Quá trình hiện đại hoá văn học
Trung Quốc cuối thế kỉ XIX – đầu thế
kỉ XX: Sự tương tác giữa những
chuyển biến tự thân với các ảnh hưởng
từ thế giới bên ngoài
3. Sự kế thừa và phát triển từ văn học truyền thống trong quá trình hiện đại
hóa văn học Trung Quốc
Sau cuộc vận động Ngũ Tứ, văn học Trung Quốc thật sự bắt đầu bước vào thời kỳ
hiện đại. Văn học hiện đại Trung Quốc thể hiện một xã hội tân thời, một dáng dấp tinh
thần mới mẻ, với những phương pháp biểu đạt nghệ thuật hoàn toàn mới. Nhưng dù giữ
cho mình một khoảng cách lịch sử nhất định, nó vẫn không thể cắt đứt hoàn toàn với quá
khứ. Minh chứng cho điều này chính là lớp người trí thức mở màn cho văn học hiện đại,
như Hồ Thích, Lỗ Tấn, Chu Tác Nhân, Quách Mạt Nhược, v.v… Họ không chỉ là những
người phất ngọn cờ văn học mới, họ còn là những bậc thầy về quốc học, và dù có ý thức
hay không, vai trò của họ vẫn là tiếp tục đẩy mạnh nền quốc học trong xã hội hiện đại.
Các tác phẩm của các nhà văn lớn thời kỳ này tuy mang đậm hơi hướng phương
Tây, nhưng ở tầng sâu hơn, vẫn có thể thấy huyết mạch của văn học truyền thống đang
cuộn chảy. Lỗ Tấn đã từng dùng “vũ khí” của văn học phương Tây để “chiến đấu” với
văn học truyền thống: ông viết truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết,… như một nhu cầu
của thời đại, đồng thời cũng là sự ảnh hưởng từ nhân tố nước ngoài. Tuy nhiên, tinh thần
chủ đạo trong văn học của ông vẫn là tinh thần trong văn học truyền thống Trung Quốc.
Có thể thấy ông đã tiếp nối và thể hiện một cách quyết liệt hơn chủ nghĩa ái quốc, tư
tưởng vì nước vì dân, lo lắng cho vận mệnh dân tộc, ghét cái ác như kẻ thù… qua các thời
đại của Hàn Phi, Khuất Nguyên, Đỗ Phủ,… Mao Thuẫn, Diệp Thánh Đào, Vương Thống
Chiếu, v.v… cũng đã thể hiện nội hàm văn hóa dân tộc sâu sắc cũng như ảnh hưởng từ
văn học cổ Trung Quốc trong cách miêu tả, xây dựng nhân vật, lựa chọn hình ảnh nhằm
thể hiện hàm ý sâu xa trong từng chi tiết được khắc họa Sự thành công rực rỡ của các vở
đạt đến độ chín sớm hơn và có được thành tựu nghệ thuật lớn hơn những thể loại khác,
như tiểu thuyết hay kịch nói. Đó không phải là thắng lợi chớp nhoáng của hiện đại hóa
văn học, mà là kết quả đóng góp của quá trình phát triển hàng nghìn năm của văn học
truyền thống.
Thực tế đã chứng minh, muốn thật sự thành công trong việc hấp thụ các yếu tố ngoại
lai, sự vận dụng khéo léo nền tảng truyền thống là yếu tố then chốt. Một giống cây trồng
muốn ươm thành công trên mảnh đất mới, ngoài cây giống tốt ra, phải được tạo điều kiện
để thích nghi cùng môi trường mới. Có thể nói, mảnh đất thơ truyền thống Trung Quốc vốn
dĩ đã đầy đủ những yếu tố thích hợp với giống cây đến từ phương Tây, nên việc trồng trọt
canh tác diễn ra thuận lợi.
Trong quá trình hiện đại hóa văn học, sự tác động của “ngoại lực” và khả năng
dung nạp của “nội lực” thực chất không mâu thuẫn với nhau. Nội lực càng thâm hậu thì
khả năng tiếp nhận ngoại lực càng lớn. Sự nhận thức và cọ xát không ngừng của văn học
truyền thống với văn học thế giới giúp cho nền văn học có thể hoàn thiện chính mình, từ
đó không ngừng phát triển. Văn học Trung Quốc đã có sự thay da đổi thịt, nhưng xét cho
cùng, phần sâu thẳm và cốt lõi của văn học vẫn là từ truyền thống, giống như da thịt có
thể thay đổi, song xương cốt thì vẫn thế.
Kết luận:
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là giai đoạn bản lề trong lịch sử văn
học Trung Quốc, điểm giao nhau giữa thời đại cũ và thời đại mới. Chu Tác Nhân từng viết
trong Dòng chảy văn học mới của Trung Quốc: “Từ sau cuộc chiến Giáp Ngọ, không chỉ
nền chính trị Trung Quốc xuất hiện sự biến đổi lớn lao, mà ngay trên phương diện văn học
cũng đang lay động, đang biến hóa không ngừng, giống với sự kết thúc một thời đại và sự
bắt đầu một thời đại tiếp theo. Lý do khiến thời đại mới vẫn chưa thể kịp thời hình thành,
thì như trong Tam quốc diễn nghĩa từng viết: “Muôn sự đủ cả, chỉ thiếu gió Đông””.
“Thời đại mới” ở đây được hiểu là thời đại Ngũ Tứ, thời kỳ mang đầy đủ tính chất tinh
thần hiện đại. Thêm vào đó, Chu Tác Nhân cũng chỉ rõ: “Cái gọi là “gió Đông” ở đây
đáng ra nên đổi thành “gió Tây”, tức những tư tưởng khoa học, triết học, văn học…
phương Tây”
(16)