Tiểu luận: Phân tích dòng tiền - Pdf 13



1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA: TÀI CHÍNH DOANH NGIỆP
*** BÀI TIỂU LUẬN
MÔN PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH DÒNG TIỀN
Giảng viên hướng dẫn: PGS, TS Lê Thị Lanh
Lớp: Tài chính doanh nghiệp ngày 2
Khóa: 21 – Cao học
Nhóm: 3
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 201i
ii

1. Dòng tiền hoạt động kinh doanh
2. Dòng tiền đầu tư
3. Dòng tiền tài chính
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC: CÁC CHỈ SỐ TRONG PHÂN TÍCH DÒNG TIỀN
I. Khả năng thanh toán ngắn hạn bằng tiền mặt
1. Hệ số dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (Operating Cash Flow Ratio)
2. Hệ số tiền mặt (Cash ratio)
3. Hệ số năng lực trả nợ bằng tiền mặt (Cash Debt Coverage Ratio)
4. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay bằng tiền mặt (Cash Interest Coverage)
II. Khả năng thanh toán dài hạn bằng tiền mặt
1. Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn bằng tiền mặt (Cash Flow to Long Term Debts)
2. Hệ số khả năng thanh toán cổ tức bằng tiền mặt (Cash Dividend Coverage Ratio)
3. Tỷ suất sinh lời tiền mặt của vốn chủ sở hữu (Cash Return to Shareholders)
4. Cash Flow per Share
III. Hiệu suất hoạt động
1. Tỷ suất sinh lời tiền mặt của tài sản (Cash Return on Assets)
2. Tỷ suất sinh lời tiền mặt tài sản cố định (Cash Return on Fixed Assets)
3. Hệ số tái đầu tư tiền mặt (Cash Reinvestment Ratio)
4. Vòng quay tiền mặt (Cash Turnover)
5. Số ngày dư tiền mặt (Cash Balance or Days Cash Balance)
IV. Khả năng sinh lời
1. Earnings Quality
2. Cash Flow from Sales to Sales
3. Cash flow margin

tránh tình trạng vay mượn các khoản nợ nhỏ lẻ không cần thiết.
 Tiết kiệm chi phí không cần thiết: khi doanh nghiệp có đủ dòng tiền để thanh
toán kịp thời các khoản nợ sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm các không phí
không cần thiết liên quan đến trễ hạn thanh toán nợ như lãi chồng lãi, phí phạt
trễ hạn nợ. iv

 Đầu tư kịp thời: khi doanh nghiệp có đủ dòng tiền trong tay sẽ giúp doanh
nghiệp đầu tư kịp thời vào các cơ hội đầu tư, giúp nâng cao hiệu quả hoạt
động cho doanh nghiệp.

II. BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho biết khả năng tạo tiền, tình hình quản lí các tài sản và
trách nhiệm pháp lý ngoài vốn hiện thời, chi tiết các khoản đầu tư vào tài sản sản suất và
các khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp. Nó cho phép cả các nhà quản lí cũng như
các nhà nghiên cứu trả lời được những vấn đề quan trọng liên quan đến tiền như:
 Liệu doanh nghiệp có đủ tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn cho nhà
cung cấp và những chủ nợ khác mà không phải đi vay không?
 Doanh nghiệp có thể quản lí được các tài khoản phải thu, bảng kiểm kê, …
 Doanh nghiệp có những khoản đầu tư hiệu quả cao không?
 Doanh nghiệp có thể tự tạo ra được dòng tiền tệ để tài trợ cho các khoản đầu
tư cần thiết mà không phụ thuộc vào vốn từ bên ngoài không?
 Doanh nghiệp có đang thay đổi cơ cấu nợ không?
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (SCF) cung cấp thông tin liên quan ba hoạt động chính tạo
ra và sử dụng tiền là: hoạt động sản xuất - kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài
chính.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có liên quan mật thiết với Bảng Cân đối Kế toán và Báo
cáo Kết quả Hoạt động Kinh doanh của doanh nghiệp. Nó cần các dữ liệu từ:

