đóng góp của văn học quốc ngữ ở nam bộ cuối thế kỷ xix và đầu thế kỷ xx vào tiến trình hiện đại hóa văn học việt nam - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ NGỌC THÚY

ĐÓNG GÓP CỦA VĂN HỌC QUỐC NGỮ Ở NAM
BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀO TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC
VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỔ HỒ CHÍ MINH – 2001



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Lê Ngọc Thuý

3


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 3
MỤC LỤC .................................................................................................................... 4

3.3. Những vùng đề tài phổ biến. Nhận xét về đề tài trong tiểu thuyết và truyện ngắn
ở Nam bộ .........................................................................................................................131
3.3.1. Những vùng đề tài phổ biến. .............................................................................131
3.3.2 Vài nhận xét về những vùng đề tài của tiểu thuyết Nam bộ đầu thế kỷ .............138
3.4. Sự hình thành nhân vật tiểu thuyết. Quan niệm nghệ thuật về con người. ......147
4


3.4.1. Vài vấn đề về nhân vật văn học - Nhân vật tiểu thuyết .....................................147
3.4.2. Thơ vè thời sự, về nhân vật và sự hình thành cảm hứng về nhân vật tiểu thuyết.
.....................................................................................................................................149
3.4.3. Một số nét cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuvết. Quan niệm
nghệ thuật về con người. .............................................................................................153
3.5. Sự phát triển của ngôn ngữ văn chương. Từ văn xuôi quốc ngữ đến văn xuôi
tiểu thuyết .......................................................................................................................170
3.5.1 Câu văn quốc ngữ giữa thế kỷ XIX ....................................................................171
3.5.2. Câu văn quốc ngữ trong ba thập kỷ đầu thế kỷ XX. .........................................176
3.5.3 Vài ghi nhận chung .............................................................................................184

PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................................. 191
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 198
PHẦN PHỤ LỤC ..................................................................................................... 210

5


PHẦN DẪN NHẬP

1. Ý nghĩa cấp thiết của đề tài
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam bước đầu hiện đại hóa theo xu

chứng tỏ bản lĩnh của mình khi đã phát huy và thành công ngay ở cái khía cạnh ban đầu vẫn
bị coi là “điểm yếu”.
Điều này gợi nhớ đến trường hợp của văn học Mỹ, một nền văn học vùng đất mới
được phối hợp từ nhiều nguồn văn học, từng bị đánh giá thấp bằng khái niệm “nồi hầm
nhừ”, cuối cùng cũng đã tìm được chỗ đứng đáng kể vói tên tuổi của một số nhà văn và tác
phẩm thể hiện được đẩy đủ bản sắc riêng về mọi mặt, đã có những đóng góp đáng kể cho thi
pháp tiểu thuyết hiện đại như kết cấu, ngôn ngữ văn chương... Bernard Shaw đã phải công
nhận: “Sau cùng nước Mỹ đã sản xuất được một nền văn nghệ riêng, chứ không còn làm
người Châu Âu buồn ngủ bởi những tác phẩm họ bắt chước của người Âu, nhưng không lột
được những điều tốt đẹp” [173, 442].
Người lưu dân miền Nam thì có khác. Càng xa quê hương, mang thân phận thuộc địa,
họ càng nâng niu truyền thống, càng tích cực chống lại sự đồng hoá về văn hóa của ngoại
bang. Với phương thức của riêng mình, họ đã làm nên một truyền thống mới trên cái tinh
hoa của truyền thống cũ.
Khuynh hướng chung của thế giới hiện nay là xoá bỏ các định kiến về văn học khu
vực và tiến đến sự công nhận các giá trị riêng, bản sắc riêng của văn học các dân tộc. Văn
học Việt Nam cũng theo những tiến trình tương tự. Tính chất khu vực chỉ là một hiện tượng
nhất thời, không thể kéo dài vì nó đi ngược lại với ý chí thống nhất về phương diện phát
triển văn hóa, văn học toàn dân tộc trên cơ sở tổng hợp đầy đủ sắc thái chung riêng của mọi
miền đất nước. Dân tộc Việt Nam chỉ có một nền văn học duy nhất, và văn học quốc ngữ ở
Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một bộ phận trong đó. Dù cho đến bây giờ, vẫn
chưa có các giáo khoa, giáo trình giảng dạy văn học chính thức trong nhà trường phổ thông
và kể cả đại học giới thiệu một cách đầy đủ các tác phẩm dịch thuật, biên khảo, chính luận,
sáng tác xuất hiện trong văn học quốc ngữ miền Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu XX
như là một trong các bộ phận chính thức của nền văn học dân tộc trong giai đoạn đầu hiện
đại hoá, nhưng những nỗ lực phấn đấu sao cho nó được chính thức hội nhập vào dòng lịch
sử văn học Việt Nam, mà “không cần cường điệu, tô điểm hoặc chiếu cố trong việc đánh
giá, gạn lọc”, vẫn là điều cần làm. Hơn nữa, việc nghiên cứu văn học sử không phải là một

