Đông dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hóa văn học việt nam 30 năm đầu thế kỷ XX - Pdf 95

1

Đông Dương Tạp chí trong tiến trình hiện đại
hóa Văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX

Hoàng Thị Cương

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Trần Ngọc Vương
Năm bảo vệ: 2011

Abstract. Trình bày vai trò của báo chí trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Việt
Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu về Đông Dương tạp chí trong tiến trình
hiện đại hoá văn học Việt Nam. Tìm hiểu những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh - chủ
bút Đông Dương tạp chí cũng như những quan điểm và cách hành xử của ông trong bối
cảnh lịch sử mới của đất nước và quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam ba mươi năm
đầu thế kỷ XX.

Keywords. Văn học Việt Nam; Nghiên cứu văn học; Thế kỷ 20; Tạp chí Đông Dương

Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang đầu kỷ XX, giữa bộn bề, hoang mang của một đất nước đang dưới ách
xâm lược của thực dân Pháp, các nhà tân học đã nhận thức được vấn đề cấp thiết lúc này
là phải có văn tự riêng cho dân tộc. Chữ quốc ngữ, sau khi được giới Tân học tích cực
vận động, được giới Cựu học “thông quan” đã có sức lan toả mạnh mẽ và sâu rộng trong
xã hội. Đa số các công trình nghiên cứu về văn học đều khẳng định vai trò của chữ quốc
ngữ trong việc mở đường cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Nhắc đến vai trò của chữ quốc ngữ đối với sự phát triển của nền văn học hiện đại

mang tính chất văn học đầu tiên của Việt Nam, là nơi quy tụ được nhiều cây bút xuất sắc
như: Bưu Văn Phan Kế Bính (1875-1921), Trọng Hữu Nguyễn Đỗ Mục (1882-1951), Lệ
Thần Trần Trọng Kim (1882-1953), Ưu Thời Mẫn Phạm Duy Tốn (1883-1924), Tản Đà
Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), Thượng Chi Phạm Quỳnh (1892-1945),…
Đóng góp của Đông Dương tạp chí và chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh trong tiến trình
hiện đại hoá văn học Việt Nam là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề
này vẫn chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và có hệ thống. Đó là lý do chúng tôi
chọn đề tài “Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hoá văn học Văn học Việt
Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX”, để nghiên cứu trong luận văn này.
3

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đương thời, Đông Dương tạp chí và chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh được nhiều người
đề cao nhưng cũng không ít đả kích. Tội danh phản quốc, bồi bút được gán cho Nguyễn
Văn Vĩnh, hẳn một phần không nhỏ là do ông làm chủ của tờ Đông Dương tạp chí. Theo
như phân tích của Phan Khôi thì: “Nhưng, theo sự phẩm-bình chặt-chịa của một hạng
người trong nước, hạng người ấy đại-khái là nhà nho, thì ông Vĩnh dù có là hào kiệt đi
chăng nữa không là quân-tử… hạng người ấy tuy có phục ông Vĩnh về đằng tài nhưng họ
không lượng thứ cho ông về đằng tâm”. Đánh giá về Đông Dương tạp chí và Nguyễn
Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Trung viết: “Nguyễn Văn Vĩnh có thể là một nhà báo giỏi, nhưng
lại rất vụng về chính trị. Ngôn ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh không những không tranh thủ
được ai, đặc biệt giới sĩ phu, mà còn gây thêm đố kỵ, hận thù”.
Nhiều nhà nghiên cứu văn học cũng nhận định Đông Dương tạp chí và Nguyễn
Văn Vĩnh giữ một vị trí nhất định, nhưng chỉ lướt qua. Trần Đình Hượu cho rằng:
“Trước 1913, báo chí chủ yếu giúp người đọc làm quen với chữ quốc ngữ”, Trần Thanh
Lãng nhấn mạnh “Từ năm 1913, Đông Dương tạp chí đã làm xoay chiều văn học, đã đưa
cái mới vào văn học, làm cho hai thế hệ trước và sau khác hẳn nhau. Mà người lãnh đạo
nó, linh hồn của nó chính là Nguyễn Văn Vĩnh” và Vũ Ngọc Phan khẳng định, khi Đông
Dương tạp chí ra đời thì “Quốc văn bắt đầu thịnh, bắt đầu có cái giọng hoa mỹ, dồi dào
và chú trọng về tư tưởng”.

