Truyện ngắn R. Tagore trên
hành trình hiện đại hóa văn
xuôi Ấn Độ thế kỉ XX
Tagore đến với thể loại truyện ngắn vào thập niên chín mươi của thế
kỷ XIX, khi ông đã xác lập được một vị thế rõ ràng của mình trên văn đàn
Ấn Độ trong tư cách một nhà thơ. Đây có thể xem là một bước ngoặt không
chỉ đối với hành trình sáng tạo của R. Tagore mà cả với nền văn học Ấn Độ
hiện đại. Cũng như nhiều nước ở phương Đông, Ấn Độ không có truyền
thống văn xuôi. Lịch sử văn học, về cơ bản là lịch sử thơ ca. Thơ trữ tình,
và một chừng mực nào đó là kịch thơ, luôn giữ vị trí hàng đầu trong đời
sống văn học. Điều này đã được lý giải theo nhiều hướng khác nhau, trong
đó đặc trưng tư duy, quan niệm thẩm mỹ, tính đặc thù của ngôn ngữ đã
được nói đến như những lý do căn bản. Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XIX,
đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng văn học ở Bengal do B. Bankim Chandra
khởi xướng, tình hình ít nhiều đã thay đổi. Cùng với những truyện ngắn,
tiểu thuyết phương Tây được dịch giới thiệu, các nhà văn và công chúng
Ấn Độ đã bước đầu làm quen với những thể loại mới, mặc dầu sự khởi đầu
của nó là hết sức chậm chạp và gặp không ít khó khăn. Tác giả và công
chúng của các thể loại văn học mới mẻ này đều thuộc tầng lớp trí thức Tây
học. Nhiều người trong số họ đã có thời gian dài sống, học tập ở nước Anh.
Bởi thế, ngay từ khi mới xuất hiện, văn xuôi viết bằng tiếng Anh đã gặp phải
sự phản đối mạnh mẽ của những người theo chủ nghĩa dân tộc và thái độ
hờ hững của số đông công chúng. Đó vừa là sự dị ứng cái mới trong tâm lý
tiếp nhận vừa là thái độ kỳ thị đối với tiếng Anh, một ngôn ngữ ngoại lai,
không có một nền tảng tôn giáo như các ngôn ngữ bản địa. Đặt vào hoàn
cảnh đó mới thấy hết vai trò, vị trí của R. Tagore đối với nền văn xuôi Ấn
Độ.
Năm 1891, lần đầu tiên R. Tagore xuất hiện với tư cách là một nhà
văn viết truyện ngắn, với hai tác phẩm Ông chủ bưu điện và Sự trở lại của
Khobababur
(1)
, tiếng Hindu hoàn toàn không mất đi vẻ đẹp, sức hấp dẫn riêng
của thể loại. Nhiều nhà nghiên cứu ở Ấn Độ như Sakumar Sen, Bhudev
Chaudhuri đều thống nhất khi cho rằng, R. Tagore là nhà văn đầu tiên viết
truyện ngắn bằng tiếng Bengali, và là người xác lập một vị trí rõ ràng cho
văn xuôi viết bằng tiếng bản địa trong quá trình hiện đại hoá văn học Ấn Độ.