7

thì theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, chủ yếu chỉ là nhóm Đông Dương tạp chí và Nam
phong tạp chí ở ngoài Bắc, vì “Đại Việt tân báo và Nông cổ mín đàm lại là những báo chí
không có tính cách văn học chỉ đăng rặt những tin vặt, những thông báo của chính phủ,
8


những bài diễn văn của người đương thời, hay nếu có đăng thơ văn thì cũng chỉ là thơ văn
của độc giả, nhà báo đăng một cách khuyến khích, chớ chưa đáng kể là thơ văn. Còn nếu có
truyền bá học thuật tư tưởng phương tây, thì truyền bá một cách thấp kém...” [125, 29]. Vũ
Ngọc Phan đã kết luận rằng “quốc văn bắt đầu thịnh, bắt đầu có cái giọng hoa mỹ, dồi dào,
và chú trọng về tư tưởng, là công của các nhà biên tập hai tờ báo ở Bắc Hà: Đông Dương
tạp chí và Nam Phong Tạp chí” [125, 30].
Về phương diện phê bình văn chương quốc ngữ thời kỳ đầu, bên cạnh nhiều nhận định
hay (thí dụ như về Hoàng Ngọc Phách và Tố Tâm), Vũ Ngọc Phan cũng chưa kể đến những
tác giả tiên phong khác, từ đó ông để lại một ảnh hưởng lớn cho nhiều thế hệ các nhà nghiên
cứu về sau. Trong hơn ngàn trang của Nhà văn hiện đại, ông chỉ dành cho Trương Vĩnh Ký
8 trang, Hồ Biểu Chánh 9 trang, với chỉ vài nhận định sơ sài.
- Chủ bút báo Nam Phong là Phạm Quỳnh, trong bài Một tháng ở Nam Kỳ (Nam
Phong số 17/1919) đã nhận xét “sinh hoạt văn hóa ở Nam kỳ thì có nhiều hơn Bắc và Trung
kỳ về cái lượng, nhưng còn cái phẩm có xứng đáng với cái lượng không? Cho nên xét các
đồng bào ta ở Nam kỳ lục tỉnh hình như có ý trọng cái lượng hơn cái phẩm. Đó cũng là một
điều khuyết điểm của học giới, báo giới Nam kỳ vậy...”, về sách thì: “các sách quốc ngữ
xuất bản ở Sài gòn không biết bao nhiêu mà kể... nếu sưu tầm lại thì được cả một thư viện
nhỏ, những tiểu thuyết Tàu tự tám mươi đời, văn chương đã chẳng ra gì mà truyện thì toàn
là những truyện huyền hoặc quái đản của mấy bác cuồng nho bên Tàu thời xưa ngồi không
bịa đặt ra để khoái trá bọn hạ lưu vô học. Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy,
khả kính thay... Không trách các tư tuởng quốc dân chìm đắm trong sự mê hoặc không cùng,
có khi sinh ra việc xuẩn động hại đến cuộc trị an trong xã hội vì đó. Ấy là cái tệ các tiểu
thuyết cũ của Tàu. Đến cái tệ của phần nhiều các tiểu thuyết mới ngày nay thì lại càng thậm
hơn nữa, vì cách đặt để đủ làm cho bại hoại phong tục, điên đảo luân thường vậy...”

