Ý thức nữ quyền và sự phát triển
bước đầu của văn học nữ Nam Bộ
trong tiến trình hiện đại hoá văn học
dân tộc đầu thế kỉ XX Sự manh nha ra đời của phê bình văn học nữ quyền: từ Phan Khôi đến Manh
Manh nữ sĩ
Đầu thế kỷ XX là một giai đoạn sôi nổi của tư tưởng nữ quyền Việt Nam trong đó, Phan
Khôi là nhà lý luận phê bình đã có công khai phá. Khác với Nguyễn Thị Kiêm, Phan Thị Bạch
Vân nặng tính chất phong trào, Phan Khôi đã tiến đến bước tiếp nhận văn học từ ánh sáng tư
tưởng nữ quyền, nghĩa là ông đi vào những vấn đề thuần văn học, thuộc về văn học. Những
khai mở của Phan Khôi có giá trị rất lớn đối với nền phê bình, nghiên cứu theo khuynh hướng
này.
Ngay từ số báo đầu tiên, Phan Khôi đã khẳng định ý nghĩa, vai trò và tiềm năng của nền
văn học nữ lưu. Phan Khôi cho rằng nguyên nhân gây nên tình trạng rỗng và lép của văn học
nữ trong lịch sử văn chương Việt Nam quá khứ là vì họ không đuợc hưởng một nền học vấn
như nam giới: “Bởi phụ nữ nước ta xưa nay đã chịu dốt nát từ đời nọ đời kia như vậy, cho nên
trong đám chị em mình mà được một vài tay biết chữ, biết làm câu thơ, câu văn, thì đời đã cho
là một sự lạ lùng hiếm có”
(1)
.
Ông cho rằng đây là thiệt thòi lớn lao nhất. Thảng đôi lúc cũng có những bậc nữ lưu cải
biến hình dạng thành nam nhi để được thụ hưởng nền giáo dục hoặc những kỳ nữ có tài thi ca
thiên phú để lại những đứa con tinh thần cho di sản văn học nghệ thuật của dân tộc. Thế nhưng,
họ chỉ xuất hiện rải rác, lúc đậm lúc nhạt và tạo nên một dòng chảy văn chương mỏng manh,
sơ sài, đứt đoạn mà theo đánh giá của Phan Khôi thì đấy chưa phải là văn học, mà chỉ mới là
một nền văn học “chưa đủ”: “Nếu vậy thì chị em ta phải thú thiệt rằng nền văn học của nữ giới
của sáng tác văn chương và thiên tính bản chất của người phụ nữ, Phan Khôi khẳng định rằng
phụ nữ là đối tượng trung tâm mà văn học hướng đến, đồng thời cũng là chủ thể có nhiều ưu
thế trong sáng tác văn học.
Để chứng minh cho luận điểm của mình, Phan Khôi đưa ra những tác phẩm văn học có
giá trị lớn trong nền văn học cổ điển nhằm làm điểm tựa để tính tỉ trọng nữ tính của văn học,
tính tần suất hiện diện của yếu tố nữ giữa đời sống văn chương. Viện dẫn từ Kinh thi vốn được
xem như một “sách Quốc phong đầu” của Trung Quốc, Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo với
quyểnNhã ca của Salomon đến Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, những kiệt tác văn chương của
Việt Nam, Sở từ của Khuất Nguyên, những sáng tác nổi tiếng và trở thành kinh điển của các
nhà thơ bậc nhất trong nền đại Đường thi: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…, ông chỉ ra rằng tất
cả những tuyệt phẩm thi ca này đều hướng đến người phụ nữ, lấy câu chuyện của người phụ nữ
làm trung tâm, miêu tả cuộc đời, số phận, đời sống nội tâm của họ. Nền văn học thuộc về chủ
thể nam với các hoạt động sáng tác như là một đặc quyền của nam giới trong xã hội lại tập
trung vào đối tượng là người phụ nữ; “Tôi rất lấy làm lạ rằng xưa nay bất kỳ nước nào cũng
vậy, văn học là phần đàn ông, đàn ông đứng vào trung tâm của văn học, thì làm sao trong văn
học, lại cứ hay nói đến chuyện đàn bà. Càng làm những áng văn chương hay chừng nào thì lại
càng nói tinh về chuyện đàn bà chừng nấy”
(4)
.
