Tiểu luận Lý Thuyết Kế toán GVHD: PGS.TS Ngô Hà Tấn
PHÂN TÍCH NHỮNG NGUYÊN TẮC VẬN DỤNG TRONG
CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC
GHI NHẬN DOANH THU, THU NHẬP VÀ CHI PHÍ
Đặt vấn đề
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa doanh nghiệp, các cổ đông, nhà đầu tư
không còn gói gọn trong phạm vi của một quốc gia mà đã trở thành một mạng lưới
toàn cầu. Để tiếp cận và đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp với những mục tiêu đầu
tư này thì báo cáo tài chính là các công cụ hữu ích cho các đối tượng sử dụng để phân
tích. Chính vì thế, việc xây dựng nên các hành lang pháp lý là một cách cần thiết giúp
các thông tin cung cấp được trung thực và hợp lý. Bộ Tài chính đã ban hành các chuẩn
mực, chế độ, thông tư hướng dẫn giúp kế toán trong việc thực hiện công tác kế toán và
đồng bộ thông tin giữa các đơn vị khác nhau. Trong các vấn đề được ban hành, cốt lõi
vẫn là các vấn đề về nguyên tắc hạch toán kế toán. Nắm rõ hơn về nguyên tắc hạch
toán sẽ giúp người làm công tác kế toán có định hướng rõ ràng khi thực hiện công việc
của mình. Các nguyên tắc kế toán cơ bản chi phối đến việc ghi nhận và hạch toán của
hầu hết các tài khoản trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, với giới hạn của bài tiểu luận
này, tác giả chỉ phân tích các nguyên tắc vận dụng trong các chuẩn mực kế toán
liên quan đến việc ghi nhận doanh thu, thu nhập và chi phí nhằm làm rõ, chi tiết
hơn về bản chất của từng nguyên tắc liên quan đến việc hạch toán các đối tượng này.
1. Các khái niệm có liên quan
Các yếu tố Doanh thu, thu nhập khác và Chi phí được định nghĩa theo Chuẩn mực
kế toán số 01 - Chuẩn mực chung như sau:
Doanh thu và thu nhập khác: là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được
trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các
hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm
khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu. Cụ thể:
Thực hiện: Lê Thị Cẩm Giang - KTO.K27.ĐN
Tiểu luận Lý Thuyết Kế toán GVHD: PGS.TS Ngô Hà Tấn
- Doanh thu phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của
doanh nghiệp và thường bao gồm: doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch
Tiểu luận Lý Thuyết Kế toán GVHD: PGS.TS Ngô Hà Tấn
tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh
nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai”. (VAS 01)
Hiểu theo một cách đơn giản, đây là nguyên tắc kế toán dựa trên cơ sở dự thu –
dự chi, là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế
toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp, và được xem là một nguyên tắc chính yếu đối
với việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp. Theo đó, mọi giao dịch liên quan đến
doanh thu, thu nhập và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không
quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền. Để hiểu hơn về nguyên tắc này,
trước tiên chúng ta cần phần biệt nguyên tắc kế toán theo cơ sở tiền và nguyên tắc kế
toán theo cơ sở dồn tích.
Với nguyên tắc kế toán theo cơ sở tiền, mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh được
ghi nhận dựa trên cơ sở thực thu, thực chi. Hay nói một cách khác, doanh thu, thu nhập
và chi phí chỉ được ghi nhận khi các giao dịch được phát sinh bằng tiền. Theo đó, lợi
nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong một kỳ sẽ bằng nhau. Ưu điểm nổi
bật của kế toán theo cơ sở tiền khi trình bày thông tin trong báo cáo tài chính là: tiền
thu vào chi ra là những hoạt động “hữu hình”, số tiền và ngày thu được xác định cụ
thể, chính xác nên thời điểm để ghi nhận doanh thu được xác định một cách chắc chắn,
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
việc ghi nhận doanh thu, chi phí có liên quan mật thiết đến việc xác định lợi nhuận của
đơn vị, và do đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Với
nguyên tắc hạch toán này, thuế thu nhập doanh nghiệp đơn vị phải nộp được tính dựa
trên dòng tiền thực thu thực chi của đơn vị, đứng về góc độ doanh nghiệp là hợp lý.