phạm vi nghiên cứu ở nội dung của Đông Dương tạp chí và những bài viết, những tác
phẩm, tác giả có liên quan đến các vấn đề, khía cạnh trên.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Những năm gần đây, việc nghiên cứu, đánh giá lại những vấn đề thuộc về giai
đoạn lịch sử nhạy cảm thường xuyên được đề cập. Nhiều tác giả trong các công trình
nghiên cứu vẫn ghi nhận Đông Dương tạp chí là “cột mốc” quan trọng của nền văn học
hiện đại Việt Nam, nhưng chưa có cái nhìn tổng quan, đầy đủ, đúng mức và có hệ thống.
Người làm luận văn đặt vấn đề “Vai trò của Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện
đại hoá văn học Việt Nam” và thực hiện những bước nghiên cứu sau:
Khảo sát, phân tích, tổng hợp, đánh giá Đông Dương tạp chí, cụ thể là những nội
dung liên quan tới sự phát triển của nền văn học.
Thu thập và hệ thống toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đông Dương
tạp chí, tìm hiểu những quan điểm và cách hành xử của ông trong bối cảnh lịch sử mới
của đất nước.
5

Thông qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi mong muốn cung cấp cho độc giả cái nhìn
sáng rõ hơn về vai trò của Đông Dương tạp chí và Nguyễn Văn Vĩnh trong quá trình hiện
đại hoá văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu một số phương pháp nghiên
cứu cơ bản như: Phương pháp khảo sát văn bản, hệ thống hóa chủ đề - đề tài, phân tích,
đánh giá và sử dụng tri thức liên ngành. Sử dụng phương pháp văn học sử bởi đối tượng
khảo sát là một tờ báo “cột mốc” đánh dấu sự phát triển của chữ quốc ngữ và mang tính
chất văn học đầu tiên ở Việt Nam. Và sử dụng một số phương pháp đồng đại, lịch đại và
phương pháp liên ngành khác như xã hội học, so sánh lịch sử.
6. Cấu trúc của luận văn
Chúng tôi trình bày luận văn gồm 3 phần chính:
Phần mở đầu
Phần nội dung (gồm 3 chƣơng):

của ít nhất hai hệ hình văn học”, đó là sự hỗn dung của hai nền văn học cũ và mới, của
quan điểm tư tưởng thẩm mĩ, đội ngũ tác giả, khuynh hướng sáng tác, thể loại và ngôn
ngữ.
1.1. Hình thành quan niệm văn chương là dành cho đại chúng, lấy đời sống hiện
thực và những con người của cuộc sống đời thường làm trung tâm của các sáng tác, đồng
thời làm đối tượng phục vụ. Văn chương là một nghề để kiếm sống, người cầm bút viết
văn là những nhà chuyên môn chuyên nghiệp. Hệ thống chủ đề trong văn học giai đoạn
này không chỉ mang nhiều yếu tố khác biệt mà còn mở rộng, thiết lập những chủ đề mới
về tiến hóa xã hội, về yêu nước, về những vấn đề diễn ra trong cuộc sống đời thường…
Mặc dù các nhà nho, khoa bảng vẫn còn nặng về “văn dĩ tải đạo”, “thi ngôn chí”
như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… nhưng ít nhiều đã bị chi phối bởi ý thức hệ tư
sản, do đó những lý tưởng, quan niệm cũ tưởng như đã ăn sâu vào tiềm thức có những
biến đổi, ý thức đem văn chương phục vụ mục đích chính trị, đấu tranh, tuyên truyền.
1.2. Văn học ba mươi năm đầu thế kỷ XX vận động theo hai khuynh hướng,
khuynh hướng văn học thuyền thống và khuynh hướng văn học mới. Giữa các sáng tác
của hai khuynh hướng này lại có sự giao thoa, đan xen về hệ thống thi pháp. Xu hướng
vận động của văn học truyền thống dần bị thu hẹp và biến mất, xu hướng văn học mới
ngày càng phát triển và chiếm lĩnh văn đàn.
1.3. Văn học hiện đại giai đoạn này chưa thoát khỏi dấu ấn của những thể loại đã
trở thành điển phạm trong văn chương truyền thống như: văn chính luận, thơ chữ Hán,
7

diễn ca lục bát, ngâm khúc, hát nói, vè, liệt truyện. Các thể loại: truyện dịch, truyện thơ
quốc ngữ, du kí, thơ viết bằng văn vần có sự tương tác, dung hòa giữa yếu tố truyền
thống và hiện đại. Văn học Việt Nam giai đoạn này cũng đã xuất hiện nhiều thể loại mới:
Truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, ký, thơ…
1.4. Trong mấy thập kỷ đầu của thế kỷ XX, văn học Việt Nam được sáng tác bằng
cả chữ Hán và chữ quốc ngữ. Nhưng về sau, lực lượng sáng tác và những tác phẩm bằng
chữ quốc ngữ dần lấn át chữ Hán. Chữ quốc ngữ được văn học hiện đại lựa chọn làm
“chất liệu nền”.

