LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ sau năm 1986, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển từ nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Một trong những nội dung trọng tâm của chính sách đổi mới là thay đổi
phương thức quản lý đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Vai trò
của nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói
riêng chuyển dần từ cơ chế quản lý trực tiếp sang cơ chế quản lý thông qua việc
ban hành các văn bản pháp luật, các cơ chế chính sách và các công cụ vĩ mô
nhằm điều tiết các hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường. Đã có nhiều
doanh nghiệp lắp ráp ô tô nước ngoài đầu tư vào các ngành công nghiệp ô tô tại
Việt Nam và cũng có rất nhiều công ty trong nước mở rộng chuyển đổi sản xuất
ô tô.Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp này không đạt được
thành công như họ đã kỳ vong. Thậm chí có công ty còn tự giải thể vì hoạt động
không hiệu quả. Và hầu hết các công ty sản xuất lắp ráp trong nước vẫn đứng trụ
lại thì phải chiệu thua lổ.
Trong 28 năm đổi mới từ năm 1986 tới nay thì nền kinh tế thế giới đã trải
qua 2 cuộc suy thoái kinh tế, lần gần đây nhất là vào năm 2009 bắt đầu nổ ra tại
Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới. Cuộc suy thoái có mức ảnh hưởng khủng khiếp
tới tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung. Đặc biệt là các quốc gia đang phát
triển như Việt Nam, Trung Quốc…Trong năm 2014 theo dự báo sẽ vẫn còn
nhiều khó khăn, bất ổn cũng như không có mấy khả quan về khả năng phục hồi
thoát ra hoàn toàn khỏi suy thoái, suy thoái kinh tế đã gây ra sự giảm suốt về sức
mua của người tiêu dùng. Người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu và có xu hướng tiết
kiệm, chọn lọc trong tiêu dùng của mình. Ngoài ra, suy thoái kinh tế còn làm cho
các doanh nghiệp mất thị trường, cắt giảm giá bán và chỉ tiêu sản phẩm, tỉ lệ thất
nghiệp gia tăng… dẫn đến giảm khả năng cạnh trranh của các công ty. Các tác
động trên đã làm ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động sản xuất và kinh
doanh của các công ty trên thị trường cũng như ảnh hưởng tới đời sống sản xuất
của nhân dân.
Để ứng phó với các tác động của suy thoái kinh tế, các quốc gia đã đưa ra
tế tới hoạt động kinh doanh thiết bị văn phòng trên địa bàn Hà Nội”. – Của sinh
viên Trịnh Thị Huyền- Gíao viên Đào Thế Sơn hướng dẫn- Khoa Kinh Tế- Năm
2009. Đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứ, phân tích suy thoái kinh tế đã có
những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm giảm nhu cầu của thị trường đối với
mặt hàng thiết bị văn phòng trong cả nước nói chung và tác động tới hoạt động
kinh doanh trên địa bàn Hà Nội nói riêng. Mục đích của luận văn là nghiên cứu
2 |
những tác động này và qua đó đề xuất một số giải pháp kích cầu đối với mặt
hàng thiết bị văn phòng trên địa bàn Hà Nội.
2. “Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt động xuất
khẩu thép sang thị trường Trung Đông của công ty cổ phần tập đoàn Thành
Nam”. – Của sinh viên Lương Thị Mai Anh- Khoa Thương Mại Quốc Tế- năm
2011. Đề tài khóa luận đi sâu vào nghiên cứu, phân tích những ảnh hưởng của
suy thoái kinh tê tới hoạt động xuất khẩu thép sang thị trường Trung Đông và
đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế những ảnh hưởng đó.
3. “Giải pháp hạn chế sự biến động của giá vật liệu xây dựng đến hoạt
động kinh doanh của công ty TNHH An Thương” Của sinh viên Hà Thị Huệ-
Khoa Kinh Tế- năm 2011. Nội dung chính của đề tài khóa luận là đi sâu và phân
tích những ảnh hưởng của sự biến động giá vật liệu xây dựng tới hoạt động kinh
doanh của công ty TNHH An Thương, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực đó.
4. “Phân tích ảnh hưởng của lạm phát tới kết quả hoạt động kinh doanh
của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt” Của sinh viên Hồ Thị Thơ- Khoa
Kinh Tế- Năm 2011. Đề tài khóa luận nghiên cứu những ảnh hưởng của lạm phát
tới kết quả kinh doanh của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt, từ đó đưa ra
những đề xuất, giải pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn những ảnh hưởng đó.
