BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC QUẢN TRỊ RỦI RO TRƯỚC, TRONG VÀ SAU CUỘC
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008-09
GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
NHÓM 18:
HUỲNH THỊ TƯỜNG VI – NHÓM TRƯỞNG
BÙI NGỌC ĐOAN TRINH
HOÀNG TRUNG KIÊN
LỚP: TCDN NGÀY 2
KHÓA 21 TP. HỒ CHÍNH MINH 03/2013
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 1
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 2
I. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008 – QUẢN TRỊ RỦI RO 3
HUỲNH THỊ TƯỜNG VI – NHÓM TRƯỞNG
BÙI NGỌC ĐOAN TRINH
HOÀNG TRUNG KIÊN
LỚP: TCDN NGÀY 2
KHÓA 21 TP. HỒ CHÍNH MINH 03/2013
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
uộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-09 đã để lại một dấu ấn không thể phai
mờ đối với các tổ chức kinh tế và tài chính trên toàn thế giới, và câu hỏi mà các nhà đầu
tư đặt ra là, tại sao cuộc khủng hoảng tài chính lại xảy ra và lại tồi tệ đến như vậy? Khi
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, thì ai cũng cho rằng đó là do bong bóng nhà
đất, và việc cho vay dưới chuẩn của các định chế tài chính Mỹ gây ra. Tuy nhiên, đó có
phải là nguyên nhân thực sự gây ra cuộc khủng hoảng? Theo tác giả Gabriele Sabato của
bài nghiên cứu “Financial Crisis: Where did the risk management Fail” thì nguyên nhân
sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-09 là do sự quản trị rủi ro yếu kém của
các định chế tài chính. Nếu đúng như nhận định của Gabriele Sabato thì câu hỏi được đặt
ra là vai trò của CRO ở đâu và họ đã làm gì để giúp công ty vượt qua được cuộc khủng
hoảng. Bài nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về vai trò, vị trí của CRO trong
doanh nghiệp, cũng như việc lựa chọn mô hình quản trị rủi ro tối ưu cho từng thời kỳ như
thế nào? Và cuối cùng là những kim chi nam (framework) cho các nhà quản trị trong việc
quản trị rủi ro như thế nào? Bài nghiên cứu cũng đưa ra một số phương pháp để quản trị
rủi ro như sử dụng thị trường phái sinh để phòng ngừa rủi ro như thế nào?
nguyên nhân gây ra sự thất bại của quản trị rủi ro đó là: (1) chiến lược phân bổ
nguồn vốn ; (2) Khả năng nhìn nhận rủi ro; (3) Cơ cấu quản trị rủi ro .
1. Chiến lược phân bổ nguồn vốn
Các ngân hàng không có chiến lược phân bổ nguồn vốn hợp lý, phát triển danh mục
cho vay của mình theo xu hướng đáp ứng tất cả nhu cầu về vốn của thị trường mà
không tính đến mức độ rủi ro.
Khả năng huy động vốn dễ dàng, nguồn vốn dồi dào và chi phí sử dụng vốn rất rẻ đã
tạo cho ngân hàng niềm tin rằng mọi hợp đồng cho vay đều có thể được thực hiện và
mang lại lợi nhuận mà không cần thẩm định để đánh giá mức độ rủi ro của mỗi hợp
đồng.
Ngoài các chức năng vốn có của một tổ chức kinh tế, ngân hàng cũng có chức năng
xã hội là cung cấp vốn cho các công ty trong giai đoạn bắt đầu hay tăng trưởng và
cung cấp vốn cho người tiêu dùng để mua nhà hay hàng hóa. Chức năng xã hội này
đã chiếm vị trí quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phân bổ nguồn vốn. Tuy
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 4
nhiên, trong 20 năm qua, dưới áp lực của các cổ đông cho rằng ngân hàng là các
định chế tài chính chỉ tạo ra lợi nhuận, các CEO của ngân hàng đã tích cực đầu tư
vào những tài sản phức hợp mà kết hợp giữa những sản phẩm cho vay truyền thống
với việc đầu cơ vào cổ phiếu.
