Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học Nam Bộ - Pdf 48

Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học nữ
Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc đầu thế kỉ
XX
ThS. Hồ Khánh Vân
Khoa Văn học và Ngôn ngữ - Đại học KHXH&NV TP.Hồ Chí Minh.

1.

Sự manh nha ra đời của phê bình văn học nữ quyền: từ Phan Khôi

đến Manh Manh nữ sĩ
Đầu thế kỷ XX là một giai đoạn sôi nổi của tư tưởng nữ quyền Việt Nam
trong đó, Phan Khôi là nhà lý luận phê bình đã có công khai phá. Khác với
Nguyễn Thị Kiêm, Phan Thị Bạch Vân nặng tính chất phong trào, Phan Khôi đã
tiến đến bước tiếp nhận văn học từ ánh sáng tư tưởng nữ quyền, nghĩa là ông đi
vào những vấn đề thuần văn học, thuộc về văn học. Những khai mở của Phan
Khôi có giá trị rất lớn đối với nền phê bình, nghiên cứu theo khuynh hướng này.
Ngay từ số báo đầu tiên, Phan Khôi đã khẳng định ý nghĩa, vai trò và tiềm
năng của nền văn học nữ lưu. Phan Khôi cho rằng nguyên nhân gây nên tình trạng
rỗng và lép của văn học nữ trong lịch sử văn chương Việt Nam quá khứ là vì họ
không đuợc hưởng một nền học vấn như nam giới: “Bởi phụ nữ nước ta xưa nay
đã chịu dốt nát từ đời nọ đời kia như vậy, cho nên trong đám chị em mình mà
được một vài tay biết chữ, biết làm câu thơ, câu văn, thì đời đã cho là một sự lạ
lùng hiếm có”(1).
Ông cho rằng đây là thiệt thòi lớn lao nhất. Thảng đôi lúc cũng có những bậc
nữ lưu cải biến hình dạng thành nam nhi để được thụ hưởng nền giáo dục hoặc
những kỳ nữ có tài thi ca thiên phú để lại những đứa con tinh thần cho di sản văn
học nghệ thuật của dân tộc. Thế nhưng, họ chỉ xuất hiện rải rác, lúc đậm lúc nhạt
và tạo nên một dòng chảy văn chương mỏng manh, sơ sài, đứt đoạn mà theo đánh
giá của Phan Khôi thì đấy chưa phải là văn học, mà chỉ mới là một nền văn học


một điều thích hiệp nữa, là văn học chuyên trọng về đường tình cảm, mà chúng ta
là giống có tình cảm nhiều hơn đờn ông, thì thật là tiện lợi cho chúng ta biết
mấy”(3).
Như vậy, ở đây, bằng những suy luận dựa trên sự tương đồng giữa đặc trưng
trọng yếu của sáng tác văn chương và thiên tính bản chất của người phụ nữ, Phan
Khôi khẳng định rằng phụ nữ là đối tượng trung tâm mà văn học hướng đến, đồng
thời cũng là chủ thể có nhiều ưu thế trong sáng tác văn học.
Để chứng minh cho luận điểm của mình, Phan Khôi đưa ra những tác phẩm
văn học có giá trị lớn trong nền văn học cổ điển nhằm làm điểm tựa để tính tỉ
trọng nữ tính của văn học, tính tần suất hiện diện của yếu tố nữ giữa đời sống văn
chương. Viện dẫn từ Kinh thi vốn được xem như một “sách Quốc phong đầu” của
Trung Quốc, Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo với quyển Nhã ca của Salomon
đến Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, những kiệt tác văn chương của Việt Nam, Sở
từ của Khuất Nguyên, những sáng tác nổi tiếng và trở thành kinh điển của các nhà
thơ bậc nhất trong nền đại Đường thi: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…, ông chỉ ra
rằng tất cả những tuyệt phẩm thi ca này đều hướng đến người phụ nữ, lấy câu
chuyện của người phụ nữ làm trung tâm, miêu tả cuộc đời, số phận, đời sống nội
tâm của họ. Nền văn học thuộc về chủ thể nam với các hoạt động sáng tác như là
một đặc quyền của nam giới trong xã hội lại tập trung vào đối tượng là người phụ
nữ; “Tôi rất lấy làm lạ rằng xưa nay bất kỳ nước nào cũng vậy, văn học là phần
đàn ông, đàn ông đứng vào trung tâm của văn học, thì làm sao trong văn học, lại
cứ hay nói đến chuyện đàn bà. Càng làm những áng văn chương hay chừng nào
thì lại càng nói tinh về chuyện đàn bà chừng nấy”(4).
Vì văn học thiên về bộc lộ, giãi bày nên ngòi bút của người sáng tác đã chọn
người phụ nữ đưa vào lăng kính của mình, vừa như là đối tượng, vừa là phương