5. “Tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động xuất khẩu hàng
dệt may sang thị trường Hoa Kỳ tại công ty CP may Sông Hồng và các giải
pháp” Của tác Trền Thị Minh Nguyệt – Trường Đại học thương mại, (2009).
Luận văn tập trung tìm hiểu, phân tích và đánh giá những tác động của suy thoái
Đề tài tập trung vào nghiên cứu và phân tích tác động của cuộc suy thoái
kinh tế tới hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô TMT cụ thể là tác
động tới doanh thu, lợi nhuận, chi phí… của công ty như thế nào.
• Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu lý luận.
Hệ thống một cách tổng quát về cơ sở lý luận có liên quan tới suy thoái
kinh tế, khái quát về cuộc suy thoái kinh tế hiện nay cũng như các vấn đề liên
quan tới hoạt động kinh doanh của công ty, các nhân tố ảnh hưởng, các chi phí
tiêu chí đánh giá hiệu quả trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty… để
từ đó làm tiền đề phân tích thực trạng ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt
động của công ty.
Mục tiêu thực tiễn.
4 |
Mục tiêu thực tiễn chủ yếu của nghiên cứu đó là phân tích, đánh giá tác
động của suy thoái đến hoạt động kinh doanh của công ty, các giải pháp ứng phó
của công ty trước tác động cả suy thoái kinh tế và đề xuất một số giải pháp nhằm
giúp công ty hoạt động có hiệu quả hơn trong điều kiện suy thoái.
• Phạm vi nghiên cứu.
Giới hạn về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng của suy
thoái kinh tế tới nền kinh tế nói chung và xem xét tác động của nó tới hoạt động
kinh doanh ô tô nói riêng, từ đó đưa ra kết luận và đề ra các phương hướng nhằm
hạn chế tác động tiêu cực của lạm phát đế hoạt động kinh doanh của công ty.
Giới hạn về không gian: khóa luận được đề xuất để nghiên cứu ảnh hưởng
của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần ô tô TMT.
Giới hạn về thời gian: Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ năm 2010 đến nay.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
a. Phương pháp thu thập dữ liệu
Do có sự giới hạn về thời gian cũng như điều kiện thu thập dữ liệu, đề tài
khóa luận sẽ chỉ chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu qua các nguồn
còn sử sử dụng các phương pháp khác như phương pháp đồ thị, biểu đồ, hình vẽ
hay mô hình. Từ các bảng số liệu lập ra biểu đồ để thông qua đó quan sát và rút
ra những đánh giá tổng quát về thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty
trong những năm gần đây.
6. KẾT CẤU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP.
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục
sơ đồ, hình vẽ, danh mục từ viết tắt, tài liệu tham khảo và các phụ lục thì khóa
luận có kết cấu như sau:
Chương 1. Một số lý luận cơ bản về ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương 2. Thực trạng của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh doanh của
công ty.
Chương 3. Các đề xuất và kiến nghị nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của suy
thoái kinh tế tới hoạt động kinh doanh của công ty.
6 |
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY
THOÁI TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Trong giai đoạn hiện nay thì suy thoái kinh tế là một vấn đề bước thiết được
rất nhiều người và tổ chức quan tâm, nghiên cứu và nó có rất nhiều hình thức
biểu hiện cụ thể khác nhau ảnh hưởng tới nền kinh tế. Tuy nhiên thì chúng ta chỉ
đi nghiên cứu một số khái niệm cơ bản về suy thoái kinh tế, được nhắc đến trên
các phương tiện truyền thông đại chúng. Gồm có 3 khái niệm cơ bản bao gồm:
Suy thoái kinh tế và suy thoái kinh tế toàn cầu, khủng hoảng tài chính.
1.1 KHÁI NIỆM SUY THOÁI KINH TẾ VÀ SUY THOÁI KINH TẾ
TOÀN CẦU. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
a, Suy thoái kinh tế và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Từ trong kinh tế học vĩ mô, suy thoái kinh tế được định nghĩa như sau:
“Suy thoái kinh tế là sự suy giảm sản lượng GDP của một quốc gia, hoặc tăng
trưởng âm trong hai quý liên tiếp trở lên trong một năm”
Còn theo quan điểm của cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gian (NBER) Hoa
nhận/thanh thoán, hình thành tài sản có/tài sản nợ. Khi xảy ra hiện tượng mất cân
đối nghiêm trọng giữa tài sản có và nghĩa vụ phải thanh toán về số lượng, thời
hạn, chủng loại tiền thì có thể xãy ra khủng hoảng tài chính.
