Bài tập nhóm môn: Chính sách xóa đói giảm nghèo
ĐỊNH NGHĨA VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ CHUẨN NGHÈO Ở VIỆT NAM
Nhóm 01, 02
1. Nghèo đói
1.1 Định nghĩa về nghèo đói
Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo nhưng phổ biến hơn cả là “nghèo tuyệt
đối” và “nghèo tương đối”.
* Theo nghĩa tuyệt đối, nghèo khổ là một trạng thái mà các các nhân thiếu những nguồn lực thiết
yếu để có thể tồn tại. Khái niệm này nhằm vào phúc lợi kinh tế tuyệt đối của người nghèo, tách
rời với phân phối phúc lợi của xã hội. Điều này có nghĩa là mức tối thiểu được xác định bằng
ranh giới nghèo khổ. Ranh giới nghèo khổ phản ánh mức độ nghèo khổ của một tầng lớp dân cư
nhất định trong thời gian nhất định. Nó thay đổi cùng với sự phát triển kinh tế và những chính
sách điều chỉnh xã hội trong các kế hoạch chung và dài hạn của quốc gia. Ranh giới nghèo khổ
có thể được xếp theo cách tiếp cận “ đáp ứng nhu cầu cơ bản”, trong đó chỉ rõ mức dinh dưỡng
tối thiểu và những nhu cầu thực phẩm khác.
Ích lợi của việc sử dụng phương pháp tiếp cận nghèo tuyệt đối là có thể theo dõi những thay đổi
tình trạng phúc lợi của
* Theo nghĩa tương đối nghèo là tình trạng thiếu hụt các nguồn lực của các cá nhân hoặc nhóm
trong tương quan của các thành viên khác trong xã hội, tức là so với mức sống tương đối của họ.
Như vậy, nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung
bình của cộng đồng tại địa phương xem xét Khái niệm này thường được các nhà xã hội học ưa
dùng vì nghèo tương đối liên quan đến sự chênh lệch về những nguồn lực vật chất, nghĩa là về
bất bình đẳng phân phối trong xã hội
1
. Phương pháp tiếp cận này cho thấy rằng nghèo khổ là
khái niệm động thay đổi theo không gian và thời gian, cũng như theo trình độ học vấn và truyền
thống . Đây là cách tiếp cận đói nghèo tập trung vào phúc lợi của tỷ lệ số dân nghèo nhất, có tính
đến mức phân phối phúc lợi của toàn xã hội. Từ cách hiểu như trên, có thể nhận thấy khái niệm
nghèo tương đối phát triển theo thời gian, tùy thuộc vào mức sống của xã hội.
1
Từ điển Xã hội học Oxford 2010 (Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương, Trịnh Huy Hóa dịch), Nxb. Đại học
đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của
con người đã được xã hội thừa nhận thùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục
tập quán của các địa phương”. Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, trong đó
2
các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về nghèo đói còn để ngỏ về mặt lượng hóa, bởi nó chưa tính
đến những khác biệt và độ chênh lệch giữa các vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình
độ phát triển ở mỗi nơi.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm
1995 đã đưa ra một số định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau:
“Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số
tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Ngoài ra, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên
gia hàng đầu Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)- ông Abapia Sen, người được giải thưởng Nooben
về kinh tế năm 1998, cho rằng “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình
phát triển của cộng đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu,
người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi
người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có
cơ hội lựa chọn ít hơn.
* Ở Việt Nam đói và nghèo thường được chia ra làm hai khái niệm riêng biệt:
Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối
thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét
trên mọi phương diện. Trong hoàn cảnh nghèo thì người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vẫn vật lộn
với những mưu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn. Họ không
thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa- tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối
thiểu gần nhất, gần như không có. Điều này đặc biệt rõ ở nông thôn với hiện tượng trẻ em bỏ
học, thất học, các hộ nông dân nghèo không có khả năng để hưởng thụ văn hóa, chữa bệnh khi
ốm đau, không đủ hoặc không thể mua sắm thêm quần áo cho nhu cầu mặc, sửa chữa nhà cửa
cho nhu cầu ở… Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành
hầu như toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu như không có.
Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không
thuộc vùng hoặc quốc gia đó.