dân tộc trong giai đoạn đầu thế kỷ XX.
Năm 1969, quyển Khi những lưu dân trở lại của Nguyễn Văn Xuân ra mắt tại Sài Gòn,
trong đó đã nêu những luận điểm mới về văn học Nam bộ thời kỳ đầu:
“Tại sao nhắc đến tiểu thuyết phôi thai lại không để tâm nghiên cứu những tác giả
miền Nam khoảng đầu thế kỷ? Trần Chánh Chiếu, Lý Hoàng Mưu (thật ra là Lê Hoằng
Mưu), Tân Dân Tử... là những tác giả đã thành công lớn ở miền Nam khi chính ở miền Bắc
chưa ai biết tiểu thuyết là gì? Không thể nhìn bộ “Chăng cà mum” chẳng hạn bằng con mắt
của người thời nay mà không thấy đó là sự thành công đáng kể của văn học nước nhà, nhất
là về phía quần chúng? Cũng như tại sao nhắc đến Nguyễn Văn Vĩnh mà không nhắc đến
10


các dịch giả truyện Tàu đầu tiên, những người đã có công dẫn khởi cho văn nghệ miền Nam
trong buổi ban đầu?” [176, 11]
Đầu thập niên 70 ỏ Sài Gòn cũng đã xuất hiện một số công trình biên khảo đặt lại
nhiều vấn đề như câu văn bạch thoại của Hồ Biểu Chánh không phải là “nôm na mách qué,
xuôi tuột”, “hời hợi” mà nó thể hiện cho sự tiến hóa của quốc ngữ trong vùng đất mới.
Nhiều vấn đề về Hồ Biểu Chánh đã được xem xét, khẳng định lại. (Tạp chí Văn, 15-4-1967,
số đặc biệt về Hồ Biểu Chánh).
- Công trình của nhóm Trần Văn Giáp Lược truyện các tác gia Việt Nam tập II xuất
bản tại Hà Nội năm 1972 cũng đã nêu lên một nhận xét thận trọng về văn học quốc ngữ
Nam kỳ thời kỳ đầu thế kỷ, đã chú ý đến các tác phẩm đã xuất hiện ở Nam kỳ trước đó của
các tác giả như Lê Hoàng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh...
- Trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, ở một mức độ nhất định, nhà nghiên cứu Phan
Cự Đệ cũng đã có nhắc đến, Tiền bạc bạc tiền của Hồ Biểu Chánh...
Sau khi đất nước thống nhất, nhiều công trình nghiên cứu về văn học Nam bộ cuối thế
kỷ XIX đầu XX đã có những tìm kiếm công phu và đã phân tích, đánh giá văn học quốc ngữ
Nam bộ bằng những luận điểm mới mẻ, tiến bộ, và tương đối thống nhất về mặt quan điểm.
Có thể kể một số như:
- Công trình Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1858-1930 của NXB Văn Học, Hà Nội đã đề

Bên cạnh đó, còn có những luận án thạc sĩ, tiến sĩ... đã và đang làm về mảng văn học
này như:
- Luận án tiến sĩ của Tôn Thất Dụng được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
I năm 1993 với đề tài Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt
ở Nam bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến 1932. Tác giả luận án nêu rõ mục đích “góp
phần đính chính những nhận định chưa thỏa đáng về thể loại tiểu thuyết văn xuôi ở nước ta
trong các công trình nghiên cứu trước đây” đồng thời “xác định vị trí và vai trò của tiểu
thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam bộ trong tiến tình hình thành thể loại tiểu thuyết ở nước
ta, xác định sự đóng góp của tiểu thuyết Nam bộ vào việc cách tân văn học Việt Nam giai
đoạn này” (trích tóm tắt).
Đây là một hiện tượng đáng phấn khởi trong quá trình đặt văn học Nam bộ cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX vào đúng vị trí và giá trị của nó trong sự phát triển của nền văn học toàn
dân tộc.

12


3. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Trong 3 vấn đề đã được đặt ra cho văn học quốc ngữ ở Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX (vấn đề sự hiện hữu của một nền văn học đúng nghĩa, xác định các bộ phận cơ
bản của nền văn học này, vai trò và giá trị của nó trong việc đóng góp vào quá trình hiện đại
hóa của văn học dân tộc trong giai đoạn đầu thế kỷ XX), vấn đề 1 tương đối đã được làm
sáng tỏ. Vì thế, luận án này nhằm vào 2 vấn đề sau, là xác định ý nghĩa, giá trị của các bộ
phận cơ bản như biên khảo, dịch thuật, văn học sân khấu... 1. Đặc biệt trọng tâm của luận án
là lĩnh vực sáng tác bao gồm văn chương chính luận, tiểu thuyết và truyện ngắn.