Sau hai truyện ngắn đầu tay, R.Tagore liên tiếp cho ra đời hàng loạt
truyện ngắn viết về nhiều đề tài khác nhau, mà tiêu biểu là các tác phẩm
như: Một đêm (1892), Biên tập viên (1893),Đền tội (1894), Mây và mặt
trời (1894), Kẻ gây rắc rối (1895) Chúng tôi tôn anh làm vua (1898) Hầu
hết những tác phẩm này đều được R. Tagore viết khi ông về sống ở
Shilaidaha, một vùng quê yên tĩnh ở miền đông Bengal. Sống gần gũi
những người nông dân, tận mắt chứng kiến cuộc sống đói nghèo tăm tối
của họ, ông đã nhận ra một sự thật phũ phàng, đó là tình trạng bất bình
đẳng sâu sắc của xã hội Ấn Độ. Khoảng cách giữa người giàu và kẻ nghèo,
sự đối lập giữa nông thôn và thành thị ngày càng trở nên sâu sắc hơn dưới
sự thống trị của người Anh. Và cùng với nó là thái độ thờ ơ, vô cảm của
phần đông những kẻ có học vấn trong tầng lớp địa chủ Tây học. Điều này
đã có một tác động rất lớn đến tư tưởng tình cảm và những xúc cảm nghệ
thuật mạnh mẽ của R.Tagore. Phần lớn các truyện ngắn của ông đều viết
về cuộc sống tăm tối và số phận bất hạnh của những người nông dân khuất
lấp sau bóng thị thành. Đây là điều chưa hề được biết đến trong văn học Ấn
Độ trước đó, mà nguyên nhân của nó là sự thiếu hiểu biết về nông thôn, lối
sống vụ lợi và thái độ dửng dưng vô cảm của giới nhà văn quý tộc. Theo
cách nói của R. Tagore, họ “chỉ tìm kiếm sự thoả mãn cá nhân của mình
ngoài những gì làng quê có”
(5)
.
Là một nhà văn xuất thân trong một gia đình đại quý tộc nhưng R.
Tagore không hề xa lánh cuộc sống, số phận của những người dân quê.
Ông đã nhìn cuộc sống của họ không phải xuất phát từ sự hiếu kỳ mà bằng
những viên chức nhà nước, hay những sinh viên thụ hưởng lối sống thực
dụng từ nhà trường thực dân… Nhưng có lẽ nhiều nhất là những người phụ
nữ, những đứa trẻ lang thang. Đọc những truyện ngắn của ông như Đá
đói, Bộ xương, Dàn hoả thiêu, Quan chánh án, Bác hàng rong Kabun, Kẻ
lang thang… ta bắt gặp ở đó những mảnh đời đen trắng với bao trắc trở éo
le. Hiện thực tăm tối ngột ngạt của xã hội Bengal đã được R. Tagore soi
chiếu dưới nhiều góc độ, hiện hình lên qua từng số phận. Đó là
Anathbandhu (Đền tội – 1894), một kẻ xuất thân trong gia đình nghèo khó ở
một vùng nông thôn hẻo lánh, nhưng nhiều tham vọng, để cuối cùng phải
đối mặt với một sự thật phũ phàng là mất đi tình yêu, hạnh phúc, cuộc sống
gia đình, sự kính trọng của mọi người - tất cả những gì thiêng liêng nhất
của một con người; đó là số phận của Bindu, Mrinal (Lá thư của một người
vợ – 1914), những người phụ nữ khát khao hạnh phúc nhưng cuối cùng
một người phải kết thúc cuộc đời bằng cái chết oan nghiệt và người kia
chôn vùi tuổi thanh xuân trong một cuộc sống mỏi mòn vô cảm. Trong văn
học Bengal, R. Tagore là người đầu tiên đi vào đề tài “con người nhỏ bé” và
đưa nó thành một vấn đề trung tâm của văn học. Mặc dù phải chịu sự đơn
độc, bất hạnh, nhưng những con người nhỏ bé trong tác phẩm của ông
không chỉ cam chịu mà đã bắt đầu có ý thức phản kháng, báo hiệu sự thức
tỉnh của ý thức cá nhân trong cuộc đấu tranh vì quyền sống của con người.
Mặc dầu mức độ của nó, theo cách nói của ông, chỉ mới như “những con
kiến tỏ ra bạo dạn”
(6)
. Trong bức tranh xám xịt của cuộc sống đã xuất hiện
những tia sáng mong manh, có khi chỉ là trong giấc mơ, hay trong một viễn
cảnh mang tính huyễn tưởng. Điều này cho thấy một sự kết hợp hài hoà
giữa hai cảm hứng hiện thực và lãng mạn trong sáng tạo của R. Tagore.