Nhiều nước trên thế giới ấn định ngưỡng nghèo thành một điều luật. Ở các nước phát triển
ngưỡng nghèo cao hơn đáng kể so với các nước đang phát triển. Hầu như mọi xã hội đều có các
công dân đang sống nghèo khổ. Trên đây là những định nghĩa khác nhau về đói nghèo, bởi như
đã nói ở trên đói nghèo không có một tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung nào cho tất cả các quốc
gia. Đói nghèo là một khái niệm động, nó còn thay đổi theo thời gian và không gian để định
nghĩa ngày càng hoàn thiện hơn.
- Tỷ lệ nghèo của xã hội
2
Vi.wikipedia.org 2010, Định nghĩa về Ngưỡng nghèo. Truy cập ngày 02 tháng 12 năm 2011, từ
/>4
Ngưỡng nghèo là công cụ để đo tỷ lệ nghèo trong xã hội – một chỉ số quan trọng phản ánh mức
sống của xã hội về mặt thu nhập cá nhân. Tỷ lệ nghèo là tỷ lệ số hộ có thu nhập dưới hoặc bằng
chuẩn nghèo đối với toàn bộ số hộ trong quốc gia.
Các cải cách kinh tế-xã hội như phúc lợi xã hội và bảo hiểm thất nghiệp được tiến hành dựa trên
những phản ánh của các chỉ số như ngưỡng nghèo và tỷ lệ nghèo.
- Các yếu tố của ngưỡng nghèo
Việc xác định ngưỡng nghèo thường được thực hiện bằng cách tìm ra tổng chi phí cho tất cả các
sản phẩm thiết yếu mà một người lớn trung bình tiêu thụ trong một năm. Phương pháp tiếp cận
này dựa trên cơ sở rằng cần một mức chi tiêu tối thiểu để đảm bảo duy trì cuộc sống. Đây đã là
cơ sở ban đầu của ngưỡng nghèo ở Hoa Kỳ, mức chuẩn này đã được nâng lên theo lạm phát.
Trong các nước đang phát triển, loại chi dùng đắt nhất trong các khoản là trả cho thuê nhà (giá
thuê căn hộ). Do đó, các nhà kinh tế đã đặc biệt chú ý đến thị trường bất động sản và giá thuê
nhà vì ảnh hưởng mạnh mẽ của chúng lên ngưỡng nghèo. Các yếu tố cá nhân thường được
nghiên cứu như vị trí trong gia đình: người đó có phải là bố mẹ, người già, trẻ con, kết hôn hay
không, v.v.
- Các vấn đề trong việc sử dụng ngưỡng nghèo
Sử dụng ngưỡng nghèo thường có vấn đề vì có một mức thu nhập tiệm cận trên ngưỡng này về
bản chất không khác mấy so với mức thu nhập tiệm cận dưới: các hiệu ứng tiêu cực của nghèo có
xu hướng liên tục hơn là rời rạc và mức thu nhập thấp tương tự tác động những người khác nhau
• Một số rủi ro khác (như mất tài sản )
Hộ có khả năng rơi xuống nghèo là hộ có tổng số điểm từ 10 điểm trở lên.
Đoàn RPGA
4
đã nhận thấy rằng có sự khác biệt giữa những nhóm người khác nhau trong nhận
thức về nghèo. Những người nghèo có khái niệm về nghèo rất khác với định nghĩa của CPVN.
Vì vậy, người nghèo không biết được liệu họ có thuộc nhóm những người nghèo theo như sự
phân loại của CPVN hay không. Điều này đã gây khó khăn cho họ trong việc đòi hỏi những
quyền lợi của mình.
Bảng 1: Nhận thức về đói nghèo của nhóm những người khá giả và nhóm những
người nghèo
Nhận thức về đói nghèo của nhóm những
người khá giả
Nhận thức về đói nghèo của nhóm những
người nghèo
4
Tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Chương trình toàn diện về Tăng trưởng và Giảm
nghèo (CPRGS) và bắt đầu quá trình triển khai thực hiện CPRGS ở cấp địa phương. RPGA là: Báo cáo nghèo
và quản trị nhà nước có sự tham gia của người dân.
6
Là người nghèo có nghĩa là không có nhà gạch,
không có vốn để kinh doanh, không có kinh
nghiệm kinh doanh, không có những tài sản có
giá trị như tivi hoặc xe đạp, thường xuyên bị
ốm, già và cô đơn, sở hữu một vài gia súc, có
mảnh đất nhỏ và cằn cỗi, có nhiều con nhỏ,
mất những lao động chính, mất mùa hoặc có
thuyền đánh cá không may mắn, không có đủ
thức ăn cho quá hai tháng và phải nhặt củi
để bán.
nghèo mà theo đó, nhóm người nghèo thường có những đặc trưng sau:
- Luôn sống trong tâm trạng bị gạt ra bên lề và không thuộc về xã hội.