4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết yêu cầu của đề tài, bước đầu tiên là sưu tầm các tư liệu, văn bản về mảng
văn học này, gồm những tư liệu đã được công bố và chưa được công bố, sau đó xếp vào
từng loại thể riêng để nghiên cứu đặc điểm, giá trị và những đóng góp của từng thể loại và

miền Nam. Tuy nhiên cho đến nay cũng chưa có một công trình nào trình bày mảng văn học
này như một hệ thống mang tính chất văn học sử gồm các phần cấu tạo tương đối đầy đủ
bao gồm biên khảo, địch thuật, văn học sân khấu, văn chính luận, sáng tác tiểu thuyết và
truyện ngắn. Luận văn này trước hết hướng về ý nghĩa văn học sử để bước đầu có cái nhìn
toàn cảnh về một giai đoạn văn học với một số các thể loại cơ bản làm thành một hệ thống
đã có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình hiện đại hoá của văn học dân tộc. Ngoài ra,
không chỉ dùng lại ở góc độ văn học sử, luận văn cũng nêu ra ý nghĩa, giá trị đóng góp riêng
của từng phần về các phướng diện thể hiện đời sống văn hoá, tinh thần, nhận thức thẩm mỹ,
quan niệm nghệ thuật về con người và cuộc sống cũng như ý nghĩa của một số hiện tượng
đặc biệt về văn chương, văn tự, ngôn ngữ, nghệ thuật ở Nam bộ thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX.

14


CHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG - THẨM
MỸ, VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

1.1. Bổi cảnh lịch sử xã hội
Nền văn học quốc ngữ ở Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã được hình thành
ra trong thời kỳ miền Nam rơi vào vòng thuộc địa qua nhiều chặng đường xâm lăng của
thực dân Pháp. Tính từ khi đồn Kỳ Hoà thất thủ (1861), Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông
(1862) rồi thu tóm hết cả 6 tỉnh Nam kỳ 1 (1867), cho đến hoà ước Patenôtre 1884 thì Việt
Nam hoàn toàn mất hết độc lập chủ quyền. Từ đó đã dẫn đến nhiều biến chuyển quan trọng
trong xã hội Nam kỳ.
Thống đốc dân sự đầu tiên Le Myre de Villers đã thành lập Hội Đồng thành phố Sài
Gòn, Hội đồng quản hạt Nam kỳ với đại đa số là người Pháp. Việc cai trị được thực hiện
đồng loạt với việc khai thác. Hiện tượng lịch sử nổi bật của thời kỳ này là các cuộc nổi dậy
của nghĩa quân miền Nam dưới sự chỉ huy của các tướng lãnh không phục mệnh triều đình,
các quan lại, sĩ phu yêu nước như Hồ Huân Nghiệp ở Mỹ Tho, Trương Định ở Gò Công,