Vì văn học thiên về bộc lộ, giãi bày nên ngòi bút của người sáng tác đã chọn người
phụ nữ đưa vào lăng kính của mình, vừa như là đối tượng, vừa là phương thức để thể hiện nội
dung và mục đích sáng tác. Hơn nữa, các bậc nam tử thời bấy giờ thường mượn nỗi lòng của
người phụ nữ để bộc bạch tâm trạng, hoài bão, nỗi u hoài thời thế và niềm trắc ẩn tự thân của
mình. Đồng thời, Phan Khôi cũng nhấn mạnh rằng không phải bất cứ áng văn chương nào
cũng ngụ ẩn sự ký thác ấy. Thế nhưng, trên tổng thể, văn chương và nữ tính có mối quan hệ
thiết thân ruột rà với nhau, có những điểm tương đồng về mặt bản chất. Dựa trên những suy
luận này, tác giả nhấn mạnh vai trò người phụ nữ trong văn học, khẳng định vị thế của họ
trong sáng tác văn chương và dự cảm bằng trực giác rằng văn học nữ sẽ tạo dựng nên một
thời đại riêng cho mình, trở thành chủ thể trung tâm chứ không chỉ là đối tượng trung tâm của
sáng tác văn học: “Nếu vậy thì nữ tánh trở thành ra trung tâm của văn học hay sao? Nữ lưu
của người phụ nữ qua tác phẩm văn học truyền miệng.
Bên cạnh Phan Khôi, còn có nhiều cây bút nữ: Manh Manh nữ sĩ, Vân Hương nữ sĩ,
Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Lê Thị Huỳnh Lan, Đạm Phương nữ sĩ, Phan Thị Bạch
Vân, Phan Văn Gia, Bùi Thị Út… và các gương mặt nam giới đã khá quen thuộc: Trần Trọng
Kim, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Bá, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu,
Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Nguyễn Phan Long, Cao Văn Chánh, Diệp Văn Kỳ Tất
cả đều bộc lộ quan điểm và tìm tòi về các vấn đề nữ quyền, nhằm trao đổi, tranh luận với nhau.
Thế nhưng, phải thấy rằng, tư tưởng nữ quyền đầu thế kỷ XX tập trung vào phương diện xã hội
nhiều hơn. Trong lĩnh vực phê bình và nghiên cứu văn học, các bài viết này chỉ dừng lại ở việc
khảo sát một số tác phẩm để tìm ra tư tưởng nữ quyền. Vì vậy, về mặt lý luận, phê bình nữ
quyền Việt Nam thời kỳ còn ở dạng sơ khai, phác thảo và có tính xã hội nhiều hơn.
Nguyễn Thị Kiêm cũng là một nhà báo sắc sảo trên văn đàn đương thời. Trong bài diễn
thuyết nhằm khẳng định vai trò của người phụ nữ đối với văn chương và tri thức của nhân loại,
nữ sĩ đưa ra những dẫn chứng khẳng định vai trò “nội tướng” của nữ giới trong sự nghiệp văn
học của nam giới các nước, phong trào học thuật của phụ nữ ở các quốc gia tiên tiến: “(…) cái
địa vị của đàn bà ở trong văn học cũng không phải là thấp thỏi gì, theo như nhiều người đã
tưởng. Và cái ảnh hưởng của đàn bà đối với những bậc văn nhân tao sĩ cũng rất là nặng nề
thâm thiết, nhờ đó mà văn học phát đạt vô cùng”
(6)
.