Giai đoạn 1925-1930, có 40 tờ báo, tạp chí mới xuất bản công khai và hợp pháp.
Tiêu biểu là các tờ báo Tiếng dân (1917-1943), L’ Annam, Hà Thành ngọ báo, Đông Tây
tuần báo, Tân thế kỷ, Phụ nữ tân văn, An Nam tạp chí… Bên cạnh đó đã xuất hiện dòng
báo chí bí mật không hợp pháp, mở đầu là báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập.
Như vậy, về hình thức, báo chí phát triển từ công báo, bán công báo đến báo, tạp
chí; từ nhật báo, tuần báo, nguyệt san, bán nguyệt san, tạp chí; từ báo chí nhà nước đến
báo chí tư nhân. Về nội dung: Ngoài những mục mang tính quan báo, thời sự, còn có các
mục luận thuyết, triết học, khoa học, văn chương khoa, sư phạm học khoa, và hầu hết các
tờ báo đều có mục Văn uyển.
Từ việc gieo mầm báo chí, nhằm sử dụng báo chí như là một công cụ đắc lực thực
hiện âm mưu xâm lăng về văn hóa, Pháp nhanh chóng nhận thấy nguy cơ phát triển của
báo chí và tìm mọi cách phong tỏa. Thế nhưng, sự ra đời của hàng trăm tờ báo ở ba thập
kỷ này cho thấy báo chí đã phát triển ngoài sức tưởng tượng của thực dân, trở thành
“công cụ không tự giác” mà Pháp khó có thể đặt lại vào vòng kiểm soát. Cuộc “vượt
thoát” ngoạn mục của báo chí không chỉ có ý nghĩa văn hóa xã hội, mà nó còn có ý nghĩa
mở đường cho quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc.
2.2. Vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hóa nền văn học
2.2.1. Báo chí là môi trƣờng xuất hiện, tồn tại và phát triển của văn học quốc
ngữ.
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương đã chỉ ra báo chí là sự manh nha của một nền
văn học mới:“Hầu như ngay từ buổi đầu của sự xuất hiện và lưu hành báo chí, một thứ
văn học mới khác xa với văn học truyền thống đã gắn với loại phương tiện mới đó mà
nảy mầm”. Gia Định báo, sau 4 năm đã mở thêm các mục khảo cứu, nghị luận, thơ ca
đăng sáng tác của các danh sĩ Nam Kỳ như Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của… “Chính
thơ văn, truyện cổ tích và những bài nghiên cứu về lịch sử nước nhà được đăng trên tờ
báo lúc này… đã góp phần khai sinh nền quốc văn mới”.
9

Lần lượt các tờ báo Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn (ở Nam kỳ,) Đại Nam
đồng văn nhật báo, Đăng cổ tùng báo, Đại Việt tân báo, Trung Bắc tân văn (ở Bắc