Như vậy, khủng hoảng tài chính là khái niêm bao trùm được sử dụng chung
cho mọi khủng hoảng gắn với mất cân cân đối về tài chính và thường gắn với
nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một
thời điểm nào đó. Chính vì vậy, khủng hoản tài chính có đặc điểm của khủng
hoảng “thiếu” chứ không giống khủng hoảng “thừa” diễn ra trong nèn kinh tế thị
trường từ nhiều năm nay. Khủng hoảng tài chính liên quan đén cấu trúc tài chính
và nền kinh tế tiền tệ trong khi khủng hoảng kinh tế liên quan đến cấu trúc kinh
tế và nền kinh tế thực. Cuộc khủng hoảng tài chính đề cập trong khóa luận là
cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 mà kéo theo nó là suy thoái kinh tế thế
giới. Suy thoái kinh tế thế giới có thể được hiểu là việc các giá trị kinh tế vĩ mô
như tổng sản phẩm quốc dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế giá trị sản phẩm công
nghiệp giảm sút năm này qua năm khác. Suy thoái kinh tế hiện nay là hậu quả
trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
c, Các kiểu suy thoái kinh tế.
Các nhà kinh tế học hay miêu tả kiểu suy thoái kinh tế theo hình dáng của
đồ thị tăng trưởng theo quý. Có các kiểu suy thoái sau hay được nhắc đến:
Suy thoái hình chữ V: Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độ
suy thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh;
điểm đồi chiều giữa hai phá này rõ ràng. Đây là kiểu suy thoái thường thấy.
8 |
Hình 1.1 Suy thoái hình chữ V, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa
Kỳ năm 1953
Nguồn: Tổng cục thống kê
Suy thoái hình chữ U: Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất
chậm. Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để
thoát khỏi suy thoái. Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, có thể có các quý tăng
trưởng dương và tăng trưởng âm xen kẽ nhau.
Ở Việt Nam, cho đến đầu thập niên 1990, trong một số sách về kinh tế các
nước tư bản chủ nghĩa, khi đó về chu kỳ kinh tế thường gọi tên bốn pha này là
khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Hiện nay, không còn thấy cách
gọi này nữa.
Các pha của chu kỳ kinh tế:
Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người
ta quy rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm trong hai quy
liên tiếp thì mới gọi là suy thoái.
Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy
thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ.
Hưng thịnh: là khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay
trước lúc suy thoái. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm
ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
11 |
Từ nghiên cứu trên thấy, nền kinh tế diễn ra theo một chu kỳ đầy đủ với đầy
đủ ba pha kinh tế tuần tự (suy thoái, phục hồi, hưng thịnh). Suy thoái kinh tế là
pha đầu tiên của chu kỳ kinh tế và ngay trước đó là pha hưng thịnh của chu kỳ
kinh tế trước, sau đó là pha phục hồi và hưng thịnh của chu kỳ kinh tế mới. Từ
đó cho thấy suy thoái kinh tế cũng mang tính chu kỳ.
1.2.1.2 Sơ lược về cuộc suy thoái kinh tế 2007 – 2008.
Khủng hoảng tài chính ở Mỹ - xuất phát điểm cảu suy thoái toàn cầu hiện
nay.
Khủng hoảng tại Mỹ được đánh dấu bằng sự đổ vở với hệ thống ngân hàng
ở đây. Tình trạng thua lổ, phá sản thường chỉ xảy ra trong các ngân hàng nhỏ và
trung bình ở Mỹ. Nhưng kể từ tháng 8/2008, tình trạng này đã lan sang các ngân
hàng có tầm ảnh hưởng lớn trong hệ thống tài chính toàn cầu. Fredtic mac và
frannie max là hai tập đoàn cho vay thế chấp khổng lồ của Mỹ. Nếu hai tập đoàn
này sụp đổ thì hệ thống tài chính toàn cầu sẽ rơi vào một cú sốc lớn. Vì thế. Để
tạm thời ngăn chặn sự việc này, ngày 07/09/2008, Chính phủ Mỹ đã phải bỏ ra
25 tỷ USD để tiếp quản hai tập đoàn này.
chính Mỹ. Mặc dù đã được hỗ trợ từ năm 2007 nhưng tính đến hết tháng 7 năm
2008 thì northern Rock chịu khoản nợ xấu lên tới 191,6 tỷ USD. Do tình trạng
tổn thất tín dụng ngày càng gia tăng, trong tháng 7 và đầu tháng 8/2008, Bộ tài
chính Anh đã phải bơm them 3 tỷ bảng anh (tương đương 5,86 tỷ USD) để cứu
ngân hàng này.