thức để thể hiện nội dung và mục đích sáng tác. Hơn nữa, các bậc nam tử thời
bấy giờ thường mượn nỗi lòng của người phụ nữ để bộc bạch tâm trạng, hoài
bão, nỗi u hoài thời thế và niềm trắc ẩn tự thân của mình. Đồng thời, Phan Khôi

diện người phụ nữ như một đối tượng sáng tác và tác giả nữ viết về chính mình
trong vai trò chủ thể.
Không chỉ dừng lại về phương diện lý luận, Phan Khôi đi sâu hơn vào việc
thực hành lý thuyết nữ quyền. Đóng góp có giá trị nhất của vị học giả này thuộc về
bài viết Theo tục ngữ phong dao, xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta (gồm 87
trang, đăng trên 11 số báo, từ số 5, 30/5/1929 đến số 18, 29/8/1929). Tinh tường,
nhạy bén, Phan Khôi đã sục mình vào kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, rà
soát kỹ lưỡng để tìm kiếm từng dấu vết biểu hiện đời sống của người phụ nữ trong
tục ngữ, ca dao, dân ca… Mặc dù thời bấy giờ lý thuyết phê bình nữ quyền chưa
hoàn chỉnh, nhưng bằng trực giác và kiến văn sâu rộng của một kẻ trí giả, ông đã
làm được một cuộc trưng tập khá đầy đủ về lề thói sinh hoạt, phong tục tập quán,
vị trí, thân phận… của người phụ nữ qua tác phẩm văn học truyền miệng.
Bên cạnh Phan Khôi, còn có nhiều cây bút nữ: Manh Manh nữ sĩ, Vân Hương
nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Lê Thị Huỳnh Lan, Đạm Phương nữ
sĩ, Phan Thị Bạch Vân, Phan Văn Gia, Bùi Thị Út… và các gương mặt nam giới
đã khá quen thuộc: Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Bá, Nguyễn
Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu,
Nguyễn Phan Long, Cao Văn Chánh, Diệp Văn Kỳ... Tất cả đều bộc lộ quan điểm
và tìm tòi về các vấn đề nữ quyền, nhằm trao đổi, tranh luận với nhau. Thế nhưng,
phải thấy rằng, tư tưởng nữ quyền đầu thế kỷ XX tập trung vào phương diện xã
hội nhiều hơn. Trong lĩnh vực phê bình và nghiên cứu văn học, các bài viết này


chỉ dừng lại ở việc khảo sát một số tác phẩm để tìm ra tư tưởng nữ quyền. Vì vậy,
về mặt lý luận, phê bình nữ quyền Việt Nam thời kỳ còn ở dạng sơ khai, phác thảo
và có tính xã hội nhiều hơn.
Nguyễn Thị Kiêm cũng là một nhà báo sắc sảo trên văn đàn đương thời.
Trong bài diễn thuyết nhằm khẳng định vai trò của người phụ nữ đối với văn
chương và tri thức của nhân loại, nữ sĩ đưa ra những dẫn chứng khẳng định vai trò
“nội tướng” của nữ giới trong sự nghiệp văn học của nam giới các nước, phong