 Tiền thu từ các khoản thu khác
Dòng tiền ra:
 Tiền đã trả cho người bán
 Tiền đã trả cho công nhân viên
 Tiền đã nộp thuế và các khoản kác cho Nhà nước
 Tiền đã trả cho các khoản nợ phải trả khác
 Tiền đã trả cho các khoản khác
Chênh lệch giữa dòng tiên vào và dòng tiền ra được gọi là lưu chuyển tiền
thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
 Phương pháp gián tiếp: vi

Điều chỉnh thu nhập ròng bằng việc giảm thiểu các khoản mục phi tiền tệ để tính
toán dòng tiền vào (ra) ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Cần chú ý giữa thu nhập
và dòng tiền có sự khác nhau, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh được ghi nhận tích
luỹ, cả doanh thu và chi phí đều được ghi nhận khi có nghiệp vụ phát sinh, không quan
tâm đến thời điểm phát sinh dòng tiền.
1.2. Dòng tiền từ hoạt động đầu tư
Là các dòng tiền vào ra liên quan đến việc mua và thanh lí các tài sản sản xuất kinh
doanh do công ty sử dụng hoặc đầu tư vào các chứng khoán của công ty khác.
Dòng tiền ra phản ánh các khoản đầu tư tiền mặt toàn bộ để có được các tài sản
này. dòng tiền vào chỉ được ghi nhận khi nhận được tiền từ việc thanh lí các tài sản đầu tư
trước. Các dòng tiền từ hoạt động đầu tư gồm:
Dòng tiền vào:
Tiền thu từ:
 Các khoản đầu tư vào đơn vị khác
 Lãi các khoản đầu tư vào đơn vị khác
 Bán tài sản cố định

khác ở cách lập hoạt động kinh doanh còn hoạt động đầu tư, tài chính đều giống nhau tức
là sử dụng phương pháp trực tiếp.
2.1. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
 Phương pháp gián tiếp : (dựa vào bảng CĐKT,và BC thu nhập)
Những khoản không thực chất chi ra bằng tiền phải loại trừ ra khỏi khi lên báo cáo.
Chỉ là dịch chuyển ra khỏi hoạt động kinh doanh khi lên BC LCTT.
Bắt đầu từ lợi nhuận ròng, điều chỉnh các khoản thu chi không bằng tiền mặt( như
khấu hao,dự phòng,chênh lệch tỉ giá…), tiếp tục điều chỉnh các khoản lãi lỗ hoạt động
đầu tư, điều chỉnh thay đổi TSLĐ, tính ra lưu chuyển tiền ròng từ hoạt động kinh doanh…
Thu nhập trước thuế
(+) Các khoản chi phí nhưng không phát sinh bằng tiền (ví dụ : chi phí khấu hao,
chi phí dự phòng…)
(+) Lỗ (lãi) do tỷ giá chưa thực hiện
(+) Lỗ (lãi) do bán tài sản
(+) Tăng (giảm) tiền mặt được tạo ra (sử dụng) từ các khoản mục thuộc vốn luân
chuyển ngoài khoản mục tiền mặt ( ví dụ: hàng tồn kho, khoản phải thu, phải trả
người bán…) viii

(-) Thu nhập thuế hiện hành.
Ưu điểm: Thể hiện rõ ràng sự khác biệt giữa thu nhập và dòng tiền hoạt động.
Phương pháp này tương đối dễ thực hiện. Chỉ cần ước tính lợi nhuận trước thuế của
doanh nghiệp, điều chỉnh lợi nhuận trước thuế này cho các khoản thu (chi) khác không
phát sinh bằng tiền và sau đó điều chỉnh cho những khoản mục của vốn luân chuyển mà
có chênh lệch giữa thu nhập và dòng tiền (mua, bán trả chậm, ứng trước…)
Nhược điểm: Thực hiện phải tính toán để loại những khoản không phải tiền, hoặc
chưa thu ra khỏi quá trình thực hiện, khá tốn thời gian và công sức.
 Phương pháp trực tiếp : (dựa vào bảng CĐKT và BC thu nhập) theo thực