Điểm lại văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, chúng ta nhận thấy, hầu hết các
tác phẩm văn chương hay và có giá trị đã gây được những ảnh hưởng lớn và sâu sắc đối
với nền văn học hiện đại đều được đăng tải trên báo chí, 2.2.2. Vai trò của báo chí với
quá trình hình thành lực lƣợng sáng tác văn học hiện đại.
Giới tân học làm báo nhưng lại có ý thức hoạt động tích cực để xây dựng nền
quốc văn. Từ Trương Vĩnh Ký, đến Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn,
Hoàng Ngọc Phách,… không chỉ tích cực nghiên cứu, dịch thuật, giới thiệu văn hóa, tư
tưởng phương Tây, tác phẩm văn học nổi tiếng của Pháp mà còn tiến hành những thể
nghiệm văn học mới, đưa sáng tác mới lên mặt báo, nhằm kiến tạo một mô hình văn học
hiện đại. Đây là ngũ tác giả văn học trưởng thành từ báo chí, trở thành lực lượng sáng tác
quan trọng của văn học hiện đại.
Những nhà nho cuối mùa như Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học,
Nguyễn Hữu Tiến… hởi với công cuộc tổng duyệt lại văn chương truyền thống và bảo
tồn vốn cổ bằng cách chuyển dịch ra chữ quốc ngữ trên báo chí. Họ trở thành những cây
bút có tiếng trong lĩnh vực biên khảo.
Những tác giả tiêu biểu của dòng văn học yêu nước cách mạng đầu thế kỷ XX như
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng… Đội ngũ tác giả
này muốn tìm một con đường văn chương mới, một công cụ truyền bá rộng rãi để phục
vụ cho mục đích cổ động cách mạng và truyền bá tư tưởng, tinh thần yêu nước tới quần
chúng nhân dân.
Báo chí là môi trường nuôi dưỡng, đào tạo và hình thành đông đảo đội ngũ tác giả
văn học hiện đại; là nơi nương náu, chuyển mình của đội ngũ tác giả truyền thống. Thông
qua hệ thống báo chí giai đoạn 1900-1930, chúng ta có thể hình dung một cách tương đối
đầy đủ gương mặt tác giả văn học đương thời, thậm chí, còn “có thể hình dung toàn bộ
văn nghiệp của tác gia văn học”. Và, vượt khỏi khung khổ thời gian, báo chí giai đoạn
này còn có tác động, ảnh hưởng tới đội ngũ tác giả văn học sau 1930 như: Nguyễn Công
Hoan, Vũ Đình Long, Tam Lang, Thái Phỉ…
2.2.3. Sự tác động của báo chí đến quá trình hình thành thể loại văn học.
Từ sau “ngôi sao băng” Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản xuất hiện
trên báo năm 1887, và những thể nghiệm tiếp theo như: Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian

xây dựng, thiết lập là cơ sở cho sự phát triển của báo chí.
Bốn là, trước tinh thần phản kháng của các phong trào yêu nước, Pháp đã “vội
vàng” cho xuất bản Đông Dương tạp chí. Theo thâm ý chủ quan ban đầu của Pháp là:
“Đem văn chương học thuật, đem ân huệ văn minh của nhà nước Lang Sa mà khua sáo
12

cho lấp được những lời gây loạn”. Trong khi đó, giới duy tân, mà tiêu biểu là Nguyễn
Văn Vĩnh cũng lựa chọn báo chí làm diễn đàn. “Đối với những người Việt Nam cộng tác,
đứng đầu là Nguyễn Văn Vĩnh, hẳn các ông cũng muốn lợi dụng báo để làm nơi tuyên
truyền cho việc duy tân đất nước và xây dựng văn học mới ”
1.2. Tôn chỉ mục đích của Đông Dƣơng tạp chí
Ngày 15 tháng 5 năm 1913, Đông Dương tạp chí chính thức ra đời, do
F.H.Schneider làm chủ, Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Đông Dương tạp chí là tờ báo
tiếng Việt đầu tiên xuất bản ở Hà Nội, xuất bản vào thứ 5 hàng tuần.
Trong số báo thứ 2, ra ngày 22/5/1913, ở mục “Chủ-nghĩa”, tôn chỉ, mục đích của
Đông Dương tạp chí được đưa ra như sau: “Phổ biến văn hoá Tây phương, cổ động học
chữ quốc ngữ, giới thiệu hiến thức thực nghiệp như canh nông, công nghệ và tuyên
truyền cho chính phủ bảo hộ”.
Trong quá trình phát triển, tôn chỉ, mục đích của Đông Dương tạp chí có phần
thay đổi. Nội dung tuyên truyền cho chính phủ bảo hộ dần bị thu hẹp, thay vào đó là nội
dung văn chương, học thuật nhằm dựng một nền quốc văn mới.
1.3. Cách trình bày,hệ thống chuyên mục trên Đông Dƣơng tạp chí.
Về cách thức trình bày, chúng ta có thể xem cụ thể ở hình tư liệu.
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, Đông Dương tạp chí xuất bản năm 1913 và đình
bản vào năm 1919. Nhưng tìm hiểu nguồn tư liệu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội và Trung
tâm Lưu trữ Quốc gia I, chúng tôi chỉ khảo sát được những số báo xuất bản từ năm 1913-
1917, trong đó có nhiều số báo không được lưu trữ. Cụ thể, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
I chỉ lưu trữ một vài tập báo của năm 1913, 1915 nhưng rất rời rạc, một số tài liệu tiếng
Pháp thuộc phông Thống sứ Bắc Kỳ (hồ sơ 79456) như công văn của Toàn quyền Đông
Dương gửi Thống sứ Bắc Kỳ cho xuất bản Đông Dương tạp chí bằng chữ quốc ngữ

