Ảnh hưởng của phương Tây và truyền thống dân tộc trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc_2 - Pdf 19

Ảnh hưởng của phương Tây và
truyền thống dân tộc trong tiến trình
hiện đại hoá văn học dân tộc (So sánh
một số hiện tượng tiểu thuyết Việt
Nam và Triều Tiên)

Trong quá trình phát triển, văn học của mọi dân tộc đều không thể nào tránh khỏi
những sự giao lưu và ảnh hưởng của văn học các dân tộc khác, nhất là ảnh hưởng của những
nền văn học tiên tiến. Quá trình hiện đại hoá trong văn học Việt Nam, theo chúng tôi, cũng là
quá trình hình thành và phát triển hai trào lưu văn học chủ đạo là chủ nghĩa lãng mạn và chủ
nghĩa hiện thực – những trào lưu mà ở phương Tây phát triển vào thế kỷ XIX.
Việc đi sau phương Tây trong công cuộc hiện đại hoá văn chương hàng thế kỷ có ảnh
hưởng không ít đến số phận chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam. Chủ
nghĩa lãng mạn ở Việt Nam chưa bộc lộ hết những đặc điểm, khả năng của mình thì trào lưu
hiện thực đã hình thành. Chủ nghĩa lãng mạn nằm trong mối tương tác phức tạp với chủ
nghĩa hiện thực và cả hai lại có những tương tác với các khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa.
Tuy nhiên, nếu dõi theo tiến trình phát triển của các trào lưu này, cũng vẫn thấy những nét
tương đồng cơ bản với văn chương Âu - Mỹ
(1)
. Chẳng hạn, đối với chủ nghĩa lãng mạn, ở giai
đoạn sơ kỳ (hay tiền lãng mạn), sự bắt chước, mô phỏng đóng vai trò quan trọng. Nếu như
những nhà lãng mạn sơ kỳ Tây Âu (như ở Đức, Anh, Pháp) lấy khuôn mẫu từ văn học cổ đại
Hy – La, từ các truyền thuyết trung đại, các nhà lãng mạn sơ kỳ Nga mô phỏng văn chương
Đức, Anh… thì các nhà lãng mạn sơ kỳ của Việt Nam lấy mô hình của văn chương lãng mạn
phương Tây, hoặc của những nền văn chương khu vực đi trước trong quá trình hội nhập với

mạn như một trào lưu trong văn học Việt Nam chưa có được sự phát triển toàn vẹn thì đã hoà
vào mối quan hệ phức tạp với trào lưu hiện thực và các khuynh hướng văn học khác, việc
định danh một nhà tiểu thuyết nào đó (như các nhà văn nhóm Tự lực văn đoàn chẳng hạn) là
“nhà lãng mạn” thường có thể gây những băn khoăn. Tuy nhiên, vẫn có thể chọn ra các sáng
tác mang đậm những yếu tố của văn học lãng mạn thời kỳ phát triển. Chẳng hạn trong các
truyện của Nguyễn Tuân có thể bắt gặp hình tượng những con người “lãng tử”, những kẻ
“ngông” với những cuộc phiêu lưu không chỉ trong không gian địa lý mà còn trong thế giới
tinh thần, nhiều lúc đi ngược về quá khứ “vang bóng một thời”, đắm mình vào những cái kỳ
ảo, dị thường (khái niệm lãng mạn romantic còn có thể được hiểu là kỳ ảo, dị thường) hay
mô tả những nhân vật khí phách anh hùng, phi thường - như sự trốn chạy của một con người
cá nhân khát khao vươn tới tự do tuyệt đối, tới sự hoàn thiện về tinh thần, tới lý tưởng, nhưng
đồng thời bất bình, thất vọng với đời sống thực tại.
Với chủ nghĩa hiện thực, có thể dẫn Nam Cao như một ví dụ tiêu biểu cho giai đoạn
phát triển của trào lưu này trong văn học Việt Nam. Đó không chỉ là nhà văn của “hiện thực
xã hội” với những bức tranh đời sống nông thôn và thành thị Việt Nam, mà còn là nhà văn
của “hiện thực tâm hồn” – phản ánh những bi kịch tinh thần của con người trong cảnh “sống
mòn”, “đời thừa”,… Bi kịch tinh thần đó đã trở thành vấn đề của thời đại, mà Chế Lan Viên
từng diễn tả bằng thơ:
Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp,
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con…
Điều này khiến sáng tác của Nam Cao và các nhà hiện thực của chúng ta “đồng thanh
tương ứng” với sáng tác của các nhà hiện thực lớn của thế giới như Flaubert, Chekhov,…
Chúng tôi cho rằng khi xuất hiện những tác phẩm văn học lãng mạn và hiện thực chín
muồi trong văn chương Việt Nam, cũng tức là cuộc hội nhập với thế giới (mà chủ yếu với
phương Tây) đã kinh qua giai đoạn “lượng” (bắt chước, mô phỏng) để chuyển sang giai đoạn
“chất” (tạo ra những tác phẩm độc đáo, mang những nét đặc thù dân tộc từ đề tài, cốt truyện,
nhân vật đến phong cách ngôn ngữ), thì tiến trình hiện đại hoá hoàn tất và đã có thể nói đến
một nền văn chương Việt Nam hiện đại (từ cuối thập niên 30 – đầu thập niên 40 thế kỷ trước).
Trong tiến trình đó, vai trò của văn chương Pháp và phương Tây là hết sức quan trọng. Bản
thân việc cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng của nó lại càng khẳng định vai trò của nó. Quá trình