Tuy nhiên, việc hạch toán theo cơ sở tiền lại phát sinh yếu điểm trong nhiều trường
hợp, ví dụ giao dịch bán chịu. Trong giao dịch bán chịu, hàng hóa được chuyển cho
khách hàng sử dụng trước khi tiền về tới đơn vị, và doanh thu được ghi nhận tại thời
điểm tiền về. Về bản chất, mặc dù đơn vị chưa nhận được tiền, nhưng trên thực tế đơn
vị đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích liên quan đến hàng hóa đó cho đối tác. Từ
thời điểm đó, quyền định đoạt hàng hóa thuộc về đối tác, và như vậy, phần lợi ích kinh
tế khi chuyển giao hàng hóa này doanh nghiệp nên ghi nhận vào sổ sách dưới dạng
giao dịch kinh tế trong kỳ, cho phép tình trạng tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp
được phản ánh một cách đầy đủ, hợp lý. Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa
lượng tiền thu vào với doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận
với lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các
giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự
phòng…
Thực hiện: Lê Thị Cẩm Giang - KTO.K27.ĐN
Tiểu luận Lý Thuyết Kế toán GVHD: PGS.TS Ngô Hà Tấn
Ngoài những ưu điểm có thể nhận thấy ở trên, việc áp dụng cơ sở dồn tích đứng
về góc độ doanh nghiệp cũng có một số hạn chế. Thứ nhất, nhược điểm chính của
nguyên tắc này chính là doanh nghiệp thường phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp
trước khi thực nhận được tiền từ doanh thu bán hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, về
khía cạnh xã hội thì đây không phải là nhược điểm. Thứ hai, vì ghi nhận doanh thu tại
thời điểm phát sinh chứ không phải thời điểm nhận tiền, do đó sẽ xảy ra trường hợp có
những khoản doanh thu “không thực” khi khách hàng không trả tiền (cố tình hay thực
sự không có khả năng trả) hoặc trả không đủ số tiền đã nợ. Trên thực tế, doanh nghiệp
có quyền kiện khách hàng để thu hồi được số nợ, nhưng khả năng không thể thu hồi
được vẫn rất lớn. Thứ ba, đứng về góc độ xã hội, kế toán theo cơ sở dồn tích mang lại
cơ hội cho các nhà quản trị thực hiiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, vì lợi nhuận là
chênh lệch giữa doanh thu và chi phí trong một kỳ. Cụ thể: việc lựa chọn thời điểm ghi
nhận doanh thu theo phần trăm hoàn thành, hay phân bổ chi phí theo thời gian sử dụng
ước tính, việc trích lập các dự phòng, hay thời điểm quyết định thanh lý các tài sản cố
định ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí trong kỳ, từ đó có thể điều
chỉnh được lợi nhuận trong kỳ.
Bàn về “thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh” được đề cập trong chuẩn mực.
Không phải tất cả các doanh nghiệp hiện nay khi áp dụng nguyên tắc hạch toán theo
cơ sở dồn tích đều xác định được chính xác thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Chẳng hạn, nếu phân tích thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng theo các phương
thức bán hàng như: bán theo đơn đặt hàng, chuyển hàng đến người mua, bán tùy thuộc
vào sự chấp nhận của người mua, bán ký gửi, bán với quyền trả lại thì thời điểm ghi
doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến
doanh thu của kỳ đó”.