Ngày 29/09/2008, nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng chịu thua lỗ lớn,
không có khả năng trụ vững do liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ,
Bộ tài chính Anh đã tuyên bố quốc hữu hóa tập đoàn cho vay kinh doanh bất
động sản lớn nhất nước là Bradford & Bingley Pic. Tổng gía trị các khoản thế
chấp và vay trên sổ sách là 50 tỷ bảng.
Lối tiếp các ngân hàng của Anh là một số ngân hàng lớn khác tại Châu Âu
như Fortis của Bỉ và Lucsxămbua, Dexia của Bỉ và Pháp. Đầu tháng 10/2008,
ngân hàng Hypo real Estate của Đức cũng lâm vào khủng hoảng và chính phủ
Đức phải cứu trợ bằng biện pháp tài chính cần thiết. Vào ngày 08/01/2009, chính
phủ Đức đã tuyên bố quốc hữu hóa ngân hàng thương mại lớn thứ hai của Đức là
Commerzbank, để cứu ngân hàng này khỏi bị phá sản. Dấu hiệu đầu tiên và rõ
ràng nhất cho thấy nền kinh tế nước này bước vào giai đoạn suy thoái là GDP
liên tục giảm trong quý II năm 2008 đã giảm 0.4% quý III/2008 giảm o.5%. Sự
sụt giảm tăng mạnh hơn so với dự báo của kinh tế Đức là từ thương mại quốc tế,
với sự tăng mạnh của nhập khẩu trong khi xuất khẩu giảm.
13 |
Tại Nga, hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, chúng khoán cũng bị
ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong tháng 9 năm 2008, đợt suy giảm thị trường
chứng khoán cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong tháng 9/2008, đợt suy giảm
thị trường chứng khoán diễn ra đã làm mất 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu thị
trường. Tính đến ngày 07/10/2008, thị trường chứng khoán Nga đã 2 lần tạm thời
đóng cửa và chỉ số chứng khoán giảm mạnh. Chỉ trong 3 tuần cuối của tháng 9 và
đầu tháng 10/2008 ngân hàng Trung ương Nga đã phải tung ra thị trường 170 tỷ
USD để cứu các ngân hàng và các công ty tài chính. Để hổ trợ cho các ngân
hàng, ngày 08/10/2008, Tổng thống Nga công bố kế hoạch cho vay với thời hạn
dưới chuẩn. Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và
trả lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, một số sự liên kết rất chặt
chẽ giữa tình hình lãi suất và tình hình của thị trường bất động sản. Khi lãi suất
thấp và dễ vay mượn được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín
dụng bất động thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao làm cho
bong bóng nhà đất hình thành, đảy giá nhà xuống thấp. Kahi nền kinh tế đi
xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro
tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động
sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản
càng tăng làm cho giá bất động sản càng giảm. điều này có nghĩa giá trị tài sản
đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng. Vòng xoáy khủng
hoảng cứ tiếp tục vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh. Các ngân hàng
đầu tư mặc dù không nắm gữi toàn bộ rui ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp
duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả là
hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh.
Thứ hai: Hệ thống tín dụng đổ vỡ.
Sự co lại của thị trường tín dụng, sự đổ vỡ của các thị trường các công cụ
phái sinh như CDS có mức đọ ảnh hưởng còn lớn hơn sự đổ vỡ của bong bóng
nhà đất rất nhiều. Trong cho vay nhà đất lẫn trong thị trường nợ việc dùng đòn
bẩy tài chính là hết sức quan trọng. Một doanh nghiệp có thể đi vay ba nếu có
vốn riêng là một, như vậy được gọi là sử dụng đòn bẩy bằng ba lần. Các doanh
nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thực nếu có đòn bẩy tài chính không lớn hơn
ba thì được coi là bình thường. Với hình thức này, trong trường hợp rủi ro người
đi vay sẽ chịu rủi ro đầu tiên và khi đòn bẩy càng cao thì tức là rủi ro càng lớn.