và nhận thức chính mình bằng cảm nhận nội giác. Vì vậy, họ thiên về khuynh
hướng chủ quan: “Theo lẽ sinh lý, thì đàn bà thường nặng về phần hồn và nhẹ về
phần trí, cảm tình thì sâu mà tư tưởng thì hẹp nên trong văn học thường sở trường
về lối tả cảnh, đạo tình mà ít hay về lối khách quan triết lý”(9).
Trên cơ sở phân chia thành hai thể loại văn học chính: văn học khách quan và
văn học chủ quan, Nguyễn Thị Kiêm chỉ ra rằng người phụ nữ bị đánh giá thấp và
bị loại trừ ra khỏi đời sống văn chương là vì họ không có năng lực của sự khách
quan ấy. Do đó, phụ nữ cần phải nam hóa, nghĩa là cải biến mình để giống người
nam, mang những đặc tính nam. Khuynh hướng này có phần cực đoan và khiên
cưỡng, xóa bỏ sự khác biệt tự nhiên về giới, nhưng trong lịch sử, hành trình này
thực sự đã hiện hữu như một quy luật trên mọi lĩnh vực. Nam hóa là một giai đoạn
luôn có mặt trong hành trình đấu tranh của người phụ nữ để đòi lại sự bình đẳng
và công bằng cho mình. Vấn đề này chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở phần sau, khi phân
tích về tính chất của dòng văn học nữ thời kì hiện đại.
Nguyễn Thị Kiêm đã thể hiện cái nhìn sắc sảo, tinh tế và đầy tính biện chứng.
Thứ nhất, nữ sĩ khẳng định người phụ nữ khi tham gia vào văn nghiệp phải nâng
cái nhìn của mình lên cùng tầm với người nam, tri giác thế giới khách quan,


nhưng vẫn giữ cái bản sắc chủ quan, vốn gần gũi với thi ca; nghĩa là phụ nữ có
nam hóa nhưng không nam hoá tuyệt đối. Thứ hai trong suốt lịch sử văn học, bản
thân nam giới cũng đã bộc lộ sự “nữ hóa” của mình, khi tái hiện đời sống chủ
quan bên trong, với thế giới nội tâm đầy phức tạp và bằng giọng điệu của xúc
cảm, của cảm giác: “Vả, bây giờ ta mới thấy ở văn học nữ lưu có phong trào nam
hóa, mà từ trước đến nay, ở bên nam giới đã có bao nhiêu sự nữ hóa về văn
chương? (…) Đàn bà muốn học cái cứng cỏi của đàn ông cũng chưa bớt cái uyển
chuyển của đàn bà. Đàn bà muốn có cái khách quan của đàn ông, thì đàn ông cũng
vẫn mượn được cái chủ quan của đàn bà chớ sao?”(10).
Như vậy, không đơn thuần chỉ ra sự khác biệt, Manh Manh nữ sĩ còn luận ra
sự giao thoa trong bản chất giới của người nam và người nữ khi tham gia vào đời

Huỳnh Thị Bảo Hòa, Trần Thị Như Mân, Huỳnh Anh Thị, Ái Lan…
Bên cạnh đó, cánh cửa thi ca đầu thế kỷ XX cũng xôn xao những gương mặt:
Nguyễn Thị Manh Manh, Đạm Phương Mộng Tuyết, Trần Kim Phụng (Đinh
Hương Đặng Thị Hồi), Trần Ngọc Lầu, Anh Thơ, Ngân Giang, Vân Đài, Hằng
Phương… Họ đã đứng cạnh những cây bút nam trong thời đại thơ Mới và vẽ thêm
vào bức tranh của thời đại thi ca ấy giọng thơ riêng với sắc màu nữ tính mềm mại,
uyển chuyển: “Một Anh Thơ chân tình mộc mạc, một Mộng Tuyết trong trẻo, hồn
nhiên, một Ngân Giang tài hoa, cổ kính, một Hằng Phương đằm thắm, ngọt ngào,
một Vân Đài duyên dáng dịu nhẹ… và bấy nhiêu thôi cũng đủ góp phần cho cung
đàn thơ ca Việt Nam thêm đa dạng về âm sắc và giọng điệu”(12). Cái ngoảnh nhìn
lại của nữ sĩ Anh Thơ trên đây về những cây bút cùng thời, cùng giới với mình, đã
phác hoạ nên đường nét phong cách của những nữ thi sĩ thời kỳ thơ Mới vốn bị
lãng quên hay chỉ được chạm đến, nhắc đến một cách mờ nhạt, tạo nên một sự
ứng đối với bức tranh quen thuộc từng in sâu vào tâm thức văn đàn mà Hoài
Thanh khắc trổ rất ấn tượng, tinh tế: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng
một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng


tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận,
quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên... và thiết tha, rạo rực, băn
khoăn như Xuân Diệu”(13).
Văn chương nữ đầu thế kỷ XX thực sự khởi sắc về lượng với sự xuất hiện của
những cây bút nữ lưu bước chân ra từ chốn phòng the vốn lâu nay bị niêm phong
kín cẩn bởi những quan niệm, những định kiến. Cùng với sự thay đổi và phát triển
ý thức về giới, họ đã có thể kề vai sát cánh cùng người nam để hít thở chung
không khí của xã hội, của thời đại. Trên một lát cắt ngắn ứng với giai đoạn đầu thế
kỷ XX cho đến năm 1945, sự hiện diện của gương mặt nữ giới đông đảo hơn, xôn
xao hơn cả mười thế kỷ trước cộng lại và mỗi gương mặt lại có một nét vẻ riêng,
một sắc màu riêng.
Thế nhưng, trên trục vận động của chiều dài lịch sử thi ca dân tộc, sự tồn tại

tối, bế tắc, chứa đựng nhiều mâu thuẫn gay gắt của các mối quan hệ xã hội, giành
lấy quyền sống, quyền tự do cho chính mình và tạo dựng nên một viễn cảnh tươi
sáng cho chính họ. Nhiều năm qua, vấn đề trên đã được các nhà phê bình và
nghiên cứu văn học khảo sát rất kỹ lưỡng trong những công trình, những bài viết
về Tự lực văn đoàn. Công trình này không đi vào tổng thuật chi tiết và cụ thể về
nội dung tư tưởng của bút nhóm Tự lực văn đoàn, nhìn từ góc độ của tư tưởng nữ
quyền mà chỉ điểm qua như một thành tựu giá trị đã hòa vào tiến trình chung của
dòng chảy văn học, đã đóng góp tiếng nói phản kháng sâu sắc, mạnh mẽ quyện
lẫn với khao khát và ước mơ cho một con đường giải phóng phụ nữ, “đoạn tuyệt”
với quá khứ và hướng đến tương lai.
Đặc trưng về mặt nội dung và tư tưởng
Nhìn một cách tổng quát, đóng góp lớn nhất, có giá trị nhất của bộ phận văn


học nữ thời kỳ này chính là giá trị về mặt nội dung – tư tưởng. Bằng sáng tác thơ
văn và các hoạt động xã hội khác: diễn thuyết, viết xã luận, thành lập các tổ chức
hiệp hội của nữ giới, chủ trì và tham gia vào hoạt động báo chí, lập nên cơ quan
ngôn luận riêng cho phụ nữ…, họ đã tạo nên một cuộc thức tỉnh lớn lao, toàn diện,
một cơn đại hồng thủy về ý thức hệ nữ giới đầu thế kỷ XX. Bên cạnh đó, cùng với
các cây bút nam, các tác giả nữ đã bộc lộ tinh thần yêu nước, ý thức về quyền
sống, quyền tự do của dân tộc trong hoàn cảnh một đất nước bị thực dân xâm lấn.
Đóng góp thứ hai là về mặt thể loại, họ đã nhanh chóng nhập cuộc, góp phần thúc
đẩy sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết hiện đại và thơ Mới. Có thể nói, sự nhạy
bén đầy sức sống của nữ giới thời kỳ này đã là một yếu tố quan trọng trong tiến
trình hiện đại hóa tư duy và ngôn ngữ văn học. Và cuối cùng, sự xuất hiện của họ
đã khiến cho diện mạo văn học từ đây trở nên đủ đầy hơn, trọn vẹn hơn, với nhiều
nét vẻ, giọng điệu, thanh âm và hình hài, được tạo nên từ sự đa dạng về giới chứ
không còn là hành trình đơn lẻ và độc chiếm của các tác giả nam như chuỗi thế kỷ
dài trong quá khứ vừa qua.
Từ đặc trưng mô phỏng đến giá trị phong trào

