ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ VÂN
THƠ VĂN HUỲNH THÚC KHÁNG TRONG TIẾN TRÌNH
HIỆN ĐẠI HOÁ VĂN HỌC VIỆT NAM Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học : PGS – TS Trần Ngọc Vương
Hà Nội – 2009
MỤC LỤC
Trang
Phần một : Mở đầu 1
2.2. Một số hạn chế 84
Phần ba : Kết luận 91
Tài liệu tham khảo 96
Phụ lục 100
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam diễn ra quá
trình chuyển biến từ xã hội phong kiến cổ truyền phương Đông sang xã hội
cận hiện đại tư sản phương Tây. Đó là bước chuyển cực kì sâu sắc cả về thời
gian lẫn không gian lịch sử. Sự thay đổi này xảy ra sớm nhất và nổi bật nhất
trong phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc. Xã hội Việt Nam xuất hiện
nhiều xu hướng mang tính chất cải cách. Điểm mới là các phong trào cách
mạng này đều do các sĩ phu nặng lòng trung nghĩa khởi xướng và nó đã diễn
sĩ đầu thế kỉ mà tiểu biểu là Huỳnh Thúc Kháng đã làm nên một diện mạo
mới vẻ đẹp đặc biệt của hình tượng “cái tôi” trong thơ ca Việt Nam.
Thứ hai, trong số những nhà nho chí sĩ nhập thế bằng con đường lập
ngôn, sáng tác văn chương đương thời, Huỳnh Thúc Kháng là một trong số
không nhiều người tiến xa nhất trong văn nghiệp : hoạt động trên một mặt
trận rất mới, rất “hiện đại” là báo chí, viết phê bình, dịch thuật,… hơn thế nữa,
ông là người duy nhất trong số họ mà sự nghiệp hoạt động cách mạng cũng
như văn nghiệp đến được với cách mạng tháng Tám và những ngày đầu của
cuộc kháng chiến chống Pháp. Sự hiện diện của một lão thành cách mạng,
một cựu “quốc sự phạm”, một nhà văn nhà thơ mà nhân cách và tài năng đã
được nhân dân ghi nhận và ngưỡng vọng giữa văn đàn trong một bối cảnh lịch
sử mới chắc hẳn sẽ đem đến những ảnh hưởng có tác động tích cực đối với sự
phát triển của văn học Việt Nam.
Với những lí do kể trên cùng với mong muốn bổ sung thêm một tên tuổi
lớn nhưng vì những lí do nào đó còn bị khuất lấp vào đội ngũ những nhà văn
– chí sĩ tiêu biểu hồi đầu thế kỉ, người viết lựa chọn đề tài này với hi vọng
bước đầu tìm hiểu về sáng tác của Huỳnh Thúc Kháng – một trong những nhà
hoạt động cách mạng chân chính và nổi bật vào bậc nhất trong 30 năm đầu thế
kỉ XX. Những năm qua chúng ta đã nghiên cứu thơ văn và trả lại vị trí xứng
đáng cho Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế,… thì không có lí
do gì chúng ta không đặt ra vấn đề nghiên cứu Huỳnh Thúc Kháng với tư
cách một tác giả văn học, một nhà văn hoá tiêu biểu của dòng văn học yêu
nước và cách mạng đầu thế kỉ trên cả hai phương diện những đóng góp tích
cực vào tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà cũng như những điểm
hạn chế làm cản trở sự vận động của văn học Việt Nam những năm hai mươi,
ba m ươi năm của thế kỉ XX.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Như trên đã trình bày, trong quá trình hoạt động cách mạng, để phục vụ
cho mục đích chính trị, Huỳnh Thúc Kháng cũng như nhiều nhà cách mạng
đương thời đã sử dụng văn chương như một phương tiện đấu tranh đắc lực.
4. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay, nếu như việc nghiên cứu về vai trò, vị trí của Huỳnh Thúc
Kháng trên phương diện lịch sử – chính trị đã được khẳng định, thì ở phương
diện sáng tác văn chương đều chưa được thoả đáng, còn có phần phiến diện.