Quả là khó tách biệt một cách rạch ròi, nhưng ở một mức độ nào đó có thể
thấy, càng về sau, cảm hứng hiện thực càng có xu hướng nổi trội hơn trong
truyện ngắn R. Tagore, nhất là ở những tác phẩm viết về số phận những
rượi của bầu trời” để “hít đầy lồng ngực ngọn gió ngọt ngào mùi cỏ mới cắt
và hoa lá” với cảm giác viên mãn của một con người được giải thoát. Sự
đốn ngộ của Mutunjay là biểu hiện sự chiến thắng của bản tính thiện khuất
lấp trong mỗi con người, là sức đề kháng mạnh mẽ của con người trước
cám dỗ của đời sống vật dục. Tác phẩm như một thanh âm trong trẻo giữa
cuộc sống xô bồ, vụ lợi, bon chen, mang đến cho người đọc một niềm tin
vào cái thiện.
Cũng sử dụng yếu tố huyền thoại nhưng ở truyện Đá đói, R. Tagore
lại khai thác triệt để tính chất huyền ảo để chuyển tải một thông điệp chứa
đựng một giá trị hiện thực, một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Đó là cuộc sống
tăm tối, nghiệt ngã của những người phụ nữ trong xã hội Bengal dưới ách
thống trị của thực dân Anh, giai cấp phong kiến Ấn Độ và sự trói buộc của
những tập tục lạc hậu. Xrijut X, nhân vật chính của tác phẩm, là một nhân
viên thu thuế bông. Trong giấc mơ, Xrijut X chứng kiến những câu chuyện
kỳ lạ diễn ra trong một lâu đài cổ, được xây dựng hơn 200 năm trước. Anh
bắt gặp các hồn ma trinh nữ, nghe thấy tiếng bước chân họ đi xuống các
bậc cầu thang, với “những hình dáng huyền bí sột soạt lướt qua, những
bước chân thoăn thoắt mà không thấy người, với tiếng cười vang lên khanh
khách mà không nghe thấy tiếng”. Vào một đêm, trong giấc ngủ chập chờn
mộng ảo, Xrijut X thấy mình đang lặng lẽ đi theo một người phụ nữ vô hình.
Nàng dẫn anh đi qua những căn phòng âm u, lạnh lẽo. Ở đó có một viên
quan da đen gớm ghiếc “mặc đồ gấm đen kim tuyến, đang duỗi chân ngủ
gật, trong lòng đặt một thanh kiếm tuốt trần”. Lại có đêm Xrijut X nghe thấy
tiếng ai đó khóc nức nở, ai oán, như hờn dỗi, trách móc vọng lên từ một
nấm mồ hoang lạnh. Tác phẩm được bao bọc bởi một không khí huyền
hoặc, nặng nề chẳng khác nào trong truyện kinh dị. Trở lại lâu đài cổ sau
một thời gian, trong giấc mơ Xrijut X lại bắt gặp hình ảnh người phụ nữ
đang nằm trong một tư thế chán chường tuyệt vọng. Mái tóc xoả dài, dòng
máu ứa trên trán, nàng cất tiếng cười khanh khách, và tự tay xé nát dải áo
lót của mình. Hình ảnh đó đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm trí Xrijut X. Nó
trong phân tích tâm lý nhân vật, miêu tả thiên nhiên. Trong tác phẩm của
ông, thiên nhiên luôn giữ một vai trò quan trọng. Nó không chỉ góp phần tạo
dựng không gian, điều tiết mạch truyện, trì hoãn cốt truyện, mà còn được
dùng như một thứ ngôn ngữ đặc biệt để chuyển tải những điều mà ngôn
ngữ con người dường như bất lực. Những dòng độc thoại nội tâm, những
trang miêu tả thiên nhiên, hay những khoảng lặng vô ngôn trong tác phẩm
R. Tagore đều có sức khơi gợi mạnh mẽ tâm hồn người đọc.
Tính chất duy lý của triết học phương Tây, khả năng trực giác và sự
mơ mộng của người Ấn Độ đã được kết hợp hài hoà trong tư duy nghệ
thuật R. Tagore. Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn R. Tagore, vì vậy,
luôn có sức ám gợi. Việc khai thác ý nghĩa của nó phụ thuộc nhiều vào văn
hoá thụ cảm của người tiếp nhận. Có thể nói, “tính chất mở” là một đặc
điểm nổi bật của truyện ngắn R. Tagore. Và đó cũng là một trong những
đặc trưng cơ bản của truyện ngắn hiện đại, hậu hiện đại./.