Khi cho vay, các ngân hàng thường chú ý tới hệ số đòn bẩy nảy bởi vì nếu hệ số
đòn bẩy quá cao, thì khi có lãi người vay được lợi, khi thua lỗ thì ngân hàng gánh
chịu. Trên thị trường tài chính, các ngân hàng sử dụng đòn bẩy cao hơn, có khi
lên tới hàng trăm lần do các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính không có
quy định nghiêm ngặt về vấn đề này.
Thứ ba: Thiếu cơ chế giảm sát chặt chẽ.
trong khi đó các mục tiêu ngắn hạn (hàng năm) đặc biệt quan trọng trong việc
thực hiện các chiến lược. Đó là cơ sở để doanh nghiệp tính toán phân bố các
nguồn lực. Trong doanh nghiệp có nhiều bộ phận. Các mục tiêu được thiết lập
cho toàn công ty và cho mỗi bộ phận.
16 |
1.2.3.2 Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hiện trạng môi trường kinh tế vĩ mô quyết định sức mạnh và tiềm lực của
nền kinh tế. Điều này sẽ có tác dụng đến khả năng tìm kiếm được lợi nhuận của
công ty. Các chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng là:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế: có ảnh hưởng trực tiếp tốc độ của những cơ hội
và mối đe dọa mà công ty đang phải đối mặt. Tăng trưởng kinh tế cao đưa đến
khả năng tiêu dùng cao hơn, vì thế mà giảm bớt áp lực cạnh tranh cho cong ty.
Ngược lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp sẽ làm giảm việc tiêu dùng tăng áp ực
về cạnh tranh, đe dọa đến lợi nhuận của doanh nghiệp, diều này dẫn đến chiến
tranh về giá giữa các doanh nghiệp.
Lãi suất: mức độ về tỷ lệ lãi suất quyết định mức độ nhu cầu đối với các sản
phẩm của doanh nghiệp, bởi vì nó sẽ là quan trọng trường hợp người tiêu dùng đi
vay tiền để mua sản phẩm (ví dụ mua nhà, mua ô tô…). Thêm vào đó tỷ lệ lãi
suất sẽ có ảnh hưởng tới chi phí vốn cho việc đầu tư của công ty, và chi phí này
là một yếu tố quan trọng để quyết định xem chiến lược đầu tư có khả thi hay
không (dự báo lãi suất thấp: nên đầu từ và ngược lại).
Các chính sách của nhà nước: trong thời kỳ suy thoái kinh tế, các chính
sách ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát được ưu tiên hơn là tăng trưởng
kinh tế. Nhà nước sẽ ban hành các chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất, các gói
kích cầu… để hạn chế tác động của suy thoái kinh tế và doanh nghiệp là đối
tượng trực tiếp ảnh hưởng bởi các chính sách này.
Tỷ giá: một trong những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp của quan hệ tỉ giá
là xuất nhập khẩu. Nếu đồng nội tế mất giá có tác động kích thích xuất khẩu, hạn
chế nhập khẩu và ngược lại. Hầu hết các nước trên thế giới để thoát khỏi khủng
Chỉ tiêu lợi nhuận theo chi phí: tỷ xuất lợi nhuận theo chi phí = lợi nhuận
trong kỳ/Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ x 100.
Chỉ tiêu này phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố chi phí trong sản xuất.
Nó cho thấy với một đồng chii phí tạo ra bao nhiêu lợi nhuận. Chỉ tiêu này có
hiệu quả nếu tốc độ tăng lợi nhuận tăng nhanh hơn tốc độ tăng chi phí.
1.3 NỘI DUNG VÀ NGUYÊN LÝ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
HƯỞNG CỦA SUY THOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP.
1.3.1 Ảnh hưởng của suy thoái đến hoạt động của doanh nghiệp.
1.3.1.1 Ảnh hưởng đối với đầu vào của doanh nghiệp.