Ví dụ như tác giả Vương Đình Quang ngay trong công trình Thơ văn Huỳnh
Thúc Kháng đã nhận xét : “… Cái phần để cho người ta thừa nhận Huỳnh
Thúc Kháng là một nhà văn theo quan điểm văn học, mỹ học không có
mấy…”. Ngoài một số công trình sưu tầm, tuyển chọn các tác phẩm của
Huỳnh Thúc Kháng, phổ biến nhất là cuốn Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng chọn
lọc của nhà nghiên cứu Chương Thâu và Huỳnh Thúc Kháng – tác giả, tác
phẩm của Nguyễn Q. Thắng, ngoài ra chưa có một công trình nghiên cứu
khoa học kĩ càng và nghiêm túc nào về văn nghiệp cũng như đưa ra những
đánh giá về đóng góp của thơ văn Huỳnh Thúc Kháng đối với sự phát triển
của văn học Việt Nam đầu thế kỉ. Trong chương trình Văn học ở nhà trường
phổ thông cũng không có tác phẩm nào của ông, còn các khoá luận, luận văn
trong trường đại học hay những chuyên luận về thơ văn Huỳnh Thúc Kháng
cũng gần như vắng bóng. Đó là một thực trạng đáng phải xem xét lại, nhất là
khi đặt các tác phẩm của Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình vận động của
văn học Việt Nam những thập niên đầu thế kỉ XX.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, triển khai đề tài luận văn này, chúng tôi đã
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu truyền thống như : Phương pháp
thống kê, phân loại ; phương pháp đối chiếu, so sánh ; phương pháp đồng đại,
lịch đại; phương pháp phân tích, tổng hợp ; phương pháp lịch sử – cụ thể. Tuỳ
từng vấn đề đưa ra mà chúng tôi sử dụng một hay kết hợp một vài phương
pháp với nhau
để đạt hiệu quả biểu đạt tốt nhất.
6. Cấu trúc luận văn
Chúng tôi trình bày luận văn với 4 phần chính:
- Phần I : Phần mở đầu
CON NGƢỜI VÀ SỰ NGHIỆP
1. Cốt cách xứ Quảng trong con người Huỳnh Thúc Kháng
Trong phần này của luận văn, chúng tôi mong muốn đi tìm và lí giải
nguyên nhân sâu xa ảnh hưởng đến tính cách nhà cách mạng. Qua một vài nét
phác thảo, chúng tôi cho rằng cốt tinh xứ Quảng – quê hương nhà chí sĩ – đã
nhiễm rất sâu vào Huỳnh Thúc Kháng, đến mức mà khi đi tìm lời giải đáp cho
cá tính và cốt cách của nhà chí sĩ, người ta thường tìm về cội nguồn quê
hương, mảnh đất Quảng Nam “Lam sơn chướng khí” nhưng cũng là nơi sản
sinh ra những nhân vật kiệt hiệt nhất trong thời đại “mưa Âu gió Á” nhiều
biến động.
Không chỉ dừng lại ở dó, chúng tôi còn nhận thấy, chính những biến loạn
của đất nước, cùng sự thất bại “đầu rơi, máu chảy” của Nghĩa hội Quảng Nam
hoạt động trong phong trào Cần vương mà ông tận mắt được chứng kiến từ
thuở thiếu niên cùng với quá trình theo đòi “cửa Khổng sân Trình” với tinh
thần “khắc kỉ phục lễ” được ông tiếp thu và thực hành đến mức sâu đậm. Tất
cả những yếu tố này đã tạo nên một Huỳnh Thúc Kháng vừa hết sức trang
nghiêm, cẩn trọng, cương quyết, chân thành nhưng cũng lại tới tận mức bảo
thủ, ương ngạnh, Đó chính là những nét tiêu biểu nhưng cũng là những
điểm hạn chế trong tính cách con người Huỳnh Thúc Kháng.
Những nét tính cách này in đậm trong con người thường nhật của ông và
cũng là cơ sở để ta nói rằng nó in đậm trong dấu ấn sáng tạo văn chương của
Huỳnh Thúc Kháng.