- Luôn cảm thấy xa lạ ngay trên chính quê hương mình và thường tin rằng các thiết chế xã hội
hiện hữu không thoả mãn những mong đợi và nhu cầu của họ.
- Luôn cảm thấy không được trợ giúp, giúp đỡ đủ; tình trạng thất nghiệp cao, lương thấp.
- Luôn nghĩ rằng mình ở vị trí thấp kém trong thang bậc xã hội, cảm thấy chẳng có quyền lực
hay tiếng nói gì trong xã hội và chẳng xứng đáng với xã hội.
- Không có cái nhìn dài hạn mà luôn chọn thái độ sống vì cái hiện tại, cái trước mắt.
- Tin tưởng mạnh mẽ vào định mệnh.
- Về đời sống gia đình, nét nổi bật là tỉ lệ ly hôn cao, trẻ em và phụ nữ bị bỏ rơi, do đó gia đình
thường trở thành kiểu gia đình “mẫu hệ”.
- Có xu hướng kết hôn rất sớm, làm cha mẹ ở độ tuổi thanh niên (teen parents); hôn nhân chủ
yếu là “cặp đôi tự do”, có khi là cùng huyết thống.
- Nhiều thế hệ sống chung nên qui mô gia đình thường lớn.
- Cha mẹ thường lạm dụng quyền lực trong quá trình nuôi dạy con cái, rất ít có sự truyền thông
với con cái, con cái thường bị đánh đập.
- Trẻ em gần như không biết đến giai đoạn tuổi thơ do phải tham gia lao động rất sớm và thường
có kinh nghiệm tình dục rất sớm.
- Thường không quan tâm đến nền giáo dục chính thức, vì vậy con cái họ ít được trang bị những
kỹ năng để thành công trong xã hội.
- Có rất ít ý thức về lịch sử, thường chỉ biết đến những vấn đề của mình, hàng xóm của mình, lối
sống của mình.
- Không hề có ý thức giai cấp.
- Quan niệm thành công là nhờ cơ may chứ không do nỗ lực bản thân.
- Ít có thói quen tiết kiệm.
- Thường không có thói quen tích luỹ lương thực, thường có thói quen mua thực phẩm với số
lượng ít và mua nhiều lần trong ngày.
- Việc thế chấp tài sản cá nhân rất phổ biến, thường thiết kế hệ thống tín dụng tự phát để vay
mượn khi có nhu cầu.
8
Tintuc.xalo.vn, Nhận diện người nghèo, truy cập ngày 18/12/2011, từ />765989969/Nhan_dien_nguoi_ngheo.html
9
- Tài sản vật thể chỉ những cơ sở vật chất cơ bản và những công cụ sản xuất cần thiết cho việc
đảm bảo cuộc sống như đường giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống vệ sinh, nhà ở, năng
lượng và dịch vụ.
- Tài sản tài chính chỉ những nguồn lực tài chính mà người nghèo có bao gồm những khoản tiền
(Ví dụ: tiền tiết kiệm, khoản vay) hay những nguồn tiền thường xuyên (Ví dụ lao động làm thuê,
chuyển khoản, trợ cấp, v.v).
Cơ hội là một trong những kênh quan trọng nhất để giảm nghèo. Cơ hội có thể được xem là sự
kết hợp giữa hai yếu tố: sở hữu tài sản (ít nhất là tiếp cận với tài sản) và lợi tức thu được từ tài
sản đó. Nhiều khi tài sản của người nghèo chỉ là sức lao động. Nhưng nếu không có được những
công việc trả lương tốt, thì một mình tài sản này không đủ để đảm bảo thu nhập cho họ. Những
tài sản chính khác gồm tay nghề, đất đai, sức lực và môi trường. Một trong những điểm mạnh
của Việt Nam là đảm bảo trình độ học vấn tương đối cao của người dân, bao gồm một bộ phận
lớn những người nghèo. Thông qua quá trình cải cách đất đai, cac hộ nông thôn ở đồng bằng đã
có quyền sử dụng đất. Đã có những nỗ lực đáng kể nhằm cung cấp tài chính quy mô nhỏ cho các
hộ nghèo. Tuy nhiên thị trường đất và vốn vẫn còn kém phát triển ở Việt Nam, trong khi đó hội
nhập kinh tế toàn cầu làm ảnh hưởng đến lợi tức thu về từ lao động nói chung và kỹ năng nói
riêng. Phát triển kinh tế nhanh có thể ảnh hưởng đến môi trường theo hướng đặc biệt bất lợi cho
người nghèo. Nhìn chung quá trình phát triển đã làm thay đổi căn bản cơ cấu sở hữu tài sản và
lợi tức thu về từ những tài sản đó, mà điều đó lại có tác động đến nghèo đói và bất bình đẳng.