18 |
• Ảnh hưởng đến vốn của công ty
Điểm yếu lớn nhất hiện nay và có ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp chính là vấn đề nguồn vốn. Nền kinh tế và các
doanh nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào vốn vay từ hệ thống tín
dụng ngân hàng. Trong khi đó cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng còn
nhiều rủi ro, chủ yếu là sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn,
hoạc vốn huy động từ khách hàng đối với các dự án bất động sản, do đó thiếu hụt
nguồn vốn trung và dài hạn ổn định cho nền kinh tế. Khi nảy ra suy thoái kinh tế
tức tổng sản lượng quốc gia giảm, tính lũy của nền kinh tế giảm dẫn đến lượng
vốn tái đầu tư cũng giảm. Mặt khác, do niềm tin của người dân sụt giảm nên học
hạn chế gửi tiền, vốn huy động từ tiền gửi của dân từ đó cũng giảm. Các ngân
hàng hạn chế cho vay nên doanh nghiệp rất khó khăn để vay vốn kinh doanh.
Hơn nữa, trong bối cản suy thoái kinh tế thì chính sách tiền tệ sẽ chưa được
nới lỏng trong ngắn hạn do chính phủ phải ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô, cộng với việc hệ thống ngân hàng đang đối mặt với nhiều khó
khăn do đó sẽ thắt chặt vốn tín dụng hơn, thị trường chứng khoán và bất động
sản trì trệ kéo dài sẽ dẫn đến một thực tế là các doanh nghiệp sẽ ngày càng khó
khăn hơn về việc tìm nguồn vốn trong thời gian tới.
• Ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi mà doanh số bán hàng giảm, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp tất yếu sẽ
dẫn đến tổng doanh thu của doanh nghiệp sẽ giảm, điều này tác động trực tiếp
đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, hiện tại cũng như tương lai của
doanh nghiệp
1.3.1.3 Ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận thì bằng khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra. Vì
vậy hai yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận chính là doanh thu và chi phí.
Khi bị tác động của suy thoái kinh tế khiến cho giá các yếu tố đầu vào tăng
cao, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuât hay giá thành sản phẩm đầu
ra. Giá thành sản phẩm, dịch vụ đầu ra tăng lên làm ảnh hưởng đến việc tiêu thụ,
khả năng làm giảm doanh thu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ là rất lớn. Lạm phát làm
cho giá trị thực của các tài sản khấu hao nhiều hơn, phải nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp cao hơn khiến lợi nhuận giảm sút.
Như vậy là khi bị tác động của suy thoái kinh tế thì chi phí sản xuất, chi phí
cho các yếu tố đầu vào thì tăng lên trong khi doanh thu không tăng hoặc tốc độ
20 |
tăng không bằng với tốc độ tăng của chi phí bỏ ra dẫn đến lợi nhuận của DN
giảm xuống.
1.3.2 Nguyên lý giải quyết vấn đề ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.3.2.1 Giải quyết vấn đề đầu vào.
• Giải quyết vấn đề về vốn
Để tránh phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn ngân hàng và tìm kiếm được
nguồn vốn dài hạn ổ định hơn các doanh nghiệp cần:
Đa dạng hóa kênh hoạt động vốn thông qua hình thức: Mở rộng quan hệ
hợp tác, liên doanh với các công ty trong và ngoài nước; các quỹ đầu tư nước
ngoài.
Huy động vốn thông qua việc phát hành các công cụ tài chính: Cổ phiếu,
trái phiếu doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Tăng cường quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả hơn, để tránh lãng phí và
quản trị chất lượng cao để nâng cao hiệu quả quả lý: phần mềm ERP, Internet,
LAN…
Tìm cách giải quyết hàng tồn kho, tránh tình trạng ứ đọng hàng làm chậm
quá trình xoay vòng vốn, hư hỏng hàng hóa…
• Đa dạng hóa thị trường.
Trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp có thể không đủ tiềm lực để mở rộng
thị trường, thay vào đó có thể tập trung phát triển các phân khúc thị trường tiềm
năng nhất, tránh đầu tư dàn trải gây mất hiệu quả kinh doanh.
Doanh nghiệp cũng có thể mở rộng đối tượng khách hàng, hướng đến
những đối tượng ngoài tập khách hàng mục tiêu để tăng khả năng tiêu thụ sản
phẩm.
• Đa dạng hóa sản phẩm.
Thay đổi cơ cấu sản phẩm cũng là một giải pháp tăng sức tiêu thụ cho
doanh nghiệp. Nghiên cứu những mẫu mã mới, nắm bắt xu hướng của thị trường
để tung ra các loại sản phẩm kích thích nhu cầu của khách hàng.