2. Con người và sự nghiệp
Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) còn có tên là Huỳnh Hanh, tự là Giới
Sanh, hiệu Minh Viên, quê làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang thượng, huyện
Tiên Phước, phủ Tam Kì (nay thuộc thôn I, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên
Phước), tỉnh Quảng Nam. Tổ tiên ông vốn là người Bắc vào xứ Quảng lập
nghiệp từ thế kỉ XIV, XV và chỉ đơn thuần làm nghê nông. Tuy xuất thân từ
gia đình nhiều đời làm nông, nhưng thân sinh Huỳnh Thúc Kháng lại mang
giấc mộng khoa cử, đi thi vài lần nhưng không đỗ đạt gì, thêm vào đó những
và nghè Huỳnh – những người cùng trang lứa (Huỳnh Thúc Kháng sinh năm
1876, Ngô Đức Kế sinh năm 1878), cùng tâm trạng và rồi, sẽ cùng chung
nhiều chặng của số phận” [39].
Cuộc tiếp xúc với các sách báo Tân thư, Tân văn từ phương Tây đưa
vào, từ Trung Quốc đưa sang dường như ngay lập tức có tác động mạnh mẽ
khiến nhà chí sĩ đi đến một quyết định dứt khoát, cùng các đồng chí thực hiện
nam du kêu gọi bài xích lối học khoa cử cũ, đả kích chế độ quân chủ, đề
xướng tân học, … Phong trào Duy tân mà Huỳnh Thúc Kháng là một trong ba
lãnh tụ đã nhanh chóng lan rộng khắp Trung Kì, nó cho thấy những lời kêu
gọi có tính chất hoà bình của một cuộc vận động xã hội để thức tỉnh, giục giã
nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng lối sống mới của các ông một khi
đã đi vào lòng quần chúng, tới tận từng thôn xóm sẽ làm bùng phát các làn
sóng đấu tranh xã hội, kích thích họ nổi dậy thành những phong trào có tính
chất bạo lực cách mạng, dù chỉ là đấu tranh tự phát nhưng những phong trào
ấy đã góp phần không nhỏ làm thay đổi tính chất và mục tiêu các phong trào
đấu tranh đang có phần im ắng lúc bấy giờ. Trong số các phong trào cách
mạng diễn ra dưới ảnh hưởng của phong trào Duy Tân, phong trào chống sưu
bùng nổ ở Quảng Nam và sau đó lan rộng ra khắp dải đất từ Hà Tĩnh vào Bình
Định, lan sâu vào cả những thôn làng miền ngược hẻo lánh (năm 1908) là tiêu
biểu hơn cả. Chính sự bùng nổ của phong trào cách mạng này đã khiến hàng
loạt sĩ phu yêu nước mà đứng đầu là những lãnh tụ của phong trào Duy Tân
phải nhận án lưu đày Côn Đảo. Trần Quý Cáp đang làm giáo thụ ở Khánh
Hòa phải lên đoạn đầu đài, Huỳnh Thúc Kháng và cả Phan Châu Trinh (khi
đó đang ở Hà Nội) phải chịu án lưu đày, “ngộ xá bất nguyên” trở thành một
trong những “đệ nhất tù nhân” của “địa ngục trần gian” Côn Đảo.
Năm 1921, sau 13 năm bị lưu đày Huỳnh Thúc Kháng và một số bạn tù
được mãn hạn. Trở về từ “trường học thiên nhiên” Côn Đảo, Huỳnh Thúc
Kháng càng trở nên già dặn, kiên trung, đến mức dù sống trong lòng nghi kị
của một số bạn hữu cũ, dù trong hoàn cảnh nghèo khó, nhưng khi thực dân
Pháp đưa quan chức, bổng lộc ra làm mồi nhử thì ông vẫn rất mực tỏ thái độ
nhân sĩ “có máu mặt”, có đủ uy tín và tài năng kéo theo mình đám đông quần
chúng nhân dân. Một lần nữa cái tên Huỳnh Thúc Kháng trở thành “địa chỉ
nóng”. Phát xít Nhật bày đủ trò từ dụ dỗ, dọa dẫm những mong được Huỳnh
Thúc Kháng nhận lời ra giúp sức cho chính phủ bù nhìn của chúng, nhưng
một lần nữa chí khí khảng khái, tấm lòng yêu nước kiên trung của ông lại thể
hiện, ông thẳng thắn từ chối cộng tác với Nhật.