Mô hình hoạt động của các ngân hàng chuyển từ hoạt động cho vay truyền thống
sang tập trung vào đầu cơ cổ phiếu “tăng trưởng nóng”, những tài sản có tương quan
cao và cung cấp những khoản vay để đầu tư vào cổ phiếu mà bỏ qua khía cạnh đánh
giá rủi ro. Nhờ đó, ngân hàng đã tăng được lợi nhuận, sử dụng hiệu quả nguồn vốn
nhưng lại vi phạm quy định của Basel II.
2. Khả năng nhìn nhận, tổng hợp rủi ro
Hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) là một phương pháp cung cấp một cái
nhìn toàn diện và chặt chẽ về các rủi ro mà một tổ chức đang đối mắt. Nhưng có rất
không có cái nhìn tổng thể về rủi ro; (3) Cơ cấu quản trị rủi ro chưa phù hợp.
Những vấn đề này chưa bao giờ được nhìn nhận rõ ràng ở các ngân hàng và
trong giai đoạn khủng hoảng tài chính hiện nay nó trở nên rõ ràng hơn.
II. MÔ HÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TỐI ƯU TRƯỚC, TRONG VÀ SAU CUỘC
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008
Quản trị rủi ro là rất quan trọng đối với các cơ quan quản lý và các định chế tài chính,
những cơ quản quản lý tài chính muốn các định chế tài chính có tính thanh khoản và
khả năng thanh toán đầy đủ. Trong khi các định chế tài chính thì muốn tối đa hóa lợi
nhuận từ những khoản đầu tư vào tài sản tài chính và duy trì được mức độ tín nhiệm
đối với cơ quan quản lý.
Quản trị rủi ro tối ưu là sự lựa chọn mô hình đánh giá rủi ro tối ưu từ những mô hình
đánh giá rủi ro khác nhau, và cân nhắc việc kết hợp những mô hình đánh giá rủi ro
khác nhau. Mô hình đánh giá rủi ro có thể thay đổi theo thời gian, thậm chí hằng
ngày.
Để biết được mô hình quản trị rủi ro tối ưu được sử dụng trước, trong và sau cuộc
khủng hoảng tài chính 2008-09 là những mô hình nào? Và những mô hình này có
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 6
thay đổi theo thời gian không? Nghiên cứu của Michael McAleer, Juan-Angel
Jimenez-Martin và Teodosio Perez-Amaral (2009), Optimal Risk Management
Before, During and After the 2008-2009 Financial Crisis, sẽ trả lời những câu hỏi
này. Chi tiết của nghiên cứu được trình bày sau đây
1. Dữ liệu nghiên cứu
Với mục đích minh họa cho nội dung chính của bài nghiên cứu, nhóm tác giả chọn
các chỉ số chứng khoán như sau: Down Joins Industrial Average (DJIA), Financial
Times Stock Exchange 100 Index (FTSE), Hang Seng Index (HSI), Nikkei Index
(NK) và Standard and Poor’s 500 (S&P500), với dữ liệu được lấy từ ngày 3/1/2000
đến 15/7/2009. Những chỉ số này được chọn vì có thể so sánh với các nghiên cứu
Ước lượng DCC:
-
t
VaR
: VaR tại ngày t
-
t
VaR
: là giá trị trung bình của VaR trong 60 ngày làm việc
- 0<=k<=1 : là mức phạt của vi phạm theo Basel II. Hệ số nhân k phụ thuộc và đánh giá
của cơ quan giám sát trung ương về những qui trình quản trị rủi ro và kết quả của
back-test.