Với nguyên tắc này, xét theo nghĩa đen thì có thể hiểu, bất cứ khi nào kế toán
ghi nhận doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng với việc tạo ra
doanh thu đó, hay nói cách khác là việc hạch toán đồng thời. Vấn đề ở đây là phải xác
định được chi phí tương ứng với doanh thu hạch toán trong kỳ. Tuy nhiên, điều này
chỉ đúng trong những trường hợp xác định doanh thu, chi phí của quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Còn một số các trường hợp khác, có một số khoản doanh
thu, thu nhập khác rất khó xác định được chi phí đi kèm để hạch toán đồng thời. Chẳng
hạn như: lãi tiền gửi ngân hàng (doanh thu tài chính), hay doanh thu tài chính nhận
được khi được chiết khấu thanh toán Như vậy, liệu việc ghi nhận các doanh thu này
Thực hiện: Lê Thị Cẩm Giang - KTO.K27.ĐN
Tiểu luận Lý Thuyết Kế toán GVHD: PGS.TS Ngô Hà Tấn
có vi phạm nguyên tắc phù hợp? Nếu xét về bản chất, các loại doanh thu này vẫn có
chi phí đi kèm, đó là chi phí cơ hội. Tuy nhiên, việc xác định được một cách đáng tin
cậy giá trị của loại chi phí này là rất khó, và việc có được chứng từ để làm bằng chứng
chứng minh cho việc phát sinh của chi phí này càng khó hơn. Điều đó dẫn đến việc kế
toán không thể hạch toán khoản chi phí này vào sổ sách.
Sự phù hợp về thời gian được hiểu là khi doanh thu hay chi phí phát sinh cho
nhiều kỳ thì cần phân bổ cho nhiều kỳ, chỉ đưa vào doanh thu, chi phí phần giá trị phát
sinh tương ứng với kỳ hạch toán. Đó là lý do hệ thống tài khoản có thêm các tài khoản
dùng để “treo” doanh thu, chi phí lại chờ phân bổ như TK142, TK242, TK338
c. Thận trọng
Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán
trong các điều kiện không chắc chắn. Các ước tính kế toán ở đây có thể liên quan đến
việc ghi nhận doanh thu trong trường hợp doanh thu hạch toán nhiều kỳ, hoặc ghi nhận
các chi phí phân bổ, chi phí ước tính. Nguyên tắc thận trọng giúp doanh nghiệp không
đánh giá cao khả năng của doanh nghiệp mình. Và có thể nói, nguyên tắc này đã giúp
kế toán có thể cân bằng hai nguyên tắc đã kể trên. Nguyên tắc cơ sở dồn tích yêu cầu
ghi nhận doanh thu tại thời điểm phát sinh, thì nguyên tắc thận trọng bổ sung thêm yêu
này cũng xuất phát từ lợi ích của người sử dụng thông tin. Một chính sách hay một
phương pháp kế toán thay đổi có thể ảnh hưởng đến một hoặc rất nhiều các chỉ tiêu
trên báo cáo tài chính, từ đó ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin.
Do đó, nếu có sự thay đổi, cần thiết phải được giải trình rõ ràng, để đảm bảo sự trung
thực và hợp lý của thông tin.
3. Kết luận
Thực hiện: Lê Thị Cẩm Giang - KTO.K27.ĐN
Tiểu luận Lý Thuyết Kế toán GVHD: PGS.TS Ngô Hà Tấn
Nhìn chung, các nguyên tắc kế toán được ban hành xuất phát từ nhu cầu cung cấp
thông tin trung thực và hợp lý cho các đối tượng sử dụng. Riêng đối với việc ghi nhận
doanh thu, thu nhập, chi phí, vì đây là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác
định kết quả kinh doanh trong kỳ của đơn vị, là chỉ tiêu đa số người sử dụng quan tâm
nên càng cần thiết phải được phản ánh trung thực, hợp lý. Việc phân tích về các
nguyên tắc này giúp chúng ta nhận diện được những ưu điểm cũng như những hạn chế,
từ đó có cái nhìn sâu hơn về việc sử dụng linh hoạt những nguyên tắc sao cho phù hợp
với doanh nghiệp mình.
Thực hiện: Lê Thị Cẩm Giang - KTO.K27.ĐN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam.
TS.Nguyễn Công Phương, Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của
doanh nghiệp, tạp chí kế toán số 77&78.
http://www.fts.com.vn/