Sở giáo dục & đào tạo thanh hoá.
Trờng thpt hoằng hoá 4.
*** .
Sáng kiến kinh nghiệm
đề tài: một số kinh nghiệm ra đề bài, xây dựng đáp án,
biểu điểm cho bài làm văn nghị luận xã hội lớp 12. Họ và tên: lê xuân toàn
Giáo viên Trờng THPT Hoằng Hoá 4.
1
Năm học: 2010- 2011.
Phần một.
I. Đặt vấn đề:
Về kiểu bài nghị luận xã hội, Bộ giáo dục và Đào tạo đã quy định trong cấu
trúc đề thi 2010. Theo đó học sinh phải vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để
viết bài nghị luận xã hội ngắn( khoảng 600 từ). Có hai dạng bài cụ thể là:
- Nghị luận về một t tởng đạo lý.
- Nghị luận về một hiện tợng đời sống.
Thầy giáo và học sinh cần bám vào quy định trên để định hớng ôn tập và làm bài
cho hiệu quả. Điều rất cần lơu ý là dung lợng bài viết dành cho các bài kiểm tra
trên lớp, thi tốt nghiệp THPT khoảng 400 từ; các kỳ thi đại học và cao đẳng
khoảng 600 từ. Vấn đề nghi luận xã hội ra đề trên lớp là do giáo viên chọn những
đề nào thích hợp ra cho học sinh làm, chắc chắn là độ khó không cao còn đề thi ở
kỳ thi tốt nghiệp THPT thì độ khó sẽ cao hơn và ở kỳ thi đại học và cao đẳng
chắc chắn sẽ khó hơn và phức tạp hơn nhiều để đáp ứng yêu cầu của kỳ thi tuyển.
Ơ kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh qua những trải nghiệm của chính bản thân,
trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình
về các vấn đề xã hội từ đó rút ra đợc bài học( nhận thức và hành động) cho bản
thân. Để làm tốt kiểu bài này, học sinh không chỉ vận dụng những thao tác cơ
tập, nắm bắt cuộc sống thì mới giải quyết các vấn đề xã hội một cách thấu đáo và
thuyết phục.
3
Học sinh phải biết cách trình bày vốn hiểu biết đó một cách khoa học, lập luận
chặt chẽ đúng đắn, lý lẽ sắc sảo hợp tình hợp lý, lời văn trau chuốt co giản hài
hoà, dẫn chứng đa ra vừa tiêu biểu vừa có giá trị thuyết phục cao.
Xuất phát từ những vấn đề trên, là một giáo viên dạy THPT đã có trên 20 năm,
qua những kinh nghiệm đúc rút đợc từ thực tế giảng dạy, quá trình nỗ lực học hỏi
của bản thân, tôi mạnh dạn viết những vấn đề về Một số kinh nghiệm ra đề bài,
xây dựng đáp án, biểu điểm cho bài làm văn nghị luận xã hội lớp 12.
II. Thực trạng về cách tổ chức ra đề bài nghị luận xã hội.
Qua thực tế giảng dạy ở hai lớp 12 C1 và 12 C10, và trao đổi chuyên môn, dự
giờ trong tổ về việc ra đề kiểm tra, xây dựng đáp án, biểu điểm, tìm hiểu kết quả
làm bài của học sinh, tôi thấy đợc những vấn đề nh sau:
- Trình độ giáo viên đều đạt chuẩn trở lên, một thạc sĩ, một đại học. Giáo án
soạn chi tiết, khoa học, đổi mới. Học sinh đa số chăm ngoan tích cực học tập.
- Các vấn đề xã hội thì rất phong phú nhng để ra một đề nghị luận xã hội hay,
khơi gợi hứng thú học sinh thì còn nhiều hạn chế. Đáp án đề bài nghị luận xã hội
thì còn chung chung, mang tính hình thức công vụ, đầu t cha cao. Từ đó dẫn đến
thực trạng là biểu điểm còn chung chung, điểm trung bình chiếm trên 90%, điểm
khá giỏi ít và điểm yếu kém lại càng hạn chế hơn, cha đánh giá chính xác, phân
loại đợc học sinh. Bài viết của học sinh thờng rơi vào tình trạng khô khan, viết
các ý chung chung, diễn đạt rời rạc, lủng củng, lộn xộn. Ngời chấm thờng gặp
các bài viết na ná nh nhau, nhàm chán, đơn điệu. Một phần nữa là do kiến thức
xã hội của một bộ phận học sinh còn quá nghèo nàn nên trình bày cách hiểu
nhầm lẫn, sai lệch một cách tai hại. Kỹ năng diễn đạt yếu nên bài văn hệ thống
lộn xộn, bố cục không rõ ràng.
Đây là kết quả theo dõi hoạt động của học sinh hai lớp 12C1 và 12C10 của tr-
ờng THPT hoằng hoá4 năm học 2010- 2011:
1.Đề bài 1:
Hãy viết một bài nghị luận với nhan đề: Nói nhiều- một căn bệnh khó chữa.