CF hoạt động kinh doanh = Tiền thu từ doanh thu – Chi phí mua hàng – Chi phí kinh
doanh – Tiền chi trả thuế - Tiền chi trả lương, chi khác – Tiền chi Tài sản lưu động
khác, chi khác
Ưu điểm: Phương pháp này báo cáo toàn bộ dòng tiền mặt vào và ra đối với hoạt động
công ty nên giúp cho các nhà phân tích đánh giá đúng đắn số tiền mặt vào ra. Các biến
động trong dòng tiền từ hoạt động kinh doanh gây rủi ro lớn hơn cho nhà cho vay so với
biến động trong lợi nhuận sau thuế -> họ ưu tiên dung phương pháp này.
Nhược điểm: Tốn kém nhiều chi phí khi thực hiện.
Lưu ý: khi công ty dung phương pháp trực tiếp thì các công ty sẽ giải trình sự chuyển
đổi báo cáo thu nhập thành báo cáo LCTT trong một biểu riêng.
2.2. Dòng tiền từ hoạt động đầu tư:
= (+) các khoản đầu tư vào đơn vị khác
(+) lãi các khoản đầu tư vào đơn vị khác
(+) bán tài sản cố định
(-) đầu tư vào các đơn vị khác
(-) mua tài sản cố định
2.3. Dòng tiền từ hoạt động tài chính
= (+) Khoản vay
(+) Các chủ sở hữu góp vốn
(+) Lãi tiền gửi
(-) Tiền đã trả nợ vay
(-) Tiền đã hoàn vốn cho các chủ sở hữu x

(-) Trả nợ trái phiếu, cổ phiếu
(-) Tiền lãi đã trả cổ tức cho các nhà đầu tư vao doanh nghiệp
Tổng lưu chuyển tiền từ 3 hoạt động = lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh + lưu
chuyển tiền từ hoạt động đầu tư + lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính + tiền tồn quỹ

nợ trước khi chủ nợ và các nhà cung cấp áp dụng các khoản phạt do quá hạn. Từ quan
điểm này, việc sắp xếp các ngày thanh toán để cân đối các dòng tiền giúp cho công ty có
thể sử dụng tiền một cách hiệu quả trong việc cải tiến, đầu tư bổ sung… chứ không phải
là vay tiền để thanh toán cho các khoản chi tiêu này.
2. Kết quả của phân tích dòng tiền
Phân tích dòng tiền giúp đánh giá hiệu quả trong quá khứ, định hướng cho các dự án
trong tương lai của công ty, tính thanh khoản và khả năng đáp ứng các khoản vay khi đến
hạn. Kết quả của phân tích dòng tiền có thể được dùng để trả lời cho các câu hỏi sau:
 Việc mở rộng nhà máy và đổi mới trang thiết bị được tài trợ như thế nào ?
 Những thành phần nào tạo nên thu nhập ròng ?
 Nguồn vốn được huy động từ đâu ?
 Nguồn vốn nội bộ yêu cầu là bao nhiêu ?
 Chính sách cổ tức có cân bằng với chính sách hoạt động ?
 Có bao nhiêu nợ đã được trả ?
 Phát hành cổ phiếu thu về được bao nhiêu tiền ?
Tóm lại, kết quả phân tích dòng tiền được sử dụng để:
 Đối với lĩnh vực hoạt động: Xác định tính đầy đủ của dòng tiền từ hoạt động
kinh doanh.
 Đối với lĩnh vực tài trợ: Xác định khả năng nhận được tài trợ trong các thị
trường tiền tệ và vốn cũng như khả năng đáp ứng các nghĩa vụ.
 Đối với lĩnh vực đầu tư: Xác định hoạt động đầu tư vào các công ty khác.
3. Vai trò của phân tích dòng tiền
Đối với nhà quản lý, phân tích dòng tiền cung cấp những thông tin quan trọng
trong ba vấn đề: quyết định đầu tư, tài trợ và phân phối. Phân tích dòng tiền giúp cho nhà
quản lý biết được cơ cấu, tình trạng dòng tiền của công ty từ đó đưa ra những quyết định
như có sử dụng tài trợ từ bên ngoài để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay
không. Phân tích dòng tiền còn giúp nhà quản lý đưa ra những quyết định phân phối chính xii