1.4.2. Đất đai
Đất đai là phần tài sản thiết yếu của người dân. Hầu hết mỗi người dân đều sinh sống trong một
khu đất được tổ tiên để lại. Họ có thể có nhiều hoạt động kinh tế nhằm kiếm sống trên khu đất
ấy, nhưng người nghèo chủ yếu sử dụng đất đai mình có để làm nông nghiệp. Tuy nhiên, theo
nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, nhiều hộ gia đình không có đất đai để trồng trọt và nhiều hộ
gia đình có đất nhưng lại bán đi hoặc đem đi cầm cố để đầu tư vào những lĩnh vực kinh tế khác
hoặc bán đi do nghèo túng hoặc do các sự cố đột xuất trong gia đình.
Đất đai của người nông dân ở nhiều nơi được mở rộng. Họ được cấp thêm đất hoặc họ xin thêm
đất để làm kinh tế, nhất là trong kinh tế lâm nghiệp. Diện tích đất rừng được giao cho người dân
việc với thu nhập thấp, không có nguồn tích lũy để thoát nghèo, họ rơi vào vòng nghèo đói như
là một sợi dây quàng cổ. Trình độ tay nghề của người dân quyết định số thu nhập mà họ có được
hàng tháng. Người lao động có tay nghề thường có thu nhập cao hơn là người lao động không có
11
tay nghề. Tuy nhiên, yếu tố về trình độ tay nghề bị quyết định bởi yếu tố giáo dục. Một người lao
động được đào tạo bài bản khác làm việc luôn có năng suất hơn là người lao động không được
đào tạo. Nghèo là yếu tố quan trọng trong việc đến trường của người dân. Khoảng cách giữa
người giàu và người nghèo trong xã hội cũng được thể hiện bằng việc mà họ có được đến trường
hay không và có được theo học đến trình độ nào. Học tập mang lại nhiều lợi ích trong đó có cả
lợi ích kinh tế. vì vậy, nhà nước cần có những chính sách phù hợp nhằm mở cửa giáo dục và
mang giáo dục đến với tất cả người dân trong cả nước. Học tập là cách thoát nghèo dễ nhất.
1.4.5. Việc làm
Tỷ lệ thất nghiệp của nước ta không cao so với các nước khác trên thế giới. Nhờ thắng lợi của
cuộc cải cách năm 1986, cơ cấu kinh tế của Việt Nam thay đổi một cách tích cực. Nông nghiệp
dần thu hẹp lại, công nghiệp và tiêu thủ công nghiệp ngày càng được mở rộng và phát triển
mạnh. Các doanh nghiệp quốc doanh và phi quốc doanh mọc lên như nấm sau mưa. Chính điều
này đã giúp tạo việc làm cho hàng ngàn người dân Việt. Do dân số Việt Nam là dân số trẻ, số
người trong độ tuổi lao động cao và số người tham gia lao động cũng rất cao. Trên thị trường lao
động Việt Nam xuất hiện rất nhiều trung tâm môi giới, giới thiệu việc làm. Tuy nhiên những
trung tâm này dường như hoạt động vẫn chưa thực sự hiệu quả. Người dân nhiều khi được giới
thiệu những việc làm không phù hợp với sức lực và trình độ của mình. Điều đó dẫn đến việc
chuyển đổi việc làm của người dân từ nghành kinh tế này sang ngành kinh tế khác và một điều
đáng lưu tâm hơn nữa là tai nạn lao động. Tuy nhiên khi gặp phải tai nạn lao động người dân hầu
như không được hưởng các chính sách của nhà nước về các chế độ ưu tiên, đãi ngộ đối với
những trường hợp này. Vì vậy, vấn đề đặt ra là tạo việc làm phải đi đôi với việc phân bổ việc
làm, khuyến khích thành lập các doanh nghiệp mới để tạo việc làm cho người dân và có những
chính sách đãi ngộ với những công việc mang tính rủi ro cao.