Nguyễn Văn Trung và nhiều ý kiến khác cho rằng: Những cây bút của tờ báo này chỉ cốt
thực hiện một nền quốc văn mới cho dân tộc, hoặc là do sự không khéo léo của Nguyễn
Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí về “làm chính trị” đã khiến Pháp cần có một tờ báo
khác khôn khéo hơn, nhằm tranh thủ hơn là đả kích, chủ trương dung hòa Đông - Tây
hơn là đồng hóa âu hóa. Đó phải là một “tờ báo quốc ngữ có lãnh đạo tốt và kiểm soát
cẩn thận” (báo cáo gửi Phủ toàn quyền ngày 15-11-1915 của Thống sứ Bắc Kỳ Le
Gallen)
14

2. Vai trò của Đông Dƣơng tạp chí trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt
Nam 30 năm đầu thế kỷ.
Chúng tôi hệ thống lại và nghiên cứu vai trò của Đông Dương tạp chí trong tiến
trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc ở những đóng góp cụ thể sau:
1. Góp phần xây dựng “chất liệu nền” cho văn học hiện đại - văn chương quốc ngữ.
2. Sưu tầm, dịch thuật và đăng tải các bài viết tư tưởng học thuật phương tây, nhiều
tác phẩm văn chương tiếng Pháp, chữ Hán, Nôm, chữ Trung Quốc.
2.1. Góp phần xây dựng “chất liệu nền” cho văn học hiện đại - văn chƣơng quốc
ngữ.
Ngay từ những số báo đầu tiên, Đông Dương tạp chí hết sức cổ động học chữ
quốc ngữ. Đăng các bài viết phân tích sự cần thiết và quan trọng của chữ quốc ngữ đối
với dân tộc, cái lợi, cái hay của việc học chữ quốc ngữ. “Mở ngay tờ nhật báo này ra mà
ngẫm xem bấy nhiêu điều luận trong báo, thử nghĩ: giá thử luận bằng chữ Nho thì có
mấy người đọc được, mà trong những người đọc được, thì có mấy người hiểu cho hết
nghĩa. Thế mà chữ Quốc ngữ, thì không những là người biết chữ Quốc ngữ đọc được,
hiểu được, một người đọc cả nhà nghe cùng hiểu được, từ đàn ông cho đến các bà trẻ
con cũng nghe được…”.
Công cuộc truyền bá chữ quốc ngữ được thực hiện như sau: Trong số 15 ra ngày

về nhân sinh quan và thế giới quan.
2.2.2 Sưu tầm, dịch thuật, đăng tải các tác phẩm văn chương Pháp, Hán Nôm, Trung
Quốc.
Đây là nhiệm vụ trọng tâm mà Đông Dương tạp chí hướng tới. Qua khảo sát,
chúng tôi thấy nội dung này xuất hiện đều đặn trên tất cả các số báo ra của Đông Dương
tạp chí. Bắt đầu từ số 2, Đông Dương tạp chí cho đăng mục “Văn-chương” (gồm Pháp
văn tạp thái và Nam văn tạp thái, in cả tiếng Pháp và chữ quốc ngữ) do Nguyễn Văn
Vĩnh trực tiếp chịu trách nhiệm. Năm 1913 - 1914 mục này chiếm khoảng 1 trang, đến
năm 1917 chiếm khoảng 11 trang.
Đối với văn chƣơng Pháp: “Mỗi kỳ bản-báo lựa văn hay Lang-sa, dịch ra quốc-
âm một bài, in vào mục này để cho các bậc tài hoa nước Nam xét cái thần tình văn
chương Đại-Pháp”. Những tác phẩm nổi tiếng như truyện Gil-Blas de Santillane của
Lesage, Thơ ngụ ngôn của La Fontaine, Miếng da lừa của Banzắc,… lần lượt được dịch
và đăng tải trong mục Pháp văn tạp thái về sau là Pháp văn (1915), Tiểu thuyết tây diễn
nôm (1917).
16

Đối với văn chƣơng Việt Nam: Mở ra các chuyên mục Nam văn tạp thái, Hán
văn, Chuyện Hoa tiên, văn Nôm cổ, văn Nôm Đàng Trong, giới thiệu nhiều tác giả nổi
tiếng Lê Quý Đôn, Nguyễn Khuyến,… nhằm bảo tồn vốn cổ. Mở ra diễn đàn văn chương
“Từ phú thi ca” cho các văn sĩ đương thời. Không chỉ thế, Đông Dương tạp chí đã làm
được một việc hết sức lớn lao, mà không báo nào, tác giả nào có thể làm được, đó là việc
dịch tác phẩm “Kim - Vân - Kiều” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du ra tiếng Pháp.
Năm 1913-1914, văn chương, học thuật chỉ chiếm khoảng 2-5 trang. Năm 1915
trở đi, hệ thống chuyên mục của Đông Dương tạp chí hoàn toàn về văn chương và sư
phạm, mang tính chất của một tờ báo chuyên ngành. Năm 1916, chuyên mục Văn chương
có khoảng 9 - 12 trang. Toàn bộ số báo ra năm 1917 có 5 chuyên mục chính hoàn toàn
dành cho văn chương học thuật.