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 8
Bảng 2: Phạt vi phạm theo Công ước Basel II
Số lần vi phạm được tính trong 250 ngày làm việc, số lần vi phạm được đo bằng
phương pháp back-test là so sánh tổn thất thực tế với VaR được ước lượng, nếu tổn
thất thực tế lớn hơn VaR được ược lượng thì được xem là một lần vi phạm
- Số nhân tối thiểu là 3 (k=0) là khoản bù cho những lỗi khác nhau có thể xảy ra khi
Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 10
Hình 2: Mức độ biến động hằng ngày của DJIA, FTSE, HIS, NK và S&P500
từ 03/01/2000 đến 15/7/2009
Bảng 4: Hệ số tương quan
Hình 3, cho thấy độ biến thiên của chỉ số chứng khoán, được tính bằng độ lệch
chuẩn. Mối tương quan của độ biến thiên giữa DJIA và S&P500 là cao (0.948), điều
này thực sự không ngạc nhiên bởi vì DJIA và S&P500 có thị trường giống nhau là
đều ở USA. Tuy nhiên, tương quan về độ biến thiên của các chỉ số khác thì nhỏ hơn,
lớn nhất là 0.493 giữa DJIA và FTSE và nhỏ nhất là DJIA và Nikkei, 0.195
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 11
Hình 3: Mức độ biến thiên hằng ngày của DJIA, FTSE, HIS, NK và S&P500
từ 03/01/2000 đến 15/7/2009
Bảng 5: Hệ số tương quan
Từ những kết quả trên, chúng ta có thể kết luận rằng, có sự khác biệt tương đối lớn
về tính đồng nhất giữa các loại chứng khoán
3.2 Xác định mô hình đánh giá rủi ro tối ưu cho mỗi chỉ số chứng khoán trước,
trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09
Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 13
- Khi xem xét cả chiến lược đơn và chiến lược kết hợp
Bảng 7: Những mô hình đánh giá rủi ro đơn và kết hợp tốt nhất để ước tính VaR cho
mỗi chỉ số chứng khoán
%: Biểu thị cho tỷ lệ % số ngày mà mô hình VaR có chi phí vốn tối thiểu cho giai
đoạn phân tích
Avg: Biểu thị cho giá trị trung bình của DCC trong khoản thời gian phân tích
Mô hình SUP tối ưu cho 11/15 trường hợp, trong khi mô hình đơn chỉ tối ưu đối với
4/15 trường hợp. Cũng có thể nhận thấy rằng, giá trị trung bình DCC về mặt tổng
quát là nhỏ hơn khi so sánh với bảng 6.
Những kết quả thực nghiệm này cho thấy rằng việc sử dụng kết hợp các mô hình rủi
ro khác nhau sẽ cho ta mức yêu cầu vốn trung bình ngày thấp hơn so với việc sử
dụng mô hình đơn, mà vẫn đảm bảo được qui định của Basel II.
4. Kết luận
- Mô hình quản trị rủi ro tối ưu thì khác nhau trong 3 giai đoạn trước, trong và sau
khủng hoảng tài chính 2008-09
- Mô hình quản trị rủi ro kết hợp theo yêu cầu của Công ước Basel II được xem là
hiệu quả hơn những mô hình đơn lẻ
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 14
III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỂ QUẢN TRỊ RỦI RO HIỆU QUẢ
1. Ý kiến của Gabriele Sabato
Trong nghiên cứu: “Finanacial Crisis: Where did risk management fail?”, Gabriele
mục (xem hình 4). Cuối cùng, ngân hàng cần sử dụng ít nhất là ba biểu đồ (theo
nhóm, theo bộ phận và theo danh mục đầu tư) để có được một cái nhìn toàn diện.
Hình 4: Lựa chọn danh mục đầu tư của ngân hàng
Hình vẽ này cho thấy sự phân bổ trong ba danh mục đầu tư (vay thế chấp, thẻ tín
dụng và các khoản vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ) trong bức tranh rủi ro của
ngân hàng. Kích thước của các bong bóng cho thấy số lượng vốn được phân bổ cho
các danh mục đầu tư.
Khi vẽ xong biểu đồ, chúng ta có thể tập trung vào xây dựng mô hình. Dựa trên mục
tiêu của Ban điều hành về lơi nhuận kỳ vọng và thiệt hại, chúng ta sẽ vẽ bốn đường
thẳng để phân chia khu vực trong hình. Hai đường thẳng thể hiện lợi nhuận kỳ vọng
tối thiểu và rủi ro tối đa có thể chấp nhận được để xác định khả năng chịu đựng rủi
ro của ngân hàng. Hai đường thẳng còn lại thể hiện lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro chấp
nhận được để xác định khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng.