1.4.6. Môi trường
Môi trường là yếu tố đầu tiên mà người dân tiếp xúc để kiếm sống. Môi trường là nguồn sống
của con người. Các nhu cầu của con người đều được đáp ứng bởi môi trường sống xung quanh
sản mà người nghèo phụ thuộc vào. Sự phân bố lại các nguồn lực – thông thường có ý nghĩa đối
với việc cải thiện các lựa chọn sống của người nghèo – có thể là một quá trình mang lại các lợi
ích trái ngược nhau và cũng có thể mang lại lợi ích cho tất cả các bên. Quan niệm về nghèo đói
như một tập hợp các mối quan hệ là đặc biệt quan trọng khi thấy rằng bất cứ một tài sản nào
13
cũng do những nhóm người khác nhau quản lý, trong đó một số là người nghèo, một số khác
không nghèo. Do đó, chỉ tập trung vào người nghèo mà không gắn họ với những nhóm người
khác sẽ không chỉ bỏ qua những vấn đề công bằng và bình đẳng mà còn là sự thiếu thận trọng về
chính trị và không có hiệu quả về mặt thực tế.
1.4.8. Mức độ và địa lý
"Người nghèo" không phải là một nhóm đống nhất. "Người nghèo" ở bất cứ một địa điểm nào có
thể được coi như một nhóm nằm dưới một chuẩn mực tối thiểu nào đó, do vậy có thể tập trung
họ thành một nhóm đối với các chính sách mục tiêu.
Ở khu vực nông thôn những người nghèo là những người có rất ít tài sản, bị đặt ra ngoài lề và
thường xuyên phải sống lần hồi qua ngày. Họ có thể không có các nguồn lực ngoài việc bóc lột
quá sức môi trường xung quanh họ, thậm chí nếu điều này làm giảm giá trị lâu dài của môi
trường đối với nhu cầu của họ. Đối với những người quá nghèo, cải thiện sự tiếp cận các tài sản
chính thông qua các chương trình như: tín dụng nhỏ và quỹ tiết kiệm có thể là một giải pháp
thích hợp.
Có thể có những mức độ nghèo đói rất khác nhau trong khuôn khổ hộ gia đình. Phụ nữ và trẻ em,
đặc biệt là trẻ em gái thường là những người thiệt thòi nhất trên phương diện tiếp cận đến các tài
sản sản xuất. Họ thường bị tác động nhiều nhất bởi sự ô nhiễm không khí và nước và sự tiếp cận
hạn chế đến giáo dục. Họ cũng thường bị yêu cầu phải thực hiện những nhiệm vụ khó khăn nhất
trong việc quản lý nguồn lực môi trường. Đặc biệt, trẻ em bị tác động nhiều hơn từ những hóa
chất môi trường nhiều hơn bất kỳ một nhóm xã hội nào khác. Nghèo đói không chỉ là vấn đề
cạnh tranh giữa các nhóm để có được nguồn lực mà nó còn là vấn đề cạnh tranh bên trong hộ gia
đình về nguồn lực này.[
6
]
2. Chuẩn nghèo ở Việt Nam
cho lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm được gọi là đường nghèo hay chuẩn
nghèo (đó là đường nghèo chung). Để tiện cho việc tính toán, đánh giá, người ta chuyển từ mức
chi tiêu sang mức thu nhập. Như vậy, đường đói nghèo chung sẽ ở mức cao hơn đường đói
nghèo về lương thực, thực phẩm. Ví dụ: Năm 1993 đường đói nghèo chung có mức chi tiêu là
1,16 triệu đồng/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thực phẩm là 55%). Năm 1998
là 1,79 triệu đồng/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thực phẩm là 39%)
8
. Năm
1998 chuẩn nghèo lương thực thực phẩm của Việt nam bằng 107 234 VND/tháng; chuẩn nghèo
chung bằng 149.156 VND/tháng
7
Tổng cục Thống kê Việt Nam, Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển 1986-2005. Truy cập ngày 02 tháng 12 năm
2011, từ www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=418&ItemID=4326
8
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2002. Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo. 2002. Hà
Nội
15
Khi xác định người nghèo phải gắn chặt với tính thu nhập bình quân của hộ gia đình. Tuy vậy, tỉ
lệ hộ nghèo không đồng nghĩa với tỉ lệ người nghèo. Thông thường, trong một quốc gia thì tỉ lệ
người nghèo bao giờ cũng cao hơn tỉ lệ hộ nghèo. Vì quy mô hộ gia đình của nhóm nghèo cao
hơn nhóm không nghèo.
