Ảnh hưởng của phương Tây và
truyền thống dân tộc trong tiến trình
hiện đại hoá văn học dân tộc (So sánh
một số hiện tượng tiểu thuyết Việt
Nam và Triều Tiên)
Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX cũng đánh dấu những sự chuyển mình của văn
chương Triều Tiên. Cuộc hội nhập sau thời gian “bế quan toả cảng” của Triều Tiên làm nổi lên
mối quan tâm đến văn hoá, văn chương của thế giới phương Tây, việc dịch thuật những tác
phẩm của văn chương châu Âu đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự ra đời một
nền văn chương Triều Tiên mới. Những cuốn tiểu thuyết châu Âu đầu tiên được dịch ở Triều
Tiên là Con đường hành hương (The Pilgrim's Progress) của nhà văn Thiên Chúa giáo người
Anh John Bunyan và tác phẩm phiêu lưu viễn tưởng Năm trăm triệu của bà hoàng Ấn Độ (Les
cinq cents millions de la Bégum) của Jules Verne. Sau đó, người Triều Tiên lần lượt biết đến
Shakespeare, Milton, Swift, Cervantes, Byron, Hugo, Balzac, Dostoevsky, Tolstoy,… Mối
quan tâm đến văn chương phương Tây bắt nguồn từ nhu cầu muốn tạo ra một nền văn chương
dân tộc đổi mới về chất “tân văn học” (“sinmunhak”): thơ mới, kịch mới, tiểu thuyết mới,…
Trong giai đoạn quá độ từ “cũ” sang “mới”, kinh nghiệm của nước ngoài, nhất là của Nhật Bản
và phương Tây được tiếp thu chủ yếu dưới hình thức dịch thuật, mô phỏng. Chẳng hạn Ku
Yon-hak có truyện Hoa mận nở trên tuyết (1908) mô phỏng tác phẩm cùng tên của nhà văn
Nhật Bản Suehiro Tettcho. Cho Il-chae có Giấc mơ về nỗi sầu vĩnh cửu (bản dịch tiếng Anh
là Dream of everlasting sorrow) (1913-1915) và Kim U-jin có Hoa lựu trong mưa (1912)
phóng tác từ Con quỷ vàng (Konjiki yasha) của Ozaki Koyo và Con chim cúc
cu (Hototogisu) của Tokutomi Roka, Yi Sanghyop có Thần biển (1915) mô phỏng Bá tước
Monte Cristo của A. Dumas,…
Người có công mở đầu cho nền tiểu thuyết mới (sin sosol) của Triều Tiên là Yi
Kwang-su (1892 – 1950?)– một người từng du học ở Nhật Bản và tại đây đã bị cuốn hút bởi
văn chương châu Âu. Ông đặc biệt yêu thích Tolstoy, thời trẻ từng khao khát trở thành một
hành với số phận của dân tộc Triều Tiên.
Trong các tiểu thuyết hiện đại của các nhà văn Triều Tiên đầu thế kỷ XX, một đề tài
tiêu biểu là những chuyến du hành thực thể và tinh thần. Chẳng hạn ở “Vô hồn” của Yi
Kwang-su, các nhân vật đều trải qua những hành trình để tự giải phóng mình khỏi những
quan niệm, những cách suy nghĩ cũ đã trở thành lỗi thời. Ông còn có truyện Từ Tokyo đến
Seoul được viết dưới hình thức những bức thư viết cho bạn của một thanh niên đang trên
đường từ Tokyo trở về quê hương, miêu tả bức tranh thiên nhiên của Nhật Bản và Triều Tiên
nơi con tàu đi qua: những tương phản giữa thiên nhiên hai xứ sở còn là phúng dụ cho hai thế
giới mới và cũ, hành trình trên chuyến tàu còn là hành trình khát khao đến được những sáng
tạo mới mà thiên nhiên là nguồn cảm hứng. Còn trong một truyện khác, nhân vật là chàng
thanh niên cô độc mong ước trở thành nhà văn. Một ngày anh vừa ốm dậy, nằm trên giường
một mình, cảm thấy băn khoăn không phải bởi cơn bệnh về thể chất, mà vì cứ bị ám ảnh bởi
một “bầu trời lạnh lẽo đầy mây xám lén ngó xuống”, dầu cho anh có trùm kín chăn, kéo rèm
cửa sổ che đi vẫn không thoát được, nó khiến anh cảm thấy lạnh lẽo, muốn viết về nỗi cô đơn
và cái chết. Truyện mang tên Phiêu lãng (bản tiếng Anh là Wandering) – một hành trình
phiêu lưu tinh thần – dẫu không gian thực thể chỉ là chiếc giường của người ốm.
Nhân vật trong truyện Theo sau chiếc thuyền (1920) của Kim Dong-in là kẻ phiêu lãng
về tinh thần, kể lại câu chuyện quá khứ của mình qua bài ca Paettaragi – một bài ca về niềm
u sầu và sự phiêu lãng.