xiii

- Dòng tiền đầu tư: hoạt động mở rộng/thu hẹp quy mô hoạt động, cũng như
góp vốn vào các doanh nghiệp khác.
- Dòng tiền tài chính: liên quan đến các nguồn tài trợ bên ngoài
Tương ứng với từng công ty sẽ có các cơ cấu dòng tiền khác nhau, có thể là một công
ty đang mở rộng hoạt động nhờ vào tài trợ bên ngoài (dòng tiền đầu tư, tài chính chiếm tỷ
trọng lớn), hoặc một công ty đang hoạt động ổn định với phần lớn tiền mặt được tạo ra từ
quá trình kinh doanh hiệu quả (dòng tiền hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn)…
2. Các suy luận từ dòng tiền
Sự biến động của dòng tiền qua các thời kỳ có thể hé lộ cho thấy tình trạng của công
ty (gia tăng tài trợ bên ngoài từ nợ vay, tích trữ hàng tồn kho…), cho thấy tiền đang được
sử dụng làm gì, hình thành từ đâu…
3. Tình trạng thanh khoản của công ty
Một công ty có lợi nhuận cao nhưng quản lý dòng tiền kém có thể lâm vào tình trạng
“chết trên đống tiền” khi không thể tìm ra đủ lượng tiền mặt để chi trả cho những nhu cầu
tới hạn như trả nợ vay, tài trợ các nhu cầu hàng tồn kho, chi phí lưu động…
4. Dòng tiền tự do
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chính thống nào của Dòng tiền tự do. Chúng ta
chỉ xem dòng tiền tự do như nguồn để doanh nghiệp tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo,
được tính bằng Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trừ đi các chi tiêu vốn ròng cần thiết
để duy trì khả năng sản xuất.

5. Các tỷ số dòng tiền chuyên biệt
5.1. Tỷ số đảm bảo dòng tiền
Thể hiện khả năng trang trải tiền mặt mà không cần nguồn tài trợ từ bên ngoài,
công thức tính bằng:
Tổng tiền mặt từ hoạt động kinh doanh trong 3 năm
Tổng chi tiêu vốn, mua sắm hàng tồn kho và cổ tức tiền mặt trong 3 năm

Dòng tiền từ hoạt động tài chính -2.225 126
Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ -1.904 2.543

Lưu chuyển tiền thuần trong năm 2012 âm, cùng với tình trạng dòng tiền ra trong
hoạt động đầu tư tăng lên khá cao, ta có thể nhận thấy rằng năm công ty đã đẩy mạnh
công tác đầu tư nhằm mở rộng hoạt động. Việc đầu tư này đi cùng với sự gia tăng gấp xvi

hơn 2 lần trong dòng tiền vào từ hoạt động sản xuất kinh doanh của năm 2012 so với năm
2011 cho thấy các dự án đầu tư của công ty đều đem lại hiệu quả. Sau đây ta sẽ đi vào
phân tích chi tiết.
1. Dòng tiền hoạt động kinh doanh
- Lợi nhuận trước thuế của công ty Vinamilk trong năm 2012 tăng khoảng 2000 tỷ
so với năm 2011 nhờ trong năm 2012 công ty cho ra đời rất nhiều các sản phẩm mới như:
 Sữa bột cho trẻ em Dielac Optimum Step 1 / Step 2 / 123;
 Sản phẩm dinh dưỡng Vinamilk Sure Prevent dạng bột và dạng lỏng;
 Sản phẩm dinh dưỡng CanxiPro;
 Sữa tươi tiệt trùng tách báo không đường/có đường Vinamilk;
 Kem vani VNM;
 …
Bên cạnh đó, năm 2012 cũng đánh dấu việc Vinamilk thực hiện thành công việc
mở rộng thị phần ra nước ngoài như Mỹ, Úc, Canada, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Irắc,
Philippin, Hàn Quốc, Campuchia…. Chỉ tính riêng thị trường Thái Lan trong quý
I/2012, doanh thu của Vinamilk đã đạt mức 10 triệu USD (~20 tỷ đồng).
- Dòng tiền được gia tăng nhờ tăng khoản mục trích khấu hao tài sản cố định của
năm 2012 là 535 tỷ đồng, tăng hơn 100 tỷ đồng so với năm 2011 cho thấy công ty đang
thực hiện mua sắm mới tài sản cố định. Theo các chi tiết trong bản thuyết minh báo cáo
tài chính, ta có thể thấy trong năm 2012 doanh nghiệp thực hiện đầu tư mua mới tài sản cố