Chƣơng III

Bên cạnh hoạt động về báo chí, Nguyễn Văn Vĩnh còn tham gia thành lập nhà in, tổ
chức xuất bản sách dịch, tổ chức diễn thuyết hô hào lập các hội dịch sách, đem các sách
phổ thông pháp học dịch ra chữ quốc ngữ để truyền bá cho người mình biết tư tưởng và
văn chương phương Tây, lập tủ sách Âu Tây tư tưởng (La pensée de l’Occident)…
Như vậy, cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh trải qua hai mốc quan trọng.
Một là bước chân vào học và làm nghề thông ngôn; hai là chuyển sang nghề làm báo.
Đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trong tiến trình hiện đại hoá nền văn học dân tộc gắn
liền với nghề làm báo này. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu những đóng
góp của Nguyễn Văn Vĩnh trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam trong khuôn
khổ của Đông Dương tạp chí.
Về văn học
Đóng góp lớn nhất cho văn học là công tác dịch thuật.
Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch và cho đăng tải nhiều tác phẩm văn học phương Tây
như: Thơ ngụ ngôn của La Fontaine, Truyện trẻ con của Perraut, truyện Gil Blas de
Sautilane của Lesage (4 quyển), Manon Lescaut của Abbé Prévost (5 quyển), Những kẻ
khốn nạn củaV.Hugo, Miếng da lừa của H.Balzac Những bộ sách dịch này làm cho
người đọc cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn học phương Tây, từ đó dấy lên niềm
ham mê đọc sách, sáng tác văn học theo cách viết, tư duy hiện đại, bỏ qua lối viết cũ
dềnh dàng với những câu văn biền ngẫu. Từ những năm 1920 trở đi, một đội ngũ nhà văn
trẻ được hình thành chính nhờ hấp thụ các dịch phẩm văn học phương Tây trên báo chí.
18

Nguyễn Văn Vĩnh là người duy nhất đã dịch Truyện Kiều từ chữ Nôm sang chữ
quốc ngữ, sau đó lại kỳ công chuyển tải tác phẩm văn học bất hủ này sang tiếng Pháp,
khởi đăng từ 1913 đến tận năm 1917. Ngoài ra ông còn thể nghiệm những sáng tác mới,
tiêu biểu như tập ký sự Hương Sơn hành trình (Đông Dương tạp chí, số 41-45).
Với tư cách là chủ bút của Đông Dương tạp chí, Nguyễn Văn Vĩnh đã chủ trương
đổi mới văn thơ, du nhập nhiều thể loại mới đồng thời thể nghiệm những sáng tác mới
phong phú và hấp dẫn, dần trở thành món ăn tinh thần, là sách học tập cho nhiều đối
tượng độc giả.