Yom Sang-sop cũng là nhà văn quan tâm khám phá hành trình tinh thần của con người
thời đại thông qua du hành. Tác phẩm Trước cuộc tung hô (1924, nhan đề đầu tiên là Nghĩa
địa nhưng bị kiểm duyệt phải thay đổi) kể về một chàng sinh viên du học ở Tokyo, nhận
được điện báo vợ ốm nặng sắp chết và lên đường về lại Triều Tiên. Đó là hành trình trở lại
với hiện thực, với quá khứ mà chàng từ lâu đã rời bỏ. Đó cũng là hành trình khai tâm, giúp
chàng nhận ra hiện thực đen tối của Triều Tiên và vết thương tinh thần trong bản thân chàng
– một trí thức trong xã hội thuộc địa.
Park Tae-won (1909-1960) có truyện Một ngày của tiểu thuyết gia Ku Po (1938), mà
như chính nhà văn gọi là “tiểu thuyết về thế giới nội tâm”, mô tả một nhà văn vốn tốt nghiệp
ở Nhật Bản về nhưng không có công ăn việc làm, không lấy vợ mà sống với bà mẹ goá.
Thời gian của anh là dành cho việc lang thang khắp các rạp hát, quán càphê, quán rượu, bến
nhỏ. Sự tan rã của gia đình họ Hwa tương ứng với sự tan rã của trật tự xã hội: những quan lại
vô lương nắm quyền lực, đàn áp những người trung tín. Các nhân vật phản diện trong gia
đình cuối cùng hợp nhất với những kẻ quan lại đó để gây ra cái ác. Sự hài hoà, trật tự trong xã
hội cũng gắn với sự hài hoà, trật tự trong gia đình: người con thứ của họ Hwa bị vu khống, bị
xua đuổi, lưu đày được phục hồi danh dự khi chính quyền vào tay những quan lại công chính,
chàng lập nên công trạng, chiến thắng trở về, tha thứ cho người mẹ cả và con trai bà ta, và trật
tự gia đình được tái lập. Trong tác phẩm, dù có sự tham gia của yếu tố thần kỳ (cuộc tiếp xúc
và trò chuyện với vị tiên ông của nhân vật Chin đã làm thay đổi số phận chàng), nhưng thực
sự cái làm nên sự thay đổi trong số phận con người và xã hội chính là ở con người hiện thực.
Những “tiểu thuyết mộng du” là một cách thức phản ánh con người kiểu khác. Mối
quan tâm đến gia đình và vai trò của nó vẫn có thể thấy rõ ở đây: nhân vật Yan Soyu
trong Cửu vân mộng, hay Yan Changhoc trong Ngọc lâu mộng đều thực hiện những chuyến
hành trình khắp xứ sở để tìm và kết hôn với những người vợ mà số phận đã lựa chọn cho họ.
Diễn biến cốt truyện cũng gắn với những mối xung đột giữa các bà vợ. Tuy nhiên, hành trình
trong các tiểu thuyết mộng du còn là hành trình tinh thần (ý nghĩa chính của các tác phẩm).
Tình yêu, gia đình, danh vọng,… tất cả đều là giấc mộng trần thế, các nhân vật hoá ra đều là
những vị tu hành, hay các tiên trên trời. Thế nhưng, bước vào thế giới mộng, các thần tiên đó
rời khỏi chính đạo để thả mình theo dục vọng. Họ khát khao danh vọng, mong thành công
trong tình yêu, đạt được địa vị cao trong xã hội và cùng với nó là sự giàu sang phú quý.
Như vậy, “du hành thực thể” hay “du hành tinh thần” trong tiểu thuyết Triều Tiên hiện
đại thực ra có nguồn gốc từ tiểu thuyết cổ điển, dĩ nhiên không phủ nhận vai trò ảnh hưởng
của các tiểu thuyết phiêu lưu phương Tây, cũng như bản thân kinh nghiệm sống của các nhà
văn (nhiều người trong số họ du học ở nước ngoài, đi nhiều nơi trong và ngoài Triều Tiên).
Để tiểu thuyết có thể trở thành thể loại phát triển mạnh mẽ, phổ biến rộng rãi và được
công chúng ưa thích vào thế kỷ XX, trong sự phát triển của nó có sự góp công của một hình
thức diễn xướng sân khấu trong quá khứ là pansori – đó là những câu chuyện được những
nghệ sĩ chuyên nghiệp kể lại, có kèm hát múa, đàn trống. Vai trò của pansori đối với tiểu
thuyết truyền thống Triều Tiên cũng có nhiều điểm giống như chèo đối với truyện Nôm ở
Việt Nam: kết nối văn chương dân gian với văn chương sách vở, bác học, và tạo ra những
“tiểu thuyết pansori” mang nội dung và hình thức tự sự rất gần với tiểu thuyết hiện đại
chuẩn bị cho tiến trình hiện đại hoá tiểu thuyết nói riêng, và văn chương nói chung ở
Việt Nam và Triều Tiên diễn ra từ trước khi có cuộc hội nhập với phương Tây. Đó là điều
kiện dân tộc nội tại, để khi có những kích thích tố từ bên ngoài (mang tính văn chương lẫn
ngoại văn chương), tiến trình đó mới thực sự diễn ra. Hiện đại hoá không phải là sự cắt đứt,
ngắt quãng với truyền thống, mà là một sự tiếp nối liên tục