năm 2011, tuy nhiên sang năm 2012 chỉ gia tăng 200 tỷ. Do thị trường nguyên liệu đầu
vào của doanh nghiệp là các nhà cung cấp nước ngoài và nông dân Việt Nam nên trong
tình hình kinh tế không mấy sáng sủa như hiện nay, doanh nghiệp khó có thể nhận được
chính sách tín dụng thương mại rộng rãi như các năm trước được.
- Tổng kết cả năm 2012, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đem lại
một lượng tiền mặt là 5.294 tỷ đồng, tăng hơn gấp đôi so với con số 2.411 tỷ đồng của
năm 2011. Điều này thể hiện một hướng đi đúng đắn của doanh nghiệp.
2. Dòng tiền đầu tư:
Trong năm 2012 ta có thể thấy dòng tiền ra cho hoạt động đầu tư tăng mạnh ở khoản
mục mua sắm thêm tài sản cố định và xây dựng dở dang, đồng thời lượng tiền gửi có kỳ xviii

hạn ở ngân hàng của doanh nghiệp cũng gia tăng làm dòng tiền ra trong hoạt động đầu tư
gia tăng. Chi tiết như sau:
- Hoạt động mua sắm tài sản cố định và xây dựng cơ bản gia tăng 3.134 tỷ đồng do
doanh nghiệp thực hiện các hoạt động đầu tư đối với 2 công trình (đều đã được khánh
thành cuối tháng 04/2013):
 Nhà máy sữa Dielac 2 đang được xây dựng tại Khu công nghiệp Việt Nam –
Singapore (tỉnh Bình Dương), có tổng diện tích 6 héc-ta, công suất 54 nghìn tấn
sữa bột/năm.
 “Siêu nhà máy sữa Vinamilk” được xây dựng trên khu đất rộng 20 héc-ta
tại Khu công nghiệp Mỹ Phước 2 (Bình Dương); công suất tương đương công
suất cộng lại của 9 nhà máy sữa hiện nay của Vinamilk trên toàn quốc.
- Hoạt động tiếp theo làm gia tăng dòng tiền chi ra trong hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp chính là việc doanh nghiệp gia tăng khoản tiền gửi ngắn hạn tại các ngân hàng
thêm ~2.000 tỷ đồng.
Có thể thấy trong năm 2012 doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động đầu tư nhằm hoàn
thành dứt điểm 2 công trình lớn ở trên. Tuy nhu cầu chi ra của dòng tiền đầu tư lớn nhưng