Cách mạng tháng Tám thành công, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn
năm ở nước ta bị đánh đổ, chính quyền cách mạng được thành lập hướng nhân
dân tiến bước theo mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng chế độ cộng hòa. Đó
cũng là lúc nước nhà phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách mới, đất
nước cần những tấm gương mà đạo đức và tầm nhân cách đủ lớn để có thể
hiệu triệu sự đồng thuận đồng lòng của quốc dân. Nhà lão thành cách mạng
Huỳnh Thúc Kháng là gương mặt được Đảng, Chính phủ lâm thời đứng đầu là
Chủ tịch Hồ Chí Minh “chọn mặt gửi vàng”, mời ra làm việc trong Chính phủ
Liên hiệp kháng chiến, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Sự kiện lịch sử này đánh dấu một cuộc tiếp xúc lớn trong hành trình tư
tưởng và hoạt động cách mạng của Huỳnh Thúc Kháng. Từ chủ nghĩa yêu
nước và lấy chủ nghĩa dân tộc làm hệ quy chiếu, nhà chí sĩ đến với chính
quyền cách mạng với niềm tin gửi trọn vào nhà yêu nước cách mạng Hồ Chí
Minh như một tất yếu lịch sử nhưng cũng lại là một lối hành xử hoàn toàn chủ
động có ý thức.
Trong quá trình kinh lý miền Trung, do tuổi cao sức yếu, Huỳnh Thúc
Kháng tạ thế ngày 21 tháng 4 năm 1947 tại thôn Phú Bình, thị trấn Chợ Chùa,
tỉnh Quảng Ngãi – nơi Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Trung bộ đóng
trụ sở, hưởng thọ 71 tuổi. Trước khi ra đi, Huỳnh Thúc Kháng còn kịp gửi cho
Chủ tịch Hồ Chí Minh một bức điện báo, trong đó bày tỏ rõ tâm sự của mình :
“Gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và
dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả.
Chỉ tiếc không gặp được cụ lần cuối cùng ! Chúc cụ sống lâu để dìu dắt quốc Chƣơng 2
VĂN NGHIỆP HUỲNH THÚC KHÁNG
Trước khi đi vào làm rõ mục đích cuối cùng của luận văn là làm sáng rõ
vai trò và những đóng góp của Huỳnh Thúc Kháng với tư cách một nhà văn
đối với tiến trình vận động tiến vào quỹ đạo hiện đại hóa của nền văn học Việt
Nam những năm đầu thế kỉ cả ở những mặt tích cực, có tác động nhất định
đến sự phát triển và cả những mặt hạn chế, thậm chí có tác động kìm hãm tiến
trình ấy trong một thời đại đầy bão táp và hết sức nhạy cảm, chúng tôi sẽ tiến
hành khảo sát một cách nghiêm túc văn nghiệp nhà chí sĩ.
Trong quá trình tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng,
chúng tôi nhận thấy, các sáng tác văn chương của ông luôn gắn liền với
những mốc lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng. Trên cơ sở đó, để thuận
lợi cho việc triển khai đề tài luận văn, chúng tôi đã bám sát các mốc quan
trọng ấy và chia trước tác của ông làm ba giai đoạn. Ở mỗi giai đoạn sáng tác,
chúng tôi sẽ điểm nhanh lại hoàn cảnh sáng tác trước khi đưa ra một vài nhận
xét, đánh giá có tính chất khái quát về giá trị thơ văn nhà chí sĩ.
1. Giai đoạn 1 : trước năm 1908
1.1. Bối cảnh lịch sử
Những biến chuyển quan trọng trong cuộc đời Huỳnh Thúc Kháng được
đánh dấu khi ông chính thức đỗ Tiến sĩ sau nhiều năm miệt mài đèn sách,
nhưng lại chủ động một cách đầy ý thức khi tiếp cận và tìm hiểu các sách tân
thư, tân văn của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc ;
Môngtexkiơ, J.Rut xô ở Pháp, “mua được nhiều sách mới (như Mậu Tuất
chính biến, Trung Quốc hồn, Nhật Bản Duy tân sử, Tân dân tùng báo cùng
sách Âu dịch ra Pháp văn), tôi [ ] thường với Tây Hồ đến nhà Đào (Đào
Nguyên Phổ), có bao nhiêu tân thơ đọc hết, biết được đôi chút biến thiên của
về bản chất cũng như về trình độ binh lực, tiềm lực kinh tế, khoa học – kĩ
thuật, so với phong kiến phương Bắc. Chính tính chất này của cuộc chiến
cùng với thái độ bạc nhược của triều đình phong kiến đã dẫn đến tình trạng,
chưa bao giờ các cuộc khởi nghĩa nổ ra với tinh thần “thiết huyết” đến thế
nhưng cùng đều bị nhấn chìm trong những bể máu lênh láng đến thế. “Máu
của nhiều tầng lớp, nhiều thế lực, lực lượng. Có thể nói : máu chảy từ nhiều
phía. Khi máu đổ quá nhiều mà phía trước vẫn còn mờ mịt, thì điều khả dĩ thi
thố là vừa không được làm sai lạc hay bỏ rơi mục đích tối hậu, vừa làm sao để
bớt đổ máu vô ích” [39]. Xét ở phương diện này, Duy Tân là một con đường
cứu nước mới mẻ và chỉ có thể được thực hiện bởi những nhân sĩ ưu tú, can
trường của thời đại.
