hấp là quá trình oxy hóa, phân giải các chất hữu cơ để cung cấp năng
lượng cho hoạt động sống của cây trồng: duy trì và phát triển. Qúa trình này sử
dụng các chất hữu cơ tạo ra từ quang hợp để cung cấp năng lượng và các hợp chất
hữu cơ cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp các chất trong cây.
Nhiệt độ càng cao, quang hợp và hô hấp càng mạnh, vật chất sản sinh ra
càng nhiều cây sinh trưởng càng khỏe.

hợp chất đạm trong cây, kích thích rể phát triển, giúp cây lúa mau lại sức sau khi
cấy, nở bụi mạnh, kết nhiều hạt chất, giúp lúa chín sớm và đồng loạt hơn.
Lân còn là thành phần cấu tạo acid nhân, thường tập chung nhiều nhất trong
hạt. Cây lúa cần lân ở giai đoạn đầu cao hơn ở các giai đoạn cuối, do lân cần thiết
cho sự nở bụi của cây lúa, nên cần phải bón lót trước khi sạ cấy.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾNSVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 16
Nhu cầu tổng số lân của cây lúa ít hơn đạm. Do đó, hiện tượng thiếu chỉ
thường xảy ra ở những vùng đất phèn. Khi thiếu lân cây lúa bò lùn, đẻ nhánh ít,
quá trình trổ bông và chín bò chậm lại và kéo dài, số lượng lúa lép tăng làm năng
suất giảm rõ rệt.
c. Chất kali
Kali còn gọi là bồ tạt (potassium). Kali (K) xúc tiến quá trình vận chuyển
và tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương của tế bào, giúp cây cứng cáp,
chống ngã đổ, chòu hạn và lạnh khỏe hơn, tăng số hạt chắc trên bông và làm hạt
no đầy hơn.
Kali thường tập trung chủ yếu trong rơm rạ, chỉ khoảng 6 -20% ở trên bông.
Khi thiếu kali cây lúa có chiều cao và số chồi gần như bình thường, lá vẫn xanh
nhưng mềm rũ, yếu ớt, dễ đổ ngã…
d. Chất Silic
Cây lúa hấp thu Silic nhiều hơn bất kỳ chất dinh dưỡng nào (từ 890 –
1018kg/ha/vụ). Silic có vai trò quan trọng trong cây, silic làm tăng bề dày của
vách tế bào, giúp cây lúa cứng cáp, làm lá thẳng đứng, giảm thoát hơi nước giúp
cây chòu hạn khỏe hơn.
Silic cũng tăng lực oxi hóa của rể và ngăn cản sự hấp thu Fe và Mn quá
mức.
e. Chất sắt
Sắt là thành phần cấu tạo của Chlorophyll (diệp lục tố) và một số phân hóa

Đặc biệt đối với dân nghèo: gạo là nguồn thức ăn chủ yếu. Các nước nghèo
thường dùng gạo là nguồn lương thực chính, khi thu nhập tăng lên mức tiêu thụ
gạo có xu hướng giảm xuống, thay thế bằng các loại thức ăn cung cấp nhiều
protein và vitamin hơn là năng lượng.
Ở Việt Nam hiện nay mức tiêu thụ gạo bình quân vẫn còn ở mức cao,
khoảng 120 kg/người/năm. Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA, 2007),
tổng nhu cầu tiêu thu gạo trung bình hàng năm của cả thế giới ước khoảng từ 410
triệu tấn (2004 – 2005), đã tăng lên đến khoảng 424,5 triệu tấn (2007), trong khi
tổng lượng gạo sản xuất của cả thế giới luôn thấp hơn nhu cầu này. Cũng theo cơ
quan này, hàng năm thế giới thiếu khoảng 2 – 4 triệu tấn gạo, đặc biệt năm 2003 -
2004 sự thiếu hụt này lên đến 21 triệu tấn.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾNSVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 18
Đối với các quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar), Ai
Cập lúa gạo chiếm một vò trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, không phải
chỉ là nguồn lương thực mà còn là nguồn thu ngoại tệ để đổi lấy thiết bò, vật tư cần
thiết cho sự phát triển của đất nước.
1.1.6 Tình hình sản xuất lúa gạo hiện nay
1.1.6.1 Trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, vùng phân bố tương đối rộng và khả năng
thích nghi tương đối tốt với môi trường. Tuy nhiên việc sản xuất lúa phù hợp nhất
là ở khu vực có chi phí nhân công thấp và lượng mưa lớn. Vì những điều này nên
có thể nói châu Á là nơi phù hợp nhất cho việc trồng lúa (chiếm khoảng 90%). Kể
từ năm 1955 đến 1980 diện tích trống lúa trên thế giới đã gia tăng rõ rệt, tăng bình
quân 1,36 triệu ha/năm. Nhưng từ năm 1980, diện tích sản xuất lúa tăng chậm lại
và đạt cao nhất vào năm 1999 (đạt 156,77 triệu ha). Từ năm 2000 trở đi diện tích
trồng lúa trên thế giới lại có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần, đến năm
2005 còn ở mức 152,9 triệu ha.