Cũng như Phan Khôi, tác giả chỉ ra rằng yếu tố cốt lõi tạo dựng nên năng lực sáng tác
của nữ giới chính là đời sống nội tâm phong phú và nhạy cảm, cái mà bà gọi là “kho tàng” của
thế giới cảm xúc chủ quan: “Những của cải tích trữ ở trong cái kho tàng đó, nếu có thể phân
phát ra bằng ngọn bút đường văn, thì cái văn ấy là cái hình ảnh của nỗi lòng, khi thường, khi
biến, lúc an, lúc nguy, tùy theo với sự kích thích của ngoại cảnh mà thăng trầm, mà theo với cái
ca điệu của thiên nhiên mà họa vận”
(7)
.
Điểm đáng chú ý nhất trong bài viết này là Nguyễn Thị Kiêm vạch ra những ranh giới
tạo nên sự khác biệt về giới trong hành trình sáng tác văn học với các cặp đôi khái niệm: khách
Nguyễn Thị Kiêm đã thể hiện cái nhìn sắc sảo, tinh tế và đầy tính biện chứng. Thứ nhất,
nữ sĩ khẳng định người phụ nữ khi tham gia vào văn nghiệp phải nâng cái nhìn của mình lên
cùng tầm với người nam, tri giác thế giới khách quan, nhưng vẫn giữ cái bản sắc chủ quan, vốn
gần gũi với thi ca; nghĩa là phụ nữ có nam hóa nhưng không nam hoá tuyệt đối. Thứ hai trong
suốt lịch sử văn học, bản thân nam giới cũng đã bộc lộ sự “nữ hóa” của mình, khi tái hiện đời
sống chủ quan bên trong, với thế giới nội tâm đầy phức tạp và bằng giọng điệu của xúc cảm,
của cảm giác: “Vả, bây giờ ta mới thấy ở văn học nữ lưu có phong trào nam hóa, mà từ trước
đến nay, ở bên nam giới đã có bao nhiêu sự nữ hóa về văn chương? (…) Đàn bà muốn học cái
cứng cỏi của đàn ông cũng chưa bớt cái uyển chuyển của đàn bà. Đàn bà muốn có cái khách
quan của đàn ông, thì đàn ông cũng vẫn mượn được cái chủ quan của đàn bà chớ sao?”
(10)
.
Như vậy, không đơn thuần chỉ ra sự khác biệt, Manh Manh nữ sĩ còn luận ra sự giao
thoa trong bản chất giới của người nam và người nữ khi tham gia vào đời sống sáng tác. Từ
đấy rút ra một hệ luận rằng, văn học là lĩnh vực dung chứa sự giao thoa của giới, đưa con người
đến những giao điểm thuộc về bản chất chung của nhân loại. Đấy chính là điểm tựa lý luận để
Manh Manh nữ sĩ đặt lực đẩy đòn bẩy của mình nhằm khẳng định sự tồn tại và sức bật của nền
văn học nữ lưu.
2. Đặc trưng diện mạo văn học nữ Nam bộ giai đoạn đầu thế kỷ XX
Diện mạo chung
Những năm ba mươi của thế kỷ XX, phong trào nữ quyền Việt Nam đã thực sự trỗi dậy
chứ không chỉ nằm im lìm dưới dạng tư tưởng, đã mang ý thức tự giác chứ không còn đơn
thuần là sự tự phát. Các cây bút nữ xuất hiện với nhiều dáng vẻ, nhiều giọng điệu. Họ góp
gương mặt mình trong cả lĩnh vực sáng tác thơ ca lẫn tiểu thuyết, nắm bắt nhịp phát triển mới
mẻ, sôi nổi và tràn đầy sức sống của thời đại. Người phụ nữ biết chữ và người phụ nữ viết văn,
điều lạ lẫm đến ghê gớm trong thời kỳ trung đại, đã trở nên quen thuộc và để lại dấu ấn trong
đời sống văn hoá, văn nghệ đương thời. Về lượng, theo thống kê của nhà nghiên cứu Bằng
Giang, “tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam kỳ có non 20 tác giả nữ còn để lại tác
phẩm in thành sách”
(11)