với tư duy truyền thống Việt Nam (cũng như ở các dân tộc Đông Á) nơi tiếp nhận triết lý
Phật, Đạo. Trong Truyện Kiều, hành trình tinh thần của Kiều rõ ràng chưa thể kết thúc (mà lại
kết thúc có hậu) sau đám cưới với Kim Trọng, điều này đã được nhiều người chỉ ra. Ở Sơ
kính tân trang của Phạm Thái, cuộc đoàn viên của đôi uyên ương thực ra chỉ là giấc mộng
“tái thế trùng phùng”, cũng như việc lên cõi tiên (trong Bích câu kỳ ngộ) hay cõi Phật
(trong Quan Âm Thị Kính)… tất cả đều là sự ra đi, tiếp nối hành trình tinh thần vô tận. Các
nhà lãng mạn và các nhà hiện thực thời hiện đại chắc chắn không thể bỏ qua kinh nghiệm này
của truyền thống thơ Nôm khi đi vào khám phá thế giới tâm hồn con người cá nhân thời đại
mình.
Ở tiểu thuyết hiện đại không còn sự phân biệt hai loại hình văn chương bác học và văn
chương bình dân: các nhà văn hướng tới những lý tưởng nghệ thuật cao cả trong khi kể về
những câu chuyện đời thường của những con người đời thường bằng ngôn từ giản dị, gần gũi
với lời nói hàng ngày của mọi tầng lớp trong xã hội. Quá trình thống nhất hai loại hình văn
chương này thực ra đã diễn ra ở các truyện thơ Nôm, dù vẫn có sự phân chia “truyện Nôm
bác học”, “truyện Nôm bình dân” – một sự phân chia thực ra chỉ có tính tương đối. “Truyện
Nôm bác học” từ bản thân tên gọi đã cho thấy sự thống nhất: truyện Nôm viết bằng ngôn ngữ
dân tộc, chủ yếu kể chuyện tình yêu đôi lứa, về cuộc sống của con người đời thường, dưới
hình thức các thể thơ dân tộc gần gũi với tầng lớp bình dân, đồng thời lại gắn với văn chương
sách vở từ sự vay mượn cốt truyện và việc vận dụng kho ngữ liệu từ sách vở cổ điển, đến
những triết lý nhân sinh, những lý tưởng đạo đức cao cả. Ý thức được điều này nên các tác
giả truyện Nôm bác học thường hay mở và kết truyện vừa bằng những lời giáo huấn về lẽ
“trăm năm”, “ngàn xưa”, “đạo hằng”, “thiện căn” theo tinh thần của sách thánh hiền,… vừa
hạ thấp công trình của mình bằng những cách gọi chúng là “lời quê”, “lời nôm na”, “lời kệch
tiếng quê”,… của kẻ “phòng văn đang buổi ngồi rồi”, để “mua vui”, để “đỡ chút canh
trường”, hoặc cùng lắm là để “ta dặn lấy ta”.
Trong quá trình hiện đại hoá tiểu thuyết, thống nhất hai loại hình bác học và bình dân,
có một tác động đáng kể phát xuất từ các loại hình nghệ thuật khác, đặc biệt là những loại
hình nghệ thuật có sử dụng ngôn từ, trong đó có sân khấu. Không phải vô cớ mà những nhà
văn quan trọng trong phong trào lãng mạn và hiện thực của châu Âu thế kỷ XIX như Goethe,
Hugo, Gogol, Tolstoy, Chekhov,… vừa sáng tác tiểu thuyết, vừa là các nhà soạn kịch nổi

rộng và kỹ lưỡng, chỉ xin nêu một vài ví dụ về một số giá trị trong truyện Nôm thế kỷ XVIII-
XIX được chuyển giao vào tiểu thuyết hiện đại ở Việt Nam.
*


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status