Phân biệt khả năng chịu đựng rủi ro và sự chấp nhận rủi ro là rất quan trọng. Trước
hết, hai khái niệm này rất khác nhau và rất khó hiểu, chúng tạo ra sự không chắc
chắn về cái có thể và cái mong đợi. Thứ hai, khả năng chịu đựng rủi ro được xét
trong dài hạn, còn sự chấp nhận rủi ro thay đổi thường xuyên theo tình hình thị
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 16
trường và nền kinh tế. Cuối cùng, những đường thẳng trong biểu đồ cho phép chúng
ta sử dụng phương pháp RAG để phân loại danh mục đầu tư của ngân hàng trong các
khu vực khác nhau và dựa vào đó xác định chiến lược cụ thể (xem hình 5).
Như tác giả đã đề cập trước đó, kích cỡ của bong bóng đại diện cho sự tập trung
trong từng sản phẩm, danh mục đầu tư, ngành hay quốc gia cụ thể phụ thuộc vào
mức độ chấp nhận rủi ro và trên các loại tài sản xem xét. Một vài số liệu có thể được
dùng để xác định kích thước bong bóng: sự cân bằng, tài sản phân theo cấp độ rủi ro
(RWA), vốn kinh tế (EC). Sự lựa chọn phụ thuộc vào mức độ phức tạp mà ngân
rủi ro đầu cơ. Quản trị rủi ro truyền thống đã từng tập trung vào rủi ro thuần túy cho
đến khi quản trị rủi ro tài chính chiếm ưu thế trong nhưng năm 80 về việc phát triển
các công cụ, kỹ thuật và các quy định chuyên biệt. Trong môi trường hiện nay, sự
kết hợp của hai loại rủi ro khác nhau chắc chắn là thách thức chính mà các tổ chức
tài chính sẵn lòng thực hiện phương pháp ERM. Tuy nhiên, ERM chỉ tập trung vào
rủi ro tài chính. Do đó, nó sẽ bỏ qua một số nguồn gây ra tổn thất hay hủy hoại giá
trị.
Bước đầu tiên trong thực hiện ERM là xác định rủi ro đã xuất hiện trong công ty.
Một cách tiếp cận phổ biến là xác định loại rủi ro sẽ được đo lường. Ban đầu, tổ
chức tập trung vào rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng. Cuối cùng mới thêm vào rủi
ro hoạt động. Đối với phương pháp tiếp cận để nắm bắt tất cả rủi ro của công ty, rủi
ro hoạt động bao gồm tất cả những rủi ro không phải là rủi ro thị trưởng và rủi ro tín
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 18
dụng. Về phía ngân hàng, theo Hiệp ước Basel, định nghĩa rủi ro hoạt động bỏ qua
các rủi ro danh tiếng. Do đó, có sự khác nhau giữa đo lường rủi ro hoạt động cho
mục đích quản lý và đo lường rủi ro hoạt động theo quan điểm ERM. Nhiều công ty
đã đi xa trong việc đo lường rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, các công ty đã thử đo lường rủi ro thanh khoản,
rủi ro danh tiếng, rủi ro thuế, rủi ro trợ cấp và rủi ro chiến lược.
Nếu một doanh nghiệp phân loại rủi ro thành rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro
hoạt động hay sử dụng một phương pháp khác thích hợp hơn cho doanh nghiệp thì
sau đó họ xác định và đo lường những rủi ro này như thế nào. Các công ty sử dụng
các phương pháp phổ biến nhất để xác định và đo lường lường những rủi ro này. Đối
với rủi ro hàng tồn kho của doah nghiệp, doanh nghiệp nên thu thập, cập nhật và so
sánh tất cả các thông tin.