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến đổi theo không gian và thời gian. Về không gian nó
biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, chẳng hạn, đô thị, nông thôn
đồng bằng và nông thôn miền núi. Về thời gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã
hội của từng giai đoạn lịch sử.
2.2 Sự thay đổi các chuẩn nghèo của Việt Nam từ năm 1990 đến nay
Căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã
nhiều lần công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể
khác nhau. Việc điều chỉnh chuẩn nghèo căn cứ chủ yếu vào các yếu tố sau: (1) Mức tăng thu
nhập thực tế của dân cư, đặc biệt là nhóm nghèo trong thời kỳ điều chỉnh; (2) Tốc độ lạm phát
Trong đó, theo số liệu thống kê tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta từ 2004 đến 2008 liên tục giảm (bảng
2). Nếu vào năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 18,1% thì đến năm 2009 giảm còn 12,3%; trung
bình mỗi năm giảm gần 1,2%
11
.
Chuẩn nghèo 2001-2005 so với giai đoạn trước đó tăng 1,5 lần, còn về phương pháp tiếp cận và
xác định vẫn dựa trên cơ sở thu nhập của hộ. Trong chuẩn nghèo mới không có tiêu chí hộ đói vì
tỉ lệ hộ đói không còn đáng kể. Sở dĩ có lựa chọn phương án tăng lên 1,5 lần là vì trong 5 năm
1996-2000 mức sống dân cư Việt Nam tăng lên khoảng 1,47 lần và GD giai đoạn 1991-2000
tăng 1,97 lần. Theo chuẩn trên, đầu năm 2001 Việt Nam có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm tỉ
lệ 17,2%. Tuy nhiên, theo nhận xét của một số chuyên gia quốc tế thì chuẩn về hộ nghèo của
nước ta thấp hơn so với tình hình thực tế, chỉ ngang bằng một số nước trong khu vực, thấp hơn
Trung Quốc, Thái Lan… Chính phủ lựa chọn chuẩn nghèo thấp trong giai đoạn này là nhằm tập
trung nguồn lực cho đối tượng nghèo nhất nhằm giải quyết nhu cầu ăn và mặc; còn về y tế, giáo
dục nhà nước có thể áp dụng chính sách trợ giúp. Hạn chế của chuẩn nghèo thấp là chưa phản
ánh đúng thực trạng nghèo ở Việt Nam, nhiều người vượt qua ngưỡng nghèo mà cuộc sống vẫn
khó khăn; vì vậy theo xu hướng hội nhập khu vực, từ năm 2006 chính phủ đã áp dụng chuẩn
nghèo mới. Chuẩn nghèo này tính trên cơ sở bảo đảm 2100 kcal mỗi ngày và có tính đến nhu cầu
phi phương thực, thực phẩm (mặc, y tế, giáo dục, nhà ở, văn hóa, đi lại, giao tiếp xã hội). Ước
tính nhu cầu phi lương thực, thực phẩm chiếm khoảng 40% tổng giá trị chi tiêu.
Bảng 2: Chuẩn nghèo của Việt Nam từ năm 2004 đến 2008
Năm Thành thị Nông thôn
2004 218 168
2006 260 200
2008 370 290
Nguồn: Niên giám thống kê 2009, Nxb.Thống kê 2010
11
Lê Ngọc Hùng, 2010, Chênh lệch giàu nghèo và phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay. Truy cập ngày 02 tháng
12 năm 2011, từ />17
Tiếp đó, theo quyết định của thủ tướng chính phủ Việt Nam 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08
*Hà Nội
UBND thành phố Hà Nội vừa thông qua mức chuẩn nghèo mới của thành phố giai đoạn 2011-
2015 theo dự thảo về chuẩn nghèo mới mà Sở Lao động - Thương binh và xã hội thành phố xây
12
Song Linh, 2011, Việt nam vẫn là một nước nghèo. Truy cập ngày 02 tháng 12 năm 2011, từ
/>18
dựng.
Theo đó, những hộ có mức thu nhập dưới 750.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị)
và dưới 550.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực nông thôn) là hộ nghèo. Mức cận nghèo đối
với khu vực thành thị là từ 751.000 đồng - 1.000.000 đồng/người/tháng, ở khu vực nông thôn từ
551.000 - 750.000 đồng/người/tháng.