Trần và kiểm điểm lực lượng Cần Vương ở miền Nam còn sót lại, và cũng đã gặp các nhà
duy tân ở Nam kỳ thời đó như Đặng Thúc Liêng ở Sài Gòn, Nguyễn Thần Hiến ở Cần Thơ.
Phong trào Đông Du được mở đầu bằng chuyến đi Nhật của cụ Phan Bội Châu năm 1905.
Sau khi Ai cáo Nam kỳ phụ lão được phổ biến thì phong trào này đã phát triển rất mạnh mẽ.
Khoảng 1907-1908, trong con số du học sinh cả nước ước khoảng 200, thì Nam Kỳ đã
chiếm hết 100 [83, 253]. Nhiều phương tiện truyền thông đại chúng cổ vũ cho phong trào
này như các tờ báo Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn. Nhiều nhân sĩ trí thức, các nhà báo,
nhà văn đã tham gia phong trào như như Diệp Văn Cương, Trần Chánh Chiếu, Đặng Thúc
Liêng, Lương Khắc Ninh... Các phong trào trên đã thể hiện một bước trưởng thành trong ý
thức của nhân dân Nam kỳ về mối tương quan giữa dân tộc và thế giới trên con đường giải
phóng đất nước.
Sài Gòn và các trung tâm lớn của Nam kỳ từ từ được đô thị hoá, kéo theo sự xuất hiện
của tầng lớp tư sản và tầng lớp thợ thuyền, công nhân. Tầng lớp tư sản Nam kỳ thời kỳ này
chỉ mới là số ít, hiếm người Việt Nam làm giàu được ngay trên đất nước của mình trong
lãnh vực doanh thương, và còn rất vất vả trong cuộc cạnh tranh với các thế lực kinh tế của
Chà và, Tây, Tàu. Nền kinh tế khai thác thuộc địa của Pháp đã tỏ ra hoạt động có hiệu quả.
cảng Sài Gòn được mở năm 1860, và Giác công nghiệp liên quan đều được chú ý phát triển
như nghề đóng thuyền, vận tải đường sông, nhà máy xay lúa... Quá trình đô thị hoá diễn ra
nhanh chóng, nhất là ở những trung tâm quan trọng như Sài Gòn, Chợ Lớn. Nhưng tất cả
đều ở trong tay của Tây và Tàu. Người Việt Nam đã nhận thức ra rằng việc phát triển kinh tế
Nam kỳ, xây dựng nhà máy, cầu cống, đường xá, tất cả chỉ nhằm mục tiêu khai thác chứ
không phải vì “khai hóa”. Hệ quả tất yếu của chính sách thực dân về mặt chính trị và kinh tế
là đã gây ra một sự phân hóa sâu sắc trong các tầng lớp xã hội ở Nam kỳ. Ngoài số bồi bếp,
16


thông ngôn, lưu manh, thì trí thức nho học hoặc tây học chịu hợp tác như trường hợp Tôn
Thọ Tường nói chung là ít. Khi buộc phải hợp tác, hoặc phải chịu sự lãnh đạo của thực dân
để hoạt động công khai thi thường đó là những trường hợp phức tạp, có khi mang nhiều tính
bi kịch như trường hợp Trương Vĩnh Ký, hay trường hợp các nhà trí thức trong làng báo


khá đầy đủ những nét lớn của quá trình hiện đại hoá của văn học Việt Nam nói chung (sau
giai đoạn đặt nền móng ở miền Nam, sẽ đạt đến thắng lợi hoàn toàn trong thời gian tiếp theo
ở miền Bắc).
Mối quan hệ với văn học Hán Nôm trong nhiều thế kỷ qua, mà trực tiếp là văn học
Hán Nôm thế kỷ XIX với sự kế thừa các truyền thống yêu nước, nhân đạo, nhân văn, kế
thừa các thành tựu về thi pháp... là một cơ sở tinh thần đáng kể trong giai đoạn sơ khai của
văn học quốc ngữ Việt Nam nói chung và ở Nam kỳ nói riêng. Sau khi bị Pháp đặt nền đô
hộ, các nho sĩ của Bạch Mai thi xã đất Gia Định đã dùng văn học làm vũ khí trong phong
trào bút chiến chống tay sai thân Pháp, thể hiện âm vang của luồng cảm hứng yêu nước, anh
hùng đã được dấy lên trong văn học dân tộc từ nhiều thế kỷ trước. Cảm hứng này sau đó
còn hiện diện trong mảng văn chương chính luận mang âm hưởng của phong trào Duy Tân
và Đông du, với những tân thư Việt Nam (bằng chữ Hán như Văn minh tân học sách của
nhóm Đông kinh nghĩa thục ở miền Bắc), đặc biệt bằng quốc ngữ đã xuất hiện rất sớm và
rất phong phú trên báo chí miền Nam trong thập niên đầu thế kỷ. Ngoài ra, cũng thấy có sự
tiếp nhận cảm hứng nhân đạo, nhân văn truyền thống trong mảng văn chương sáng tác ở
miền Nam (truyện ngắn, tiểu thuyết).
Khi Nho học bước vào giai đoạn cuối mùa trong xã hội giao thời, nền tảng tư tưởng
tinh thần và phong cách của văn chương cũ được đổi thay cho phù hợp vói khúc quanh lịch
sử mới, trở thành xu hướng cách tân dần dần văn học truyền thống (Phan Bội Châu tượng
trưng cho tư tưởng yêu nước của nhà Nho trong giai đoạn mới, Tản Đà tiêu biểu cho xu
hướng của các nhà Nho tài tử). Xu hướng này sẽ chấm dứt ở cả hai mặt hình thức và nội
dung trong quá trình hiện đại hóa văn học ở miền Bắc sau năm 1932. Nhưng ở miền Nam,
do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nó vẫn còn những biểu hiện rất phức tạp. Xu hướng nhà Nho
tài tử không nhiều. Ngược lại, ảnh hưỏng Nguyễn Đình Chiểu còn tỏ ra rất sâu đậm trong
quá trình hiện đại hóa, từ đó có thể hiểu tại sao xu hướng đạo lý còn tồn tại khá lâu trong
tiểu thuyết và truyện ngắn, tiêu biểu nhất là trường hợp Hồ Biểu Chánh. Do hiện đại hóa
sớm nên văn học quốc ngữ Nam bộ một mặt còn gắn bó với phong cách văn chương cổ (văn
biền ngẫu, phong cách ngôn từ truyền thống); mặt khác lại có những cách tân bước đầu rất
đáng kể trong việc xây dựng một phong cách ngôn ngữ văn chương không theo con đường