hệ chính trị.
Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ: Về tư tưởng, Nguyễn Văn Vĩnh
có thể coi là người tiêu biểu cho một phong trào duy tân cấp tiến tại nước Việt vào đầu
thế kỷ 20. Về đường văn học, trong quá trình hình thành nên một nền văn học mới, ông
còn là chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho việc truyền bá chữ quốc ngữ, bước đầu làm
ra một tờ báo rất bổ ích cho văn mới lúc phôi thai, đó là tờ Đông Dương tạp chí.
Ở Bảng lược đồ Văn học Việt Nam, Thanh Lãng viết: “….Cho nên khi về nước,
thay vì tiếp tục cộng tác với Pháp để được vinh thân phì gia, ông lại bỏ nghề quan
trường để dấn thân vào cuộc đấu tranh văn hóa, mà khí giới của ông là báo chí và ấn
phẩm Có thể thấy ở Nguyễn Văn Vĩnh, một thế hệ mới mà tâm tưởng khác hẳn thế hệ
xưa. Trước đây, tư tưởng “Hợp tác với Pháp để duy tân xứ sở” do Tôn Thọ Tường đề
xướng bị người đời lên án, thì đến thời ông Vĩnh được coi là cần yếu, vì mọi cuộc khởi
nghĩa đều lần lượt bị thất bại đau đớn.
Nguyễn Văn Trung có những đánh giá khá gay gắt, xem Đông Dương tạp chí là ấn
phẩm cổ vũ cho lập trường phản quốc, phản dân tộc và lên án “Nguyễn Văn Vĩnh là
người theo tây học hoàn toàn, cho rằng phải âu hóa mới mong tiến được. Một thái độ về
chính trị và về văn hóa như thế (dám chửi cả Phan Bội Châu) trước mắt giới sĩ phu, chỉ
là thái độ của một kẻ vong bản nịnh hót tâng bốc quan thầy đến nỗi làm cho chủ đọc đến
phát ngượng”.
2.3. Những đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh trong mấy thập kỷ gần đây
Trong xu thế đổi mới và cởi mở, vài thập kỷ trở lại đây, một số vấn đề của quá
khứ được nhìn nhận, xem xét lại, theo đó, vấn đề về Nguyễn Văn Vĩnh cũng được nhiều
nhà nghiên cứu hiện nay quan tâm. Có nhiều đánh giá cảm thông và bênh vực sự lựa
chọn và thái độ chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh lúc bấy giờ. GS.Nguyễn Huệ Chi cho
20

rằng, mặc dù Nguyễn Văn Vĩnh chọn con đường “công khai dựa vào Pháp để canh tân
đất nước” “nhưng ông đã hai lần từ chối Bắc đẩu bội tinh của họ”. Nhà văn Vũ Bằng tỏ
thái độ thán phục: “Những lời đe dọa, khi thì sỗ sàng, khi thì mềm dẻo của nhà cầm
quyền Pháp hồi đó, kéo dài không ngớt trong cuộc đời ông. Vậy mà, thà là chịu khổ sở,

Ở vào hoàn cảnh lúc bấy giờ, thay vì lựa chọn đấu tranh giải phóng dân tộc,
Nguyễn Văn Vĩnh đã chọn đấu tranh vì sự tiến bộ xã hội. nhìn lại lịch sử, nhìn lại chặng
đường hình thành và phát triển một nền văn hóa thuần túy quốc gia, một nền văn học
hiện đại có ngôn ngữ riêng cho dân tộc thì nhiệt huyết ấy đáng được ghi nhận và cần phải
ghi nhận.

PHẦN KẾT LUẬN
1. Phác thảo lại bức tranh văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX, chúng tôi
muốn đưa người đọc trở về với giai đoạn giao thời, văn học Việt Nam đang trong tình
trạng hỗn dung của “ít nhất hai hệ hình văn học” và thấy được nền văn học chữ Hán gắn
với thi pháp trung đại đang dần bị triệt tiêu và nền văn học quốc ngữ theo hệ thống thi
pháp hiện đại đang dần được kiến tạo, mà báo chí đã trở thành tác nhân có tác động sâu
sắc tới cuộc “giao tranh” ấy.
Có thể nói, quá trình phát triển của báo chí chính là quá trình mở đường cho sự
phát triển của chữ quốc ngữ. Hầu hết trên các tờ báo, tạp chí đều không thể thiếu các
chuyên mục truyện kể, truyện ngắn, thơ ca, câu đối… “chất liệu nền” của văn học hiện
đại được thể nghiệm, luyện tập, câu văn quốc ngữ cũng dần được gọt rũa mà trở nên
tường minh hơn. Thông qua hệ thống báo chí chúng ta nhận thấy hàng loạt các áng thơ
văn kiệt tác của Việt Nam, văn học Trung Quốc, hệ thống tác phẩm văn học Pháp và đặc
biệt là liên tục xuất hiện những sáng tác văn thơ mới quốc ngữ. Dường như văn học chui
vào báo chí và hầu như mọi tác phẩm văn học đầu thế kỷ XX trước khi in thành sách đều
lần lượt đăng tải từng kỳ trên mặt báo.
Cũng trên hệ thống báo chí, chúng ta có thể hình dung một cách đầy đủ những
gương mặt của văn học đương thời. Đội ngũ tác giả tiêu biểu của dòng văn học yêu nước
cách mạng đầu thế kỷ XX, những cây bút biên khảo như và đội ngũ tác giả sáng tác theo
phương pháp hiện đại. Về mặt thể loại, hàng loạt những thể nghiệm sáng tác mới trên báo
dần tạo nên phong trào sáng tác trên phạm vi cả nước, qua đó nền văn học mới đã gom
đủ diện mạo của những thể loại và thể tài chính yếu: tự sự, trữ tình, kịch.
22