Với tiêu chuẩn này, số hộ nghèo của Hà Nội được xác định là 148.148 hộ, chiếm 9,6% , số hộ ở
mức cận nghèo là 61.465 hộ, chiếm 3,98%.
Hiện Hà Nội đang thực hiện mức chuẩn nghèo đối với khu vực thành thị là dưới 500.000
đồng/tháng, ở nông thôn dưới 330.000 đồng/tháng; cận nghèo ở thành thị từ 500.000 - 650.000
đồng/tháng, ở nông thôn là 330.000 - 430.000 đồng/tháng (giai đoạn 2009 - 2013).
Với mức áp dụng chuẩn nghèo của giai đoạn 2009 – 2013 nói trên, đầu năm 2009, toàn thành
phố có 117.825 hộ nghèo, chiếm 8,43% và 19.543 hộ cận nghèo, chiếm 2,83%. Đến cuối năm
2009, tỷ lệ hộ nghèo của Hà Nội đã giảm xuống còn 6,09% và cuối năm 2010, số hộ nghèo được
giảm tiếp 22.500 hộ, còn 4,48%.
*Thành phố Hồ Chí Minh
Chuẩn nghèo giai đoạn 3 (2009 - 2025) của TPHCM vừa được UBND TP ban hành tương đương
với mức chuẩn nghèo do Ngân hàng thế giới xác định (2 USD/người/ngày).
Theo chuẩn nghèo mới này, hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 12 triệu
đồng/người/năm trở xuống (tương đương 2 USD/người/ngày), không phân biệt nội thành hay
ngoại thành.
Cuối năm 2008, TP cơ bản xóa hết hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2 (thu nhập dưới 6 triệu
đồng/người/năm). Do đó, đến đầu năm 2009, TP quyết định ban hành chuẩn nghèo giai đoạn 3
(2009 - 2015) lên thành dưới 12 triệu đồng/người/năm ở các quận nội thành, dưới 10 triệu
đồng/người/năm ở các huyện ngoại thành.
với thành thị với xuất phát điểm ban đầu thấp (700.000đ/người/năm 1993 đạt đến
6.000.000đ/người/năm 2010).
2.5 Sự khác biệt chuẩn nghèo giữa các phường, xã của một địa phương
* Sự khác biệt chuẩn nghèo của các phường xã ở Hà Nội:
Theo quyết định của việc ban hành chuẩn nghèo, cận nghèo của thành phố Hà Nội giai đoạn
2011 – 2015 đã quy định mức chuẩn nghèo và cận nghèo như sau:
13
Th.s. Lê Văn Thành, Cơ sở khoa học và thực tiễn xác định chuẩn nghèo ở TP Hồ Chí Minh, Viện kinh tế, UBND
TP Hồ Chí Minh, 2006, Trang 8-9
20
Chuẩn nghèo: Ở khu vực thành thị gồm những hộ có thu nhập bình quân từ
750.000đ/người/tháng trở xuống là hộ nghèo; khu vực nông thôn gồm những hộ có mức thu nhập
binh quân từ 550.000đ/người/tháng trở xuống là hộ nghèo.
Chuẩn cận nghèo: Ở khu vực thành thị gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ
751.000đ/người/tháng đến 1.000.000đ/người/tháng là hộ cận nghèo; khu vực nông thôn gồm
những hộ có mức thu nhập bình quân từ 551.000đ/người/tháng đến 750.000đ/người/tháng là hộ
cận nghèo.
14
Như vậy, sự khác biệt chuẩn nghèo ở các phường xã Hà Nội chính là sự khác biệt ở giữa khu vực
phường xã là thành thị với phường xã là nông thôn. Mà theo số liệu thống kê về số đơn vị hành
chính (Sau khi đã mở rộng) (tại thời điểm 01/08/2008
15
) ở bảng dưới đây:
Bảng 6: Số đơn vị hành chính (tại thời điểm 01/08/2008)
Đơn vị hành chính Số lượng
Thành phố trực thuộc 2
Quận 9
Huyện 18
Phường 143
Thị trấn 22
trẻ em dưới 5 tuổi và tỉ lệ người thiếu ăn vẫn còn khá cao.