nền văn học quốc ngữ của thời kỳ hiện đại.

1.3. Vai trò của chữ quốc ngữ
Sau nhiều thế kỷ vay mượn chữ Hán, người Việt Nam luôn hướng về khát vọng có một
thứ chữ riêng để làm phương tiện xây dựng nền văn học dân tộc. Vì thế, dù có muộn, nhưng
khái niệm “chữ ta” cũng đã xuất hiện chính thức kể từ Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm
19


thi tập. Sau đó, nhiều kiệt tác văn chương bằng “quốc ngữ Nôm” đã xuất hiện, đánh dấu
những thành tựu lớn của văn chương Trung đại Việt Nam.
Không giống như chữ Nôm, “quốc ngữ La tinh” được phát sinh từ con đường tôn giáo
từ bên ngoài vào. Buổi sơ khai nó chỉ là công cụ phục vụ cho việc truyền đạo của các giáo sĩ
tây phương đến Việt Nam khoảng đầu thế kỷ XVII, chia làm hai giai đoạn phát triển: 1620 1626 và 1631-1648 [31, 20- 39].
Giai đoạn 1: Dấu tích của quốc ngữ thời kỳ này đại đa số được tìm thấy trong các thư
từ viết tay mà các giáo sĩ dòng Jésuites gửi về La mã để báo cáo về tình hình truyền đạo.
Hiện nay còn tìm thấy khá nhiều loại thư từ này như: bảng tường trình hàng năm của linh
mục João Roiz gửi về cho La mã năm 1621, bản tường trình của linh mục Gaspar Luis
1621, tài liệu viết về xứ Đàng trong của linh mục Cristoforo Boni 1621. Một loạt các tài liệu
viết tay khác như: của giáo sĩ Alexandre de Rhodes năm 1625, của Gaspar Luis năm 1626,
của Antonio de Fontes năm 1626, của Francesco Buzomi năm 1626 [31, 24-38]
Chữ quốc ngữ lúc này chỉ xuất hiện dưới hình thức các địa danh, các thuật ngữ tôn
giáo mà các giáo sĩ dùng mẫu tự La tinh để phiên âm tiếng Việt, chen lẫn trong các thư từ,
tài liệu viết bằng tiếng Ý, tiếng Bồ, tiếng Pháp, chẳng hạn là địa danh như Digcham ( Dinh
Chàm); Quinhin (Qui Nhơn); là tên người, chức vụ như Ondedóc (ông Đề đốc), onghe
Chiêu (Ông Nghè Chiêu); hoặc các thuật ngữ tôn giáo như: nhít la khấu, khấu la nhít (nhất
là không, không là nhất), Xán tí (Thượng đế), Thienchu (Thiên chúa), Nguoc huan (Ngọc
Hoàng)...
Giai đoạn 2: Có những tài liệu của Đắc Lộ viết từ 1631-1647 ghi chép về tinh hình
truyền giáo ở Đàng Ngoài, cùng nhiều tư liệu của các giáo sĩ khác. Đặc biệt tài liệu của