Gợi ý đáp án, biểu điểm:
1. Về kĩ năng: Đây là dạng đề mở học sinh có thể trònh bày theo cách hiểu của
mình dới nhiều góc độ khác nhau.
Bài viết cần đảm bảo kết hợp nhiều những thao tác: giải thích, chứng minh, phân
tích, bình luận, cảm nghĩ Lời văn mạch lạc, sáng sủa, lập luận chặt chẽ, dẫn
chứng chính xác, tiêu biểu, thuyết phục, bố cục rõ ràng.
2. Về kiến thức:
a. Giải thích tại sao nối nhiều lại đợc coi là bệnh? ( 1 điểm).
Một sự việc, hiện tợng nói đi nói lại nhiều lần tạo cảm giác khó chịu cho ngời
khác. nói nhiều mà không có hiệu quả bằng nói ít. Vì cứ sợ ngời ta cha hiểu ý
mình, hoặc cố nhấn mạnh một vấn đề gì đó nên nói nhiều lần. Khi nói nhiều làm
ngời ta tiêu hao năng lợng, khi im lặng ngời ta tích luỹ đợc năng lợng. Năng lợng
cần cho sự phát triển trí tuệ để làm việc có ích. Nói nhiều đến nỗi sau đó không
nhớ đợc là mình nói những gì thì đã trở thành bệnh.
b. Tác hại của nói nhiều: (1,5 điểm)
- Bệnh từ miệng đa vào, tai vạ từ miệng đa ra.
- Nói nhiều làm mất thì giờ của bản thân mình và của ngời khác, nhất là tập
thể.
- Nói nhiều còn gây mất đoàn kết ở tập thể, gây mất tình cảm gia đình; vợ
hoặc chồng nói nhiều dễ xảy ra xô xát tan vỡ gia đình. Những ngời làm công tác
quản lý, lãnh đạo mắc bệnh nói nhiều làm ảnh hởng không nhỏ đến thì giờ của
mọi ngời.
c. Cách khắc phục, liên hệ mở rộng:(0,5 điểm).
6
- Nên nói những gì cần thiết, có tác dụng.
- Cần suy nghĩ kỹ càng trớc khi nói. Ngời xa vẫn dạy: uốn lỡi bảy lần trớc
khi nói.
- Phải biết dành thời gian để nhìn lại mình và lắng nghe ngời khác nói. Ham
chính mình, không dám đảm nhận những công việc đợc giao. Ngợc lại tự tin là
thái độ sống tự cao tự đại, kiêu căng tự phụ, coi thờng kỹ cơng phép nớc , cá nhân
hẹp hòi, chỉ biết mình mà không biết đến ngời khác. Ví dụ: một bạn học sinh tự
cao tự đại trớc các bạn là cha ngoan, cha hoà nhập bạn bè, ngời học sinh đó sẽ bị
mọi ngời xa lánh. Một bạn học sinh nhút nhát sẽ trở nên mờ nhạt và khó đạt kết
quả cao trong học tập, không hoà nhập với bạn bè, dần dần bị xa lánh.
d. Bài học nhận thức hành động: (0,5 điểm).
- Để có đợc sự tự tin, cần trang bị đầy đủ kiến thức, tham gia các hoạt động
giao tiếp. Tích cực học tập và lao động, sáng tạo trong công việc, mạnh dạn đổi
mới trong công tác.
- Lạc quan vui vẻ trong mọi tình huống. Thắng không kiêu, bại không nản.
Vững vàng trong mọi tình huống. Đoàn kết với mọi ngời.
* Lu ý: ở những dạng đề bài này học sinh cần phải giải thích khái niệm, phân
tích, chứng minh, bình luận, bàn luận mở rộng, rút ra bài học nhận thức và hành
động cho bản thân.
3. Đề bài 3:
Viết văn bản ngắn không quá 600 từ trình bày ý kiến anh( chị) về câu nói sau
đây của nhà văn Nga Lép Tôn xTôi:
Bạn đừng nên chờ đợi những quà tặng bất ngờ của cuộc sốngmà hãy tự mình
làm nên cuộc sống.
Gợi ý đáp án và xây dựng biểu điểm:
8
1. Về kỹ năng làm bài: - Đây là một đề bài thuộc loại nghị luận xã hội về đạo
lý cuộc sống dới dạng đề mở nên học sinh có thể chủ động tìm hiểu theo nhiều h-
ớng khác nhau miễn sao bám sát vào yêu cầu của đề bài. Bài viết ngắn nhng phải
đầy đủ bố cục 3 phần; từ ngữ trong sáng giàu hình ảnh, văn phong trôi chảy;
không sai lỗi ngữ pháp và lỗi chính tả; lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục; luận
điểm, luận cứ rõ ràng mạch lạc; bài văn hấp dẫn
2. Về nội dung:
a. Giải thích câu nói( 0,5 điểm): - Quà tặng bất ngờ có thể hiểu theo cả nghĩa
bằng lòng với hiện tại, với nhỡng gì mình có) thì cần phải hiểu đợc tầm quan
trọng của những khát vọng, ớc mơ đối với con ngời trong cuộc sống.