Đói nghèo giết chết hơn 30.000 trẻ dưới 5 tuổi trên khắp thế giới mỗi ngày, báo cáo của Manos
Unidas - một tổ chức phi chính phủ (NGO) Tây Ban Nha, Manos Unidas (United Hands) cho
biết điều này có nghĩa là có khoảng 11 triệu trẻ em chết mỗi năm vì nghèo đói, trong đó có 7
triệu trẻ dưới 5 tuổi; 130 triệu trẻ không được đi học và 82 triệu trẻ bị mất tuổi thơ bởi phải kết
hôn quá sớm.
Báo cáo của Manos Unidas cũng cho hay hiện có 15 triệu trẻ em trên thế giới bị mồ côi vì AIDS,
đa số rơi vào trẻ ở Nam Phi; 246 triệu trẻ phải đi làm khi chưa đủ tuổi lao động, trong đó có 72
triệu trẻ dưới 10 tuổi. Trong khi đó, theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, có khoảng 100 triệu trẻ
em trên thế giới không có nhà cửa và đang sống trên các đường phố. Trước thực trạng này, Liên
Hiệp Quốc (LHQ) kêu gọi các nước cải thiện điều kiện y tế và vệ sinh, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ
em, cải thiện tình trạng đói nghèo và tạo điều kiện cho trẻ em phổ cập giáo dục tiểu học.
Năm 2000, các nước trên thế giới đã thống nhất đề ra mục tiêu này, theo đó giảm một nửa số
người nghèo đói vào năm 2015. Tuy nhiên, trong bối cảnh các cuộc khủng hoảng lương thực, tài
chính diễn ra liên tiếp đẩy số người nghèo tăng cao như hiện nay, đối với nhiều nước, mục tiêu
này là bất khả thi.
Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng
Thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm
22
1992-1993 và năm 1997-1998). Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương
thực, thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao
gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).
Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Nước
Mỹ áp dụng mức chuẩn từ những năm 60 của thế kỷ trước, cụ thể, thu nhập 18.600 đô la/năm là
ngưỡng nghèo đối với các gia đình có bốn người (gồm bố mẹ và hai con), và thu nhập 9.573 đô
la/năm là ngưỡng nghèo đối với người độc thân trong độ tuổi lao động. Theo chuẩn này thì năm
1993 nước Mỹ có 15,1% dân số nghèo khổ, năm 2000 tỷ lệ đó giảm xuống còn 11,3%, nhưng tới
năm 2003 thì tỷ lệ người nghèo của nước Mỹ tăng lên 12,5% (tức là khoảng 35,9 triệu người dân
Mỹ sống trong tình trạng nghèo đói).
Ma-lai-xi-a sử dụng tiêu chuẩn 9.910 ca-lo một ngày tính trên một gia đình có hai người lớn và ba
Lào Kip/tháng 20.911,00
Phi-lip-pin Pê-sô/năm 11.605,00
Thái Lan Bạt/tháng 882,00
Việt Nam Nghìn đồng/năm 1.790,00
Nam Á
Ấn Độ
183 073.9489
Thành thị Ru-pi Ấn Độ/tháng 454,11
Nông
thôn
Ru-pi Ấn Độ/tháng 327,56
Nê-pan Ru-pi Nê Pan/năm 4.404,00
Pa-ki-xtan Ru-pi Pa-ki-
xtan/tháng
748,56
Xri Lan-ca Ru-pi Xri Lan-
ca/tháng
791,67
Trung Á
A-déc-bai-
gian
Nghìn Ma-nat/năm 120,00
Ca-dắc-xtan Ten-ghê/tháng 4.007,00
Cư-rơ-gư-
xtan
Sôm/năm 7.005,63
Thái Bình
Dương
Phi-ji Đô la/tuần 83,00
Mic-rô-nê-
Mông Cổ 1998 35,6 27,0 74,9
Đông Nam Á
Cam-pu-chia 1999 35,9 34,1 37,7
In-đô-nê-xi-a 2002 18,2 7,5 52,4
Lào 1997 38,6 39,0 81,7
Ma-lai-xi-a 1999 7,5 0,2 9,3
Mi-an-ma 1997 22,9
Phi-lip-pin 2000 34,0 15,5 47,5
Thái Lan 2002 9,8 1,9 32,5
Việt Nam 2002 28,9 13,1 58,5
Nam Á
Bang-la-đét 2000 49,8 36,0 82,8
Ấn Độ 1999 26,1 36,0 81,3
Man-đi-vơ 1998 43,0 0,1 2,9
25