Về mặt hành chánh, sau khi chiếm được Nam kỳ, Pháp đã liên tiếp đưa ra một loạt các
thông tư, nghị định như nghị định 22-2-1869 về việc chỉ được phép dùng chữ có mẫu tự La
tinh trong công văn giấy tờ; nghị định 6-4-1878 công bố việc cưỡng bách sử dụng chữ quốc
ngữ trong giấy tờ hành chánh, tuyển dụng công chức; nghị định 23-7-1879 “thiết lập tiền
thưởng cho các công chức, nhân viên chứng minh được là mình biết tiếng Annam” (quốc
ngữ); thông tư 28-10-1879 về việc bãi bỏ chữ Nho và dùng mẫu tự Latinh trong thư từ chính
thức; các nghị định 17-3-1879, 14-6-1880 qui định nền học chánh mới dựa trên chữ Pháp và
quốc ngữ làm cơ sở [172, 15-17].
Về học chánh, có một loạt những nghị định của Pháp đưa ra nhằm xây dựng mệt nền
giáo dục ở thuộc địa như nghị định 17-3-1879 về qui chế tổ chức các trường công, trường
tư, kể cả các trường làng dạy chữ Nho, những ưu tiên cho học sinh cũng như người thầy biết

21


quốc ngữ; nghị định 14-6-1880 về việc thiết lập các trường làng, trường tổng, việc thưởng
tiền cho các giáo viên dạy được quốc ngữ...
Khác với lĩnh vực hành chánh, việc cưỡng bức sử dụng chữ quốc ngữ trong giáo dục
có phức tạp hơn vì gặp phải nhiều phản ứng của người dân khi họ thấy ý đồ dùng chữ quốc
ngữ để tiến hành việc xoá bỏ nền tảng văn hóa văn học cổ truyền dựa trên Nho học, cắt đứt
người Việt Nam với truyền thống cũ. Nền học vấn bằng chữ quốc ngữ song hành với chữ
Pháp lúc đó một mặt không đáp ứng được những nhu cầu đức dục mà nền học vấn cũ còn
đang có sức hút rất mạnh, mặt khác, nó cũng chưa đáp ứng nổi nhu cầu về trí dục. Nó chưa
được là một nền giáo dục xuất phát từ dân tộc, được dân tộc chấp nhận nên chưa được
người Việt Nam ủng hộ [172, 35-47]. Việc cưỡng bức học chương trình mới bị người đương
thời coi là một gánh nặng nên đã có trường hợp con nhà giàu bỏ tiền “thuê” con nhà nghèo
đi học và đi Tây thay thế mình. Nhiều trí thức Việt Nam xuất thân từ các gia đình có nền
tảng học thức đều bắt đầu bằng con đường Nho học (Trương Vĩnh Ký đã học chữ Nho đầu
tiền, 12 tuổi mới theo đạo Thiên Chúa và được đào tạo Tây học. Các tên tuổi như Trần
Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương, Đặng Thúc Liêng... chỉ chuyển sang

sự phát triển rực rỡ của văn học quốc ngữ trong phạm vi toàn quốc ở các giai đoạn tiếp theo.

1.4. Phiên âm quốc ngữ, biên khảo văn học, ngữ học, dịch thuật
1.4.1. Phiên âm các truyện Nôm, phổ biến nhất là các truyện thơ có tác giả hoặc
khuyết danh ra quốc ngữ là một phong trào được rộ lên bắt đầu từ ngay sau khi Pháp chiếm
Nam kỳ, thi hành chính sách thực dân về văn hóa (giai đoạn 1) cho đến thập kỷ 20, 30 ở
miền Nam (giai đoạn 2). Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (ấn bản 1999) đã có một
thư mục phong phú về hoạt động này. Quan sát thư mục có thể rút ra một số nhận định như
sau:
- Trong phạm vi ba thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX và mấy năm đầu của thế kỷ XX,
Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phan Đức Hòa là những tên tuổi tiên
phong. Có thể kể đến các tác phẩm phiên Nôm ra quốc ngữ sớm nhất trong phạm vi cả nước
của Trương Vĩnh Ký như Kim Vân Kiều truyện (1875), Lục súc tranh công (1884), Lục Vân
Tiên truyện, Phan Trần truyện (1889); của Phan Đức Hoà với Nhị độ mai 1884; Nguyễn
Hữu Thoại với Văn Doãn diễn ca (1896); Lương Khắc Ninh với Sãi vãi (1901); Huỳnh Tịnh
của với Quan Âm diễn ca (1903) và Trần Sanh diễn ca (1905), Chinh phụ ngâm, Bạch Viên
Tôn Các, Thoại Khanh Châu Tuân, Chiêu Quân cống Hồ (1906). Việc phiên Nôm và xuất
bản các truyện Nôm dưới hình thức quốc ngữ còn kéo dài cho đến sang hai thập niên đầu
của thế kỷ XX. Việc này tuy lúc đầu đã được thực dân Pháp coi như là một trong những
phương án “bình định” Nam kỳ một cách mềm dẻo về mặt văn hóa tinh thần. Nhưng trong
quá trình diễn tiến của nó, người Việt Nam đã không coi nó là một phong trào nhất thời. Nó
23