Kiên trì con đường đã lựa chọn, bộ ba chí sĩ xứ Quảng đã hăng hái nam
tiến, bước chân của các ông đã đặt đến ngay cả những vùng đất hẻo lánh,
được coi là miền “ngược” heo hút và khắc nghiệt của Nam Trung Bộ để hô
hào cải cách, đấu tranh đòi thực thi dân chủ, mở mang phát triển công thương
nghiệp, Những hoạt động ấy, thoạt nhìn là những vấn đề của kinh tế, chính
trị, nhưng xét trong bối cảnh lúc bấy giờ, sau khi đã cơ bản dẹp tan các cuộc
nổi dậy lớn bé ở khắp ba kì, tiếng vang của phong trào Cần vương đang lắng
dần xuống, thực dân Pháp đang dần chĩa mũi nhọn vào địa hạt văn hoá để đầu
độc tinh thần thuộc địa thì đó lại là những hoạt động có tầm ảnh hưởng và tác
động không nhỏ đến trái tim, ý thức và hành động của đông đảo nhân dân.
Đúng như C. Mác đã viết : “Cố nhiên là vũ khí của sự phê phán không thể
thay thế được sự phê phán của vũ khí ; lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh
đổ bằng lực lượng vật chất ; nhưng lí luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật
chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [tr. 255, 27]. Như vậy có thể nói,
trước bối cảnh ấy, sự lựa chọn được coi là tối ưu và nhất là phù hợp với sở
trường của các nhà nho là dùng văn chương làm vũ khí đấu tranh và vũ khí
văn chương cũng lại là vũ khí được nhiều nhà nho chí sĩ lựa chọn có hiệu quả
trong hành trình hoạt động cách mạng của mình.
1.2. Tác phẩm chính
Trên các quan lại, dưới lớp thư sinh ; quẳng bút dậy thẳng, treo
mũ đi lanh
Từ nỗi đau nhân thế ấy, hai ông hạ bút chốt lại bài phú với một quyết
tâm : “Hựu hà tất Chí thành thông thánh, Lương ngọc danh sơn vỉ tai !” (Lại
cần gì Chí thành thông thánh, Lương ngọc danh sơn vậy thay). Theo các ông,
chính lối khoa cử lỗi thời, văn hoá lạc hậu là một trong những nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến thảm cảnh mất nước. Chính vì thế, nếu phải thay đổi điều gì
thì việc đầu tiên là phải thay đổi nền văn hoá, học vấn của đất nước.
Với hào khí ấy, Lương ngọc danh sơn phú cùng với Chí thành thông
thánh của hai nhà chí sĩ đã nhanh chóng lan rộng, được rất đông sĩ tử truyền
tay nhau đọc, đồng thời gây không ít trở ngại, tức tối đối với nhà cầm quyền.
Bài phú vừa thể hiện lòng yêu nước, lòng căm thù giặc sâu sắc, đồng thời là
tiếng nói mạnh mẽ và hết sức dũng cảm trong việc phủ nhận nền cựu học
cùng chế độ khoa cử lỗi thời. Lời kêu gọi quẳng bút lông để suy nghĩ, tìm tòi
một hướng đi mới để cứu dân tộc khỏi ách lầm than nô lệ của bộ ba chí sĩ đã
có tác động mạnh mẽ, tích cực tới trái tim và khối óc của không ít học trò của
Nho môn và đông đảo nhân dân trong vùng. Bài phú ra đời là một đòn phủ
đầu đầu tiên của các nhà Duy Tân, qua bài phú, ta hiểu tại sao, chỉ xuất phát
từ hình thức của một cuộc vận động tân văn hoá, mà những nhiệt huyết của
các nhà chí sĩ lại có thể tác động mạnh mẽ tới trái tim và khối óc của quần
chúng, để từ đó, những phong trào quần chúng nổ ra đã vượt xa khuôn khổ
của một hoạt động văn hoá, khiến bọn thực dân không thể ngồi yên.