Đông thời doanh nghiệp cũng cần xây dựng chiến lược marketing và định
hướng phát triển thương hiệu, uy tín, sản phẩm của công ty. Duy trì và phát triển
thương hiệu bằng cách tham gia các hoạt động vì cộng đồng, xã hội, lập bộ phân
22 |
phòng ban chuyên về quản trị thương hiệu, quảng bá hình ảnh của công ty sử
dụng sức mạnh truyền thông…
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ
ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ
TMT.
2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ MÔI
TRƯỜNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN Ô TÔ TMT.
2.1.1 Tổng quan tình hình suy thoái kinh tế và hệ lụy của suy thoái kinh tế thế giới
những năm gần đây.
Thứ nhất, kinh tế thế giới vẫn nhiều mây đen và bão táp.
nghèo khổ và bị gạt ra ngoài lề xã hội. Trong bối cảnh đó những người nhập cư
ngày càng khốn khổ hơn. Số người thất nghiệp tăng mạnh, thu nhập của họ
không có, do vậy nhu cầu của nền kinh tế sẽ bị giảm sụt – lại là một vòng xoáy
làm cho khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng hơn.
Thứ hai, Hệ lụy của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 – 2008 vẫn còn
nghiêm trọng và kéo dài
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 – 2008 đã được xem là
nghiêm trọng nhất định từ cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933. Đối phó với cuộc
khủng hoảng này các ngân hàng Trung ương và các Chính phủ từ Đông sang Tây
đều đã ào ạt đổ ra hàng chục tỷ USD để chống đỡ với các gọi cứu trợ liên tục.
Nhưng cứ tiêu hết gói cứu trợ, thì nền kinh tế lại có nguy cơ suy thoái, các ngân
hàng Trung ương và các Chính phủ phải bơm them tiền. Một câu hỏi được đặt ra
là liệu tiền có thể cứu được nền kinh tế khỏi khủng hoảng hay không?. Có thẻ
khẳng định là hàng ngàn tỷ USD đã được tung ra, đã tạm thời ngưng được chiều
hướng suy thoái kinh tế, nhưng chắc chắn không thể chấm dứt được cuộc khủng
hoảng này. Lý do là cuộc khủng hoảng này có nguyên nhân sau xa từ kết cấu và
thể chế của nền kinh tế toàn cầu. Cho đến nay nền kinh tế toàn cầu về cơ bản dựa
trên nền tảng công nghệ cơ điện tử - tiêu hao các nguồn tài nguyên không tái tạo,
gây ô nhiểm môi trường… Các nguồn tài nguyên không tái chế này càng ngày
càng cạn kiệt dần, chi phí khai thác ngày càng tăng, nhu cầu ngày càng lớn (do
tốc đọ tăng trưởng các nước đang phát triển cao hơn), do vậy giá cũng càng gia
tăng. Ô nhiễm môi trường cả nguồn nước và không khí ngày càng nghiêm trọng
đang làm trái đất nóng lên, dẫn đến biến đổi khí hậu… đe dọa sự tổn vong của
trái đất.
Người ta đã kỳ vọng vào những thành quả của cách mạng khoa học – kỹ
thuật để giải quyết những vấn đề bức bách trên. Nhưng cho đến nay những thành
tự của khoa học – công nghệ dù đã được đánh giá là to lớn, kỳ diệu, nhưng nhân
loại vẫn chưa tìm được những nguồn nguyên liệu mới thay thế cho những nguyên
liệu không tái tạo và đang cạn kiệt. Cuộc cách mạng xanh cũng mới đạt được
những kết quả đang còn hạn chế. Nhưng năng lượng hạt nhân vẫn còn chưa đạt
bảo đảm kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng kinh tế khá (bình quân đạt
7,3% thời kỳ 2001-2010), GDP năm 2010 gấp 2 lần năm 2000, nước ta đã ra khỏi
tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo
giảm nhanh và đã hoàn thành hầu hết mục tiêu Thiên niên kỷ cam kết với quốc
tế, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững
Thế nhưng, ngay sau khi Đại hội XI bế mạc (19/1/2011), tình hình kinh tế
đã nhanh chóng xuất hiện những dấu hiệu bất ổn. Những yếu kém vốn có của nền
kinh tế cùng những nhiệm vụ của đổi mới thể chế chưa được giải quyết dồn tích
25 |