Hiện đại hoá văn học đầu thế kỉ
XX: Nghiên cứu so sánh trường hợp
Hàn Quốc và Việt Nam
Tiến trình hiện đại hóa văn học ở Hàn Quốc và Việt Nam bắt nguồn từ đâu, đi qua
những sự kiện gì, vận động theo hình thái nào…, ấy là những vấn đề mà tham luận này tìm
cách trả lời, trên cái nhìn so sánh.
Theo những tìm hiểu còn hạn hẹp của chúng tôi, tiến trình hiện đại hóa văn học ở Hàn
Quốc và Việt Nam đều bắt nguồn từ nhu cầu nội tại của nền văn học bản địa. Có những dấu
hiệu rất xa (từ quá khứ, trong văn học dân gian và văn học trung đại của Hàn Quốc và Việt
Nam) của một cảm thức hiện đại.
Nếu chúng ta quan niệm hiện đại như là một cảm thức về thời gian (hiện tồn) và ý thức
về thân phận, tình huống như một cá thể.
Những cái hôm qua, đêm qua, xuất hiện nhiều trong ca dao và thơ thiền Việt Nam là
một thời điểm cụ thể để đối sánh với cái hiện tại. Một bài ca cổ như Hoàng Điểu ca của Hàn
Quốc, nếu chuyển sang tiếng Hàn và không nói xuất xứ, cũng có thể tưởng là thơ của thời hiện
đại. Có rất nhiều ví dụ như vậy rải rác, lẩn khuất trong giòng chảy văn học hai nước từ thuở
nguyên sơ cho đến khi chịu ảnh hưởng của nước ngoài.
Cắt nghĩa điều này, tôi nghĩ đến mấy yếu tố: văn hóa nông nghiệp, triết lý Phật giáo,
và sức sống mạnh mẽ độc lập của văn hóa dân gian hai nước. Tuy nhiên, cũng có thể thấy
rằng, cảm thức về thời gian bắt nguồn từ văn hóa nông nghiệp và triết học Phật giáo khác
với cảm thức về thời gian trong văn hóa hiện đại. Một bên là thời gian luân chuyển thường
hằng của vũ trụ mà con người hòa nhập, nương theo; một bên là thời gian xã hội ở đó con
người vừa xây dựng những quy phạm vừa luôn có khát vọng vượt thoát chúng để tiến về
phía trước. Nhu cầu bộc lộ cá nhân cũng vậy. Cái hồn nhiên, tự nhiên nhi nhiên trong văn
học dân gian, sẽ rất khác với cái ý thức vừa bộc lộ bản ngã, vừa ngắm nhìn cách thức bộc lộ
ấy của văn học hiện đại.
Dù khác nhau về tính chất, vẫn có thể khẳng định rằng, những yếu tố trên trong văn học
như những lĩnh vực khác, nếu bản thân đời sống văn học không có những nhu cầu, không tự
thân vận động thì những ngoại lực là vô nghĩa.
Những tác động ấy đã thấy rõ vào cuối thế kỷ XIX, ở cả Hàn Quốc và Việt Nam, theo
những cách khác nhau.
Đi qua cửa ngõ Nhật Bản, Hàn Quốc chủ động hiện đại hóa văn học. Từ chính sách thuộc
địa của Pháp, Việt Nam được chuẩn bị từng bước chậm có điều kiện để đưa văn học thoát hẳn hệ
hình trung đại. Cả hai đều bước đi trong gông xiềng dưới chân. Thoạt nhìn, tưởng chừng như là
Việt Nam thuận lợi, bởi vì Việt Nam tiếp xúc trực tiếp với một mô hình văn hóa và văn học vốn
được xem là sáng giá của phương Tây: Pháp. Kỳ thực, con thuyền văn học Hàn Quốc đã ra khơi
nhẹ nhàng hơn. Phải chăng là do khoảng cách không gian Hàn – Nhật thuận lợi? Phải chăng là
môi trường hiện đại hóa của Nhật tốt hơn môi trường thuộc địa của Việt Nam? Phải chăng là
người Hàn có tập quán xuất dương du học từ rất sớm mà Việt Nam thì không có được điều kiện
đó? Phải chăng là văn hóa, triết học và mỹ học của Hàn Quốc và Nhật Bản có nhiều điểm thuận
lợi, và họ có thể sẵn sàng dứt khoát đi về phía trước?
Cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, người ta chứng kiến hàng loạt thơ ca
yêu nước xuất hiện trên báo chí Hàn Quốc và Việt Nam. Trong tinh thần cải cách và khai sáng,
thơ ca chữ Hàn dùng thể sijo và kasa cải biên, thể hiện tinh thần yêu nước: kêu gọi bảo vệ chủ
quyền đất nước và đoàn kết dân tộc, khuyến khích học tập cái mới. Bên cạnh đó, có những bài
ca viết bằng chữ Hán – Hàn hỗn thể (kukhanmun), với cảm hứng phê phán và châm biếm xã
hội. Trong tinh thần duy tân, thơ ca Việt Nam vừa cổ vũ tinh thần chống Pháp, và học tập cái
mới, vừa tố cáo hiện thực xã hội, với các hình thức phong phú: vè, phú, thơ đường luật, văn tế,
thơ trào phúng… Nếu hầu hết những tác giả Hàn Quốc giai đoạn này là người viết nghiệp dư
(5)
,
thì ở Việt Nam, bên cạnh những tác giả vô danh, lại có những tác giả tên tuổi như Trần Tế
Xương, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…
Tính theo niên đại, có thể nói, những dấu tỏ của nền văn học hiện đại xuất hiện ở Việt
Nam trước Hàn Quốc. Việt Nam có tờ báo Quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo năm 1865, cùng
với một nhân vật văn hóa đáng kính trọng là Trương Vĩnh Ký. Trong thời kỳ sơ khai, ông và
một số học trò thân tín của mình đã mở lối bằng hàng loạt tác phẩm văn học mang tư cách khai
chính sách chia để trị của thực dân Pháp, thực tế, trước đó, Việt Nam cũng đã có những khác
biệt nhất định về văn hóa vùng miền. Là một vùng đất mới, Nam Kỳ giản dị hơn trong những
gắn kết với văn hóa truyền thống, đặc biệt là Nho giáo, khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, cái giằng
co kháng cự, như của Nguyễn Đình Chiểu, là cái giằng co kháng cự thuần túy trên ý thức chủ
quyền dân tộc, hơn là trên góc độ học thuật, hệ tư tưởng. Các thế hệ trí thức Nam Kỳ sau đó đã
tham dự vào con đường hiện đại hóa theo tinh thần thực tiễn rõ rệt. Họ làm báo, viết văn, dịch
thuật, hay sưu tầm, giới thiệu trên cung cách của người hoạt động chuyên nghiệp (nghĩa là sống
bằng ngòi bút), nhưng họ không hề lập thuyết. Công bằng mà nói, những người cầm bút Nam
Kỳ không phải không có quan niệm, thậm chí Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Trần
Chánh Chiếu đã có những quan niệm mới mẻ so với đương thời, nhưng những quan niệm ấy
được biểu hiện rời rạc và lặng lẽ. Khi chữ Quốc ngữ trở thành một phương tiện phổ biến, sinh
hoạt báo chí (dưới hình thức thông tin, quảng cáo, giải trí) đã phổ biến ở một mức độ nhất định,
công chúng văn học của Nam Kỳ được mở rộng. Hơn nửa thế kỷ bước chân vào hiện đại, văn
học Việt Nam đổi mới một cách tự nhiên dung dị, nương theo nhu cầu của công chúng và theo
những điều kiện sẵn có.
Nhu cầu của công chúng là giải trí, văn học từ 1887 đến 1932 ở Nam Kỳ chủ yếu là đáp
ứng phương diện ấy: văn học đại chúng áp đảo văn học hàn lâm. Tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trở
thành hiện tượng. Sự xuất hiện của người đọc giải trí là một nét mới trên góc độ loại hình độc
giả; tính đại chúng, tính dân chủ, cùng với khả năng tiêu thụ sẽ làm đời sống văn học phát triển.
Tuy nhiên, về căn bản, người đọc giải trí vẫn là người đọc thụ động, họ không thể tham gia làm
thay đổi tư duy nghệ thuật và cách viết như người đọc chủ động do họ thiếu kiến thức và trực
giác thẩm mỹ.
Những điều kiện sẵn có là chính sách văn hóa giáo dục của xã hội thuộc địa: các chương
trình học, chủ yếu nhằm đào tạo các viên chức phục vụ cho chế độ. Cửa đã mở, cầu nối thông
tin với thế giới đã có, nhưng số trí thức xuất dương du học vẫn còn ít, và không thấy người
chọn ngành văn học. Về dịch thuật, giai đoạn này, cả trên bình diện sáng tác lẫn bình diện học
thuật, chúng ta thấy Việt Nam có xu hướng chọn những tác phẩm mang tính phổ thông. Để
phổ biến chữ Quốc ngữ và đáp ứng nhu cầu của công chúng, từ cuối thế kỷ XIX đến những
năm 20 của thế kỷ XX, Việt Nam tập trung dịch các loại sách có từ truyền thống như: kinh
sách Hán văn, các truyện Nôm Việt Nam, các loại truyện thơ khuyết danh, và sau đó là phong
sáng tạo. Đọc và dịch những nhà văn hiện đại không chỉ ở Pháp:Verlaine, Rimbaud,
Baudelaire…, mà còn ở Anh, Mỹ: John Keats, William Blake, T.E. Hulme, I.A. Richards, Erza
Pound, Walt Whitman, T.S. Eliot…
(10)
, văn học Hàn Quốc đã tiếp nhận được những thành quả
kép nơi họ: tác phẩm của những tác giả trên luôn hàm chứa cả tính sáng tạo và tính phê bình.
Chống văn học giáo huấn, thiên về miêu tả, điều ấy Việt Nam cũng có, và thật dễ hiểu:
đó là phản ứng phủ định những đặc điểm của văn học quá khứ; nhưng chống tu từ học, thuật
hùng biện, chống văn chương khai sáng, vốn là thành quả của văn học trung đại phương Tây,
rõ ràng văn học Hàn Quốc muốn bắt nhịp cùng với văn học hiện đại thế giới ngay từ đầu thế
kỷ.