- Một điều nữa cần lu ý là không đợc sa vào phân tích câu danh ngôn, ngạn
ngữ, tục ngữ, câu chuyện, văn bản nh là một bài nghị luận văn học.
4. Đề bài 4:
Suy nghĩ về câu danh ngôn sau: Những ngời có tâm hồn cao thợng không bao
giờ cô đơn.
Gợi ý đáp án và xây dựng biểu điểm:
1. Về kỹ năng: Bài làm đợc trình bày dới hình thức một bài nghị luận xã hội.
Ngời viết cần thể hiện đợc những suy nghĩ, tình cảm và hớng hành động của bản
thân trớc vấn đề bài đặt ra. Những suy nghĩ tình cảm và hớng hành động của ngời
viết là những cách suy nghĩ riêng, phù hợp với đạo đức, lối sống và truyền thống
tốt đẹp của dân tộc.
- Luận điểm, luận cứ mạch lạc; lập luận chặt chẽ, giàu thuyết phục; bố cục ba
phần; hành văn sáng sủa, trôi chảy.
2. Về kiến thức: Học sinh cần xác định vấn đề nghị luận từ câu danh ngôn: ca
ngợi những con ngời có tâm hồn cao thợng, họ sẽ luôn luôn đợc mọi ngời trân
trọng, yêu quý ủng hộ, nên không bao giờ cô đơn. Từ đó đặt ra vấn đề về lối
10
sống, văn hoá, hành vi ứng xử kêu gọi mọi ng ời hớng tới những giá trị nhân
văn để xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Bài làm cần có các ý:
a. Giải thích: cao thợng là gì?( 0,5 điểm): Cao thợng mang hàm nghĩa rộng,
một số từ điển giải thích nh sau: cái cao cả vợt hẳn lên những cái tầm thờng nhỏ
nhen về phẩm chất tinh thần. Cao thợng là lối sống đẹp. Cao thợng rất cần thiết
trong ứng xử giữa con ngời với con ngời.
- Ngời có tâm hồn cao thợng là ngời nh thế nào? ( suy nghĩ, hành động, việc
làm vì mục đích tốt đẹp, vì cộng đồng, mang đến niềm vui, hạnh phúc cho ngời
khác). Ngời có lòng cao thợngcó đức hy sinh, có đạo đức, có ý chí, lòng quả cảm,
sống trung thực, luôn muốn mọi thứ tốt đẹp, có cái nhìn lạc quan, có tấm lòng vị
tha, khoan dung độ lợng, cao cả đoàn kết, biết chia sẻ nhau lúc khó khăn hoạn
Sau khi tiến hành ra đề, xây dựng đáp án và biểu điểm cho bài làm văn nghị
luận xã hội lớp 12 một cách chi tiết, khoa học; trong quá trình giảng dạy, rèn
luyện kỹ năng làm bài nghị luận cho các em, cụ thể ở hai lớp 12C1 và 12C10, tôi
thu đợc những kết quả sau:
- Học sinh tham gia làm bài hứng thú, đầy đủ.
- Học sinh tích cực tìm tài liệu tham khảo, xử lý các thông tin trên mạng, ti vi,
báo chí
- Chất lợng bài làm của học sinh đợc nâng lên một cách rõ rệt, kiến thức đợc
khắc sâu. Đặc biệt là phát huy đợc tính tích cực sáng tạo của học sinh.
- Trong quá trình chấm bài và trả bài cho học sinh, giáo viên luôn chú ý khắc
phục những tình huống xảy ra, những nhợc điểm th]ngf hay mắc phải khi làm bài
nghị luận xã hội nh: viết chung chung, khô khan, thiếu sự uyển chuyển mềm mại.
Kết quả cụ thể nh sau:
12
a. Về hứng thú của học sinh:
- Mức độ rất hứng thú: 50hs/100hs = 50%hs.
- Mức độ hứng thú: 50hs/100hs = 50%hs.
b. Mức độ huy động kiến thức:
- Sự hiểu biết xã hội cao: 60hs/100hs= 60%hs.
- Sự hiểu biết tri thức xã hội khá và trung bình: 40hs/100hs = 40%hs.
c. Mức độ sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, lập luận:
- Khá, giỏi : 60hs/100hs = 60%hs.
- Trung bình: 40hs/100hs = 40%hs.
- Yếu kém : không.
d. Chất lợng chung:
- Điểm khá, giỏi: 70hs/100hs = 70%hs.
- Điểm trung bình: 30hs/100hs = 30%hs.
- Điểm yếu : không có.
2. Bài học kinh nghiệm:
Quá trình lên lớp, giáo viên quan sát, nắm vững chất lợng học sinh, phân loại
Ngời viết :
Lê Xuân Toàn.14 15