Các công ty cần có khả năng tập hợp những rủi ro phổ biến trên tất cả các hoạt động
kinh doanh của công ty để phân tích và quản lý hiệu quả các rủi ro này. Mục đích là
trị rủi ro cần phải được lồng ghép với chiến lược chung của doanh nghiệp và chiến
lược quản trị rủi ro phải dựa trên ba nguyên tắc cơ bản:
- Chìa khóa để tạo ra giá trị của doanh nghiệp là thực hiện đầu tư tốt.
Chìa khóa để thực hiện đầu tư tốt là tạo ra đủ lượng tiền mặt nội bộ để tài trợ cho các
khoản đầu tư, khi doanh nghiệp không tạo ra đủ lượng tiền mặt, họ có xu hướng cắt
giảm đầu tư mạnh hơn so với các đối thủ.
Dòng ngân lưu, là rất quan trọng đối với quá trình đầu tư, có thể bị gián đoạn bởi các
biến động bên ngoài như tỷ giá, giá cả hàng hóa, lãi suất, do đó, có khả năng ảnh
hưởng đến khả năng đầu tư của doanh nghiệp.
- Vì thế, một chiến lược quản trị rủi ro nên có một mục tiêu bao quát để bảo đảm rằng
doanh nghiệp có sẵn tiền mặt
- Bằng cách nhận biết và chấp nhận mục tiêu này, những nhà quản lý sẽ được trang bị
tốt hơn để trả lời những câu hỏi cơ bản nhất của quản trị rủi ro: Những rủi ro nào nên
được phòng ngừa và những rủi ro nào không cần phải phòng ngừa? Những công cụ
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 20
và chiến lược nào là phù hợp? Chiến lược quản trị rủi ro của một công ty bị ảnh
hưởng bởi chiến lược của những công ty đối thủ như thế nào?
2.1 Tại sao thực hiện giao dịch phái sinh?
Xét một ví dụ minh họa về một công ty dược phẩm đa quốc gia Omega có trụ sở và
nhà máy sản xuất tại Mỹ, nhưng 1/2 doanh thu là từ thị trường Nhật và Đức. Một vài
sản phẩm của Omega có bằng sáng chế độc quyền. Bất ổn chủ yếu của Omega là
doanh thu từ nước ngoài, do công ty không dự đoán được sự biến động của tỷ giá.
Omega dự đoán doanh thu của công ty như sau:
Bảng 8: Doanh thu dự kiến của Omega theo biến động tỷ giá
Biến động tỷ giá Doanh thu dự kiến (triệu USD)
Đồng USD tăng giá 100
Net
Present
V
alue*60
90
60
Discounted
Cash
Flows*
160
290
360
R&D Level*
100
200
Tiểu luận: Quản trị rủi ro Nhóm 7 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Quản trị rủi ro trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-09 Trang 22
Hình 6: Phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho khoản đầu tư R&D cố định
2.2 Khi nào thực hiện, không thực hiện giao dịch phái sinh?
Xét ví dụ về công ty dầu Beta, rủi ro chính của Beta là sự thay đổi giá dầu như rủi ro
của công ty dược Omega là tỷ giá. Tuy nhiên, giá trị đầu tư cho R&D của Omega
không bị ảnh hưởng bởi tỷ giá, trong khi đó giá trị đầu tư của Beta thay đổi theo sự
biến động của giá dầu (giá dầu giảm thì doanh thu giảm và giá trị đầu tư giảm vì khi
giá dầu giảm không thu hút sự thăm dò và khai thác, ngược lại, khi giá dầu tăng
doanh thu tăng và giá trị đầu tư lại tăng). Vì vậy, Beta không có lý do gì phải thực
hiện giao dịch phái sinh như Omega.
Doanh thu và đầu dự kiến của Beta theo biến động của giá dầu:
Bảng 12: Doanh thu và đầu tư dự kiến của Beta
Biến động giá dầu
Doanh thu dự kiến
(triệu USD)
Giá trị đầu tư tối ưu dự kiến
(triệu USD)
Thấp 100
150
Trung bình 200
200