(Thông tin thêm: Vinamilk niêm yết bổ sung 14,25 triệu cổ phiếu trong đó 10,7 triệu
phân phối cho 5 nhà đầu tư nước ngoài (chiếm 49% số lượng chứng khóan VNM), số còn
lại phân phối cho CB CNV)
Để giải thích cho việc lượng tiền chi trả cổ tức cao của Vinamilk cho năm 2012,
chúng ta hãy xem xét việc chi trả cổ tức của Vinamilk như thế nào theo báo cáo thường
niên của Vinamilk cho năm 2012. Theo bản báo cáo này thì Vinamilk đã tạm ứng cổ tức
đợt 1 năm 2012 với tổng số tiền là 2.223 tỷ đồng (4.000 đồng/ 1 cổ phiếu). Tuy nhiên Hội
đồng quản trị công ty thông qua tỷ lệ cổ tức đợt 2 từ 10% lên 18%, nâng cổ tức cả năm
lên 38%, tương ứng 3.800 đồng/cổ phiếu. Theo đó, Hội đồng quản trị Vina milk quyết
định sẽ trình Đại hội cổ đông thường niên 2013 thông qua việc tăng tỷ lệ cổ tức đợt
2/2012 từ 10% lên 18%, tương ứng 1.000 đồng/cổ phiếu lên 1.800 đồng/cổ phiếu. Như
vậy, tỷ lệ cổ tức năm 2012 của Vinamilk là 38%, thay vì 30% như Đại hội cổ đông đã phê
duyệt. KẾT LUẬN
- Xét về cơ cấu dòng tiền của Vinamilk trong năm 2012, dòng tiền từ hoạt động sản
xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất, có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu đầu tư mở
rộng. Tuy vậy trong năm doanh nghiệp tiến hành chia cổ tức nên lượng tiền mặt
phát sinh trong năm bị âm, phải sử dụng số dư tiền mặt còn tồn dư của năm 2011. xxi

Kết thúc năm tài chính doanh nghiệp nghiệp còn tồn dư lượng tiền mặt cuối kỳ là
1.252 tỷ đồng.
- Tiền mặt từ hoạt động sản xuất kinh doanh được doanh nghiệp tập trung sử dụng
để bổ sung cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính của mình, đạt hiệu quả cao.
- Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt mức 5.294 trong năm
2012, 2.411 trong năm 2011, trong khi số dư vay ngắn hạn của doanh nghiệp chỉ


5.295

Cổ tức tiền mặt 741

2.223

Tổng tài sản cố định 5684

6900

Bất động sản đầu tư 101

97

Các tài sản khác 150

107

Vốn luân chuyển 6522

6966

Tỷ số tái đầu tư tiền mặt 0,25

0,53

=> Tỷ số khá cao, vượt mức thông thường (7%-11%) cho thấy doanh nghiệp tập
trung sử dụng tiền mặt để lại để tăng trưởng chứ không sử dụng nguồn tài trợ từ
bên ngoài.

hạn của một công ty đối với những nghĩa vụ nợ đến hạn (Kieso, et al., 2004). Những nhà
cung cấp tín dụng ngắn hạn như ngân hàng và nhà cung cấp quan tâm đến việc đo lường
khả năng thanh toán bằng tiền mặt (Weygandt, et al., 1998). Hệ số này bị ảnh hưởng bởi
sự điều chỉnh dòng tiền vào và ra theo triển vọng của hoạt động tương lai (Larson, et al.,
2006). Thông thường, những hệ số đo lường khả năng thanh toán bằng tiền mặt là hệ số
thanh toán ngắn hạn và hệ số thử nghiệm khả năng thanh toán. Những hệ số này dựa trên
dữ liệu thu được và được tính tại một thời điểm cụ thể. Sử dụng dữ liệu dòng tiền sẽ khắc
phục được hạn chế này (Schmidgall, et al., 1993). Những hệ số dòng tiền sau đây sẽ đo
lường khả năng thanh toán ngắn hạn bằng tiền mặt của một công ty
1. Hệ số dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (Operating Cash Flow Ratio)
Là thước đo khả năng tạo ra tiền mặt trong một khoảng thời gian để đảm bảo các
nghĩa vụ nợ ngắn hạn. Dữ liệu được lấy từ bảng lưu chuyển tiền tệ và bảng cân đối kế
toán (Figelwicz và Zeller, 1991; Mills, et al., 1998; Schmidgall, et al., 1993). Với những
công ty hoạt động tốt thì hệ số này lớn hơn hoặc bằng 40% (Casey và Bartczak, 1998)

OCF =
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Nợ ngắn hạn

2. Hệ số tiền mặt (Cash ratio)

Trích đoạn Khả năng thanh toán dài hạn bằng tiền mặt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status