đã kéo đài trong nhiều năm, tồn tại song song với nền biên khảo văn học, ngữ học, dịch
thuật và sáng tác bằng chữ quốc ngữ.
Sang những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, hình thức nghe thơ, nói thơ (quần chúng
không biết chữ hay thưởng ngoạn văn chương bằng nghe, nhìn) đã dần nhường bước cho
hình thức đọc khi chữ quốc ngữ đã trở thành phổ biến. Việc phiên Nôm đã đáp ứng được
một nhu cầu lớn của thời đại. Nó đã đem lại một sức sống mới và một hình thức tồn tại mới

Theo “Un savant et un patriote Cochinchinois: Petrus Trương Vĩnh Ký”, trang 48. Sài Gòn 3èm

edition, Nguyễn Văn Của, 1927.

24


trên Gia Định báo, Tiểu học gia ngôn diễn nghĩa 1889, Trị Gia cách ngôn 1895, Ca từ diễn
nghĩa (Kho tàng thơ ca Trung Hoa) 1896... Cũng như việc phiên Nôm, dịch Hán cũng được
kéo dài cho đến cả hai thập niên đầu của thế kỷ XX với rất nhiều dịch giả khác.
Phần dịch truyện Tàu phức tạp hơn, rất nhiều dịch giả với nhiều truyện, tuồng tích
thuộc, cả hai dòng bình dân và bác học như Tam quốc, Thủy Hử, Đông Chu liệt quốc...(bản
dịch Tam quốc chí đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện ở miền Nam, đăng trên Nông Cổ Mín đàm
năm 1901), các tuồng có “tích” trong Tam quốc, Thủy Hử. Đặc biệt có bản dịch tuồng San
Hậu (tuồng Việt Nam, có 8 bản dịch của 8 tác giả).
- Dịch Pháp văn ra quốc ngữ với các bản dịch xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam như
Truyện Phan sa dịch ra quốc ngữ 1884, trong đó dịch 16 ngụ ngôn của La Fontaine; Tê lê
mặc phiêu lưu ký 1887 của Fénelon khởi đăng trên Gia Định báo từ năm 1885; Truyện nhi
đồng Francinet cũng đăng trên Gia Định báo từ 1885, Phú bằn truyện diễn ca 1896,
Robinson trên hoang đảo 1886 (tác phẩm của Daniel Defoe, Anh, có lẽ được dịch từ bản
tiếng Pháp) của Trương Minh Ký. Việc dịch thuật này được tiếp nỗi với nhiều tên tuổi của
thế kỷ sau như Trần Chánh Chiếu với Tiền căn báo hậu (Le Comte de Monte Cristo) 1907;
Ba chàng ngự lâm (Les Trois Mousquetaires) 1914; Đỗ Quang Đẩu với 30 tác phẩm dịch
của La fontaine, Nguyễn Ngọc Ẩn dịch thơ Pháp đăng trong các báo. Đặc biệt là Nghìn lẻ
mội đêm cũng đã được du nhập rất sớm vào miền Nam. Trên đây chỉ nêu các tác phẩm dịch
có ý nghĩa mở đầu về niên biểu mà thôi, nếu liệt kê ra đầy đủ thì còn rất nhiều...
Các luồng ảnh hưởng Đông Tây trong dịch thuật
Ảnh hưởng Trung Hoa: Suốt nhiều thế kỷ, các tài năng lớn của văn học Việt Nam
thường dấu đi khía canh sáng tạo của mình, thường chỉ nhận là “cảo thơm lần giở trước
đèn” hay “trước đèn xem truyện Tây Minh”. Trong lĩnh vực sáng tác, nền văn học trung đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status