Cái văn chương là một bài thơ tiêu biểu nữa của Huỳnh Thúc Kháng
trong giai đoạn sáng tác này. Đây là bài thơ đầu tiên ông viết bằng chữ quốc
ngữ nhằm mục đích đả kích lối học cử nghiệp.
Nhìn chung, những bài thơ đầu tiên của Huỳnh Thúc Kháng là những lời
hô hào đầy nhiệt tình, thiết tha của nhà chí sĩ để kêu gọi, giục giã những ai
còn đang say sưa với cái “bả vinh hoa”, còn nuôi chí lập nên sự nghiệp bằng
con đường thi cử của Nho gia hãy nhanh tỉnh giấc, bởi thời đại giờ đã đổi
khác, khí vận đã chuyển dời rất xa, những nho sinh của “cửa Khổng sân
một khi đã thấm sâu vào quần chúng bấy lâu nay bị đè nén, bóc lột đến tận
cùng thì sẽ tạo động lực cho một sự trỗi dậy mạnh mẽ đầy ý thức và tự giác
của mọi tầng lớp nhân dân.
Suốt 13 năm trường (từ tháng 9 – 1908 đến năm 1921) bị lưu đày tại Côn
Đảo, chịu nhiều thử thách, bị tách rời khỏi những biến cố lớn lao của lịch sử
nước nhà cũng như phong trào yêu nước cách mạng của nhân dân nhưng ý chí
kiên cường, lòng yêu nước mạnh mẽ như một hằng số bất biến vẫn liên tục
chảy trong huyết quản nhà chí sĩ khiến cho không một khó khăn nào có thể
khuất phục được.
Ở nơi “địa ngục trần gian” này, những tấm gương kiên trung, những
danh sĩ mẫu mực của khắp ba kì, một cách rất tình cờ đã hội tụ lại, với nghị
lực và bản lĩnh phi thường, họ không những đã chịu đựng gian khổ, vượt lên
trên khó khăn, thách thức và dần dần bằng trí tuệ và sự sáng tạo, những “đệ
nhất tù nhân” Côn Đảo đã biến nơi đây trở thành một “trường học thiên
nhiên”, một nơi “lửa thử vàng” của rất nhiều thế hệ thanh niên ta trong suốt
mấy thập niên trường chinh cứu nước về sau.
2.2. Tác phẩm chính
Tác phẩm tiêu biểu nhất của Huỳnh Thúc Kháng trong giai đoạn sáng
tác này là tập Thi tù tùng thoại. Đúng như tên gọi của nó, Thi tù tùng thoại
không chỉ ghi chép thơ, mà phần chủ yếu và có giá trị lớn về mặt lịch sử lại là
“thi thoại” của nhiều người cùng góp mặt (tùng). Tập thơ ra đời trong lao tù
Côn Đảo nhưng sau năm 1927 mới được bắt đầu đăng từng bài trên Tiếng
Dân trước khi in thành sách vào năm 1939.
Nói về phần thơ, có thể nói, những bài thơ được đăng trong tập thơ đã
đưa Thi tù tùng thoại trở thành tập thơ tù đầu tiên của văn học Việt Nam ta.
Trong số những quốc sự phạm bị đày ra Côn Đảo cùng với Huỳnh Thúc
Kháng, thơ văn họ làm trong chốn lao tù hẳn không ít, nhưng đủ can đảm để
in lên mặt báo cho đông đảo nhân dân đọc thì không nhiều.
Bài ca lưu biệt là một trong số những bài thơ đâu tiên Huỳnh Thúc
Kháng sau khi bị lĩnh án lưu đày Côn Đảo. Bài thơ tỏ rõ quan niệm nhập thế
tù Côn Đảo nơi những danh sĩ của cả ba miền đang bị giam cầm.