Giọng điệu mang khí sắc riêng của nữ giới: thâm trầm, dịu nhẹ, êm ắng cũng
vẫn là một chất giọng chưa đủ để tạo ra bầu khí quyển riêng biệt của thơ nữ lúc
bấy giờ, khi con mắt của những nữ sĩ đầu thế kỷ vẫn nhuốm cái nhìn của
“người đồng nghiệp” nam giới vốn đã lập thế vững chãi trong văn chương suốt
nghìn năm qua.
Chính vì vậy, trên văn đàn nữ nhi lúc bấy giờ, chúng ta nghe thấy cái giọng
phỏng cổ tràn trề nam tính, ví như nỗi niềm tự trào bất đắc chí chừng quá quen
thuộc trong thơ ca Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ:


“Nghĩ mình lại ngán cho mình
Chẳng có chi mà lại có danh
Không thế, không thần, không sự nghiệp
Dở tiên dở tục dở tu hành”
(Tự trào – Cao Ngọc Anh)
Hoặc khi hòa vào không khí chung trong những năm đầu của cuộc đấu tranh
giành độc lập, tự do cho dân tộc, người phụ nữ làm thơ cất giọng lên bằng âm
hưởng cộng đồng. Tiếng gọi cổ vũ cho tinh thần yêu nước mang thanh sắc nữ
trong trẻo, gần gũi, thanh thoát và nhuần nhị, dịu nhẹ nhưng vẫn là cái giọng
chung, giọng cộng đồng, không hùng tráng, lẫm liệt bằng giọng nam nhưng thêm
vào rất nhiều cái dư vị thủ thỉ tha thiết:
“Hồng Lạc người chung một giống nòi
Có đâu Nam Bắc đất chia hai
Xót tình máu mủ cơn nguy biến
Xẻ áo nhường cơm ai hỡi ai”
(Xẻ áo nhường cơm – Mộng Tuyết)
Như vậy, có thể thấy rằng, văn học nữ thời kì này vẫn chưa tự tách mình
khỏi “chiếc xương sườn Adam”. Tiếng nói của họ đã bắt đầu xôn xao trên văn
đàn, nhưng chưa rõ rệt hình hài, thanh sắc, chưa mang giọng điệu riêng từ cái
nhìn riêng của người phụ nữ. Đôi mắt của họ hướng ra ngoại giới nhiều hơn là

giới. Mục đích hàng đầu lúc bấy giờ là phụ nữ có thể ngang bằng với nam giới
như thế nào và họ có khả năng thực hiện ra sao những điều mà bấy lâu nay nam
giới đã làm, đã gặt hái những thành quả. Hẳn nhiên, như Nguyễn Thị Kiêm đã