Trung Quốc
33.52
30.3
29.14
27.51
26.78
28.62
3
Inđonesia
10.5
11.79
11.5
11.52
11.48
11.92
4
Bangladesh
10.44
10.8
10.66
10.77
10.73
10.25
5
Thái Lan
8.79
9.89
10.13
9.999
9.51

3.15
3.18
3.73
10
Pakistan
2.11
2.38
2.11
2.23
2.46
2.52
11
Nigeria
1.21
2.2
2.12
2.19
2.21
2.35
12
Nhật Bản
2.07
1.77
1.71
1.69
1.67
1.70

Trong vòng 30 năm kể từ năm 1955 đến 1985, năng suất lúa bình quân trên
thế giới cũng tăng khoảng 1.3 tấn/ha. Đặc biệt vào những năm 1965 – 1970, sự ra

Lan, Myanmar và Nhật).
Bảng 1.4: Các quốc gia có sản lượng lúa lớn nhấtgiới (triệu tấn )
TT
Quốc gia
1990
2000
2002
2003
2004
2005
1
Trung Quốc
191.61
189.81
179.30
162.30
180.52
182.04
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾN
34.57
36.15
35.79
6
Thái Lan
17.19
25.84
26.52
29.34
29.30
29.20
7
Myanmar
-
21.32
21.92
23.15
24.27
25.36
8
Philippines
9.89
12.39
12.95
13.50
14.50
14.60
9
Brazil
7.42
1.1.6.2 Tại Việt Nam
Nguồn: FAO,2006

Hình 1.2: Phân bố các quốc gia trồng lúa trên thế giới
(FAO, 1997)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾNSVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 22
Nước ta thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa nên rất thuận lợi cho nghề trồng
lúa. Nước ta có hai vùng trồng lúa chính là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng
sông Cửu Long.
Trong thời gian chiến tranh, diện tích trồng lúa cả nước chỉ dao động trong
khoảng 4.40 – 4.90 triệu ha, năng suất có tăng nhưng rất chậm, chỉ khoảng 700 kg
lúa/ha trong vòng 20 năm. Sản lượng lúa tổng cộng 2 miền chỉ trên dưới 10 triệu
tấn. Sau ngày giải phóng, cùng với phong trào khai hoang phục hóa diện tích lúa
tăng lên khá nhanh và ổn đònh ở khoảng 5.5 – 5.7 triệu ha. Nhưng do đất đai mới
khai hoang chưa được cải tạo, thiên tai, sâu bệnh và đặc biệt là cơ chế quản lý

1.44
6.36
1960
4.6
1.99
9.17
1965
4.83
1.94
9.37
1970
7.72
2.15
10.17
1975
7.94
2.16
10.54
1980
5.54
2.11
11.68
1985
5.7
2.78
15.87
1990
5.96
3.21
19.14

triệu tấn gạo, đem về một nguồn thu ngoại tệ rất đáng kể. Hiện nay, Việt Nam
đứng hàng thứ 6 thế giới về diện tích gieo trồng lúa và đứng hàng thứ 5 về sản
lượng lúa.
1.2. RẦY NÂU HẠI LÚA
Nguồn: Nguyễn ngọc Đệ, 2008
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS. HỨA QUYẾT CHIẾNSVTH: PHAN THỊ LỆ CHI Trang 24
1.2.1. Nguồn gốc và phân bố của rầy nâu
Rầy nâu (Nilaparvata lugens (Stal)) thuộc giống Nilaparvata, họ rầy
delphacidea, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrbyncha, bộ cánh đều
Homoptera (Nguyễn Xuân Hiển và cs., 1979). Nilaparvata lugens được Stal đặt
tên vào năm 1854. Giống Nilaparvata có 8 loài trong đó chỉ có Nilaparvata lugens
là gây hại trên lúa.
Nilaparvata lugens xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa như Ấn Độ, Sri
Lanka, Bangladesh, Campuchia, Thái Lan, Indonexia, Malaysia, Nhật Bản,
Philippin, Trung Quốc, Việt Nam … (Lê Thò Sen, 1999)
1.2.2 Tác hại của rầy nâu (Nilaparvata lugens)
Rầy nâu trở thành loài sâu hại nguy hiểm tại các nước trồng lúa từ nửa sau
thế kỷ XX. Những trận dòch rầy nâu đã ghi nhận xuất hiện tại nhiều nước trên thế
giới như Nhật Bản, Ấn Độ, Indonexia, Philippines, Malaysia, Thái Lan… đã gây
nhiều thiệt hại (Phạm Văn Lầm, 2006).
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thò Sen (2004) thì tại Việt Nam, rầy nâu
được ghi nhận xuất hiện trên lúa từ rất lâu nhưng không gây thành những trận dòch
lớn do chỉ trồng lúa mùa. Năm 1965 Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế đã đưa
vào Việt Nam các giống lúa ngắn ngày và được trồng đầu tiên ở Miền Trung. Các

truyền cho lúa Hè – Thu. Diện tích canh tác lúa nhiễm rầy cũng gia tăng và trồng
xen trong vùng lúa Đông Xuân mà không được xuống giống đồng loạt. Khả năng
kháng rầy của giống lúa đã suy yếu, do đã sử dụng trong thời gian quá lâu
(Nguyễn Văn Huỳnh, 2006). 1.2.4 Ký chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status