23

sáng tác mới phong phú và hấp dẫn, dần trở thành món ăn tinh thần, là sách học tập cho
nhiều đối tượng độc giả.
Cùng với Đông Dương tạp chí, Nguyễn Văn Vĩnh đã trở thành người đặt viên gạch
nền móng xây dựng cho văn học hiện đại Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, nhìn lại chặng
đường hình thành và phát triển một nền văn hóa thuần túy quốc gia, một nền văn học
hiện đại có ngôn ngữ riêng cho dân tộc thì nhiệt huyết ấy đáng được ghi nhận và cần phải
ghi nhận.
4. Nghiên cứu một đối tượng thuộc về giai đoạn giao thời nhạy cảm, những tài liệu
nghiên cứu về Đông Dương tạp chí và Nguyễn Văn Vĩnh rải rác và lướt qua; mặt khác,
tại hai trung tâm lưu trữ lớn là Trung tâm lưu trữ Quốc gia và thư viện Quốc gia nguồn
văn bản này không lưu giữ được hoàn chỉnh, trọn bộ; chúng tôi cũng không thể tiếp cận
văn bản gốc. Tuy nhiên, với quá trình làm việc nghiêm túc và nghiên cứu kỹ lưỡng
nguồn văn bản được phép tiếp cận, chúng tôi, trong khuôn khổ luận văn cố gắng hệ thống
lại một cách cơ bản nhất góp thêm một cách nhìn mới công bằng và khách quan về
những gì mà Đông Dương tạp chí và Nguyễn Văn Vĩnh đã đóng góp cho quá trình hiện
đại hóa nền văn học dân tộc trong giai đoạn giao thời. Dù sao, chúng tôi vẫn hy vọng và
mong muốn sẽ tìm ra đầy đủ hơn nguồn tài liệu về trường hợp này để nghiên cứu nhiều
hơn và sâu hơn nữa về tờ tạp chí nhiều gian truân và thú vị này.

References.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại: nhận thức và thẩm định, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội.
2. Đông Dương tạp chí (1913, 1914, 1916, 1917) (vi phim), Thư viện Quốc gia, Hà Nội.
3. Đông Dương tạp chí (1915), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.
4. Hồng Chương (1985), Báo chí Việt Nam, NXB sự thật.
5. Hồng Chương (1987), Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam, sách giáo khoa Mác.
6. Phạm Văn Diên (1953), Việt Nam Văn học giảng bình, NXB Tân Việt.

24. Từ điển văn học Việt Nam (1997), NXB Giáo dục, Hà Nội.
25. Viện văn học Việt Nam (2002), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
26. Phạm Thế Ngũ (1965), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, NXB Quốc
học tùng thư.
27. Bùi Văn Nguyên, Phê bình, bình luận văn học.
25

28. Vương Trí Nhàn (2006), Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp
nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nghiên cứu văn học, số 7 Hà Nội.
29. Vương Trí Nhàn (2006), Đi tìm một cách tiếp nhận đặc trưng cho văn học Việt Nam,
Nghiên cứu văn học số 7, Hà Nội.
30. Vương Trí Nhàn (2001),, Tìm nghĩa khái niệm hiện đại trong văn học sử Việt Nam,
Tạp chí văn học số 1, Hà Nội.
31. Vũ Ngọc Phan (1994), Nhà văn hiện đại, NXB Văn học
32. Phan Quang (2001), Về diện mạo báo chí Việt Nam: tiểu luận và chân dung, NXB
Chính trị Quốc gia.
33. Lê Văn Siêu (2006), Văn học sử Việt Nam, NXB Văn học.
34. Thiếu Sơn (1933), Phê bình và cảo luận, NXB Nam Bộ.
35. Bùi Đức Tịnh (2002), Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ
mới, NXB TP.Hồ Chí Minh.
36. Huỳnh Văn Tòng (1962), Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945, NXB
Trí Đăng, Saigon.
37. Nguyễn Thành (cb) (1997), Tổng tập văn học Việt Nam (văn báo chí Việt Nam
1900 - 1945), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
38. Chương Thân (1982), Đông Kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế
kỷ XX, NXB Hà Nội.
39. Nguyễn Thành Thi, Lược đồ văn học quốc ngữ Việt Nam nhìn từ quá trình hình
thành và tương tác thể loại, Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
40. Nguyễn Ngọc Thiện (cb) (1997), Tuyển tập nghiên cứu phê bình, nghiên cứu văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status