khẳng định, trong hành trình nam hóa này, người phụ nữ vẫn giữ “bổn sắc
riêng”(15) của mình chứ không bị đồng hóa. Thế nhưng, trong hoàn cảnh lúc bấy
giờ, cái tương đồng được đặt lên trên cái khác biệt; giá trị chung được đặt lên trên
giá trị bản sắc; ý thức về vai trò đi trước ý thức về bản thể. Từ địa vị của kẻ bên
dưới, trước hết họ phải ngoi lên vị trí ngang bằng rồi sau đó mới tiến đến khẳng
định sự khác biệt. Do đó, văn học nữ thời kỳ này chỉ tạo nên sự khác biệt về giọng
điệu: mềm mại, uyển chuyển, tha thiết, đằm thắm và ngọt ngào, vốn là đặc trưng
của nữ. Còn lại, nhìn chung, thế giới quan, nhân sinh quan, phương thức tư duy
nghệ thuật, cách thức chiêm nghiệm và tái hiện cuộc sống… trong tác phẩm của
họ đều không có gì khác với các tác giả nam: người nữ chưa tìm ra được tấm
gương của riêng mình, nên phải soi qua tấm gương cũ kỹ của người nam.
Nguyên nhân thứ hai nằm ở tính chất của vùng đất mở đầu tiến trình hiện đại
hoá văn học dân tộc. Nam Bộ nói chung, Sài Gòn nói riêng, là vùng đất mới. Bên
cạnh tính chất mở, dễ dàng đón nhận cái mới và sự khác biệt, làm thành một trung
tâm đa văn hoá, mảnh đất này dễ dàng cách tân, nhưng cũng sớm bão hòa. Hiện
tượng ấy nằm ở con người và văn hoá. Con người Nam Bộ chân chất, mộc mạc,
giản dị, giỏi hoạt động thực tiễn hơn làm văn chương nghệ thuật. Báo chí xuất
hiện trước, là bệ đỡ của văn chương, nhưng đồng thời cũng báo chí hoá văn
chương rất nhiều. Sức ép của một công chúng đông đảo thường xuyên mua báo
cũng là lý do làm nhà văn chọn cách viết dễ hiểu, quen thuộc. Thêm vào đó, bề
dày văn hóa, văn chương nơi đây chỉ cho phép những phong trào cất cánh với
đường bay ngắn. Dễ nhận ra hiện tượng này trong đời sống văn học Việt Nam:
con đường của tiểu thuyết hiện đại, thơ Mới… đã nói với chúng ta điều ấy. Văn
học nữ quyền đầu thế kỷ phần lớn hình thành ở Sài Gòn, và có người ví von rằng
văn học thời kì này “nở rộ như hoa trong vườn, nhưng chỉ là những đoá hoa mùa


cứu rõ ràng, mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, hoạt động sáng tác của nữ giới khởi sắc. Họ nhanh chóng tiếp
thu các thành tựu mới mẻ trong thi ca và tham gia vào tiến trình hiện đại hoá văn
học dân tộc. Người phụ nữ cầm bút đầu thế kỷ XX đã mạnh dạn và hăm hở đi
theo “một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” (Phan Khôi), sáng tác bằng
phong thái tự do cả về cảm xúc và hình thức. Thế nhưng, hầu hết các cây bút nữ
chưa tạo ra được sự đột phá riêng biệt về mặt phong cách, nên không hình thành
những đỉnh cao sánh ngang với những gương mặt nổi bật của thơ Mới như Xuân
Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Nguyễn
Bính… Sáng tác của họ còn mang nặng tính mô phỏng nam giới và mô phỏng cái
nhìn chung của cộng đồng. Đặc biệt, các cây bút nữ ở Nam bộ đã sớm mang ý
thức đấu tranh giải phóng dân tộc và trách nhiệm công dân. Thậm chí, khuynh
hướng này bộc lộ ở sáng tác của họ một cách rõ nét hơn cả những tác giả nam thời
kì thơ Mới. Thế nhưng, bản thể tính nữ chưa thực sự trỗi dậy một cách mạnh mẽ,
chưa hình thành nên một giọng nói của chủ thể nữ trong sáng tác văn học thời bấy
giờ. Người phụ nữ ở đây vẫn nhìn mình như một đối tượng, tức là tự nhìn mình
bằng cái nhìn từ bên ngoài vào hơn là nhìn mình bằng cái nhìn về chính bản thân
chủ thể, cái nhìn từ bên trong. Và đôi mắt của họ chủ yếu hướng ra thế giới bên
ngoài, ra đời sống xã hội cùng với hiện thực sôi nổi của trào lưu đấu tranh giải
phóng dân tộc lúc bấy giờ.
Tóm lại, văn học nữ thời kì này đã trở thành một bộ phận riêng với sự xuất
hiện đông đúc của những gương mặt nữ chứ không còn im ắng, vắng bóng và hiện
diện đơn lẻ, “lép kẹp” như trong thời kì văn học trung đại. Thế nhưng, bộ phận
văn học này hiện nay vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đặn,
đúng mức. Việc nhìn nhận lại những đặc điểm, giá trị của văn học nữ thời kì này
sẽ là một điểm mốc quan trọng cho quá trình nghiên cứu văn học nữ của Việt Nam


dưới ánh sáng của phê bình nữ quyền. Đồng thời, những kiến giải, nhận định và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status