Sự hình thành hệ thống thể loại tự sự nghệ thuật trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 PHẠM XUÂN THẠCH SỰ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG THỂ LOẠI
TỰ SỰ NGHỆ THUẬT TRONG TIẾN TRÌNH
HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS. TS. Lê Văn Lân
2. PGS.TS. Trần Ngọc Vương HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Nhiệm vụ của đề tài 15
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 16
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 17
6. Đóng góp của luận án 20
7. Cấu trúc của luận án 20
B. PHẦN NỘI DUNG 22
Chƣơng 1: Những tiền đề hiện đại hóa tự sự 22
1.1. Những tiền đề văn hóa xã hội 23
1.1.1. Đô thị và đời sống đô thị 23
1.1.2. Những thiết chế văn hóa và các hoạt động văn hóa 25
1.1.2.1. Báo chí và xuất bản 25
1.1.2.2. Nhà trƣờng Pháp - Việt và mô hình giáo dục hiện đại
kiểu phƣơng Tây 27
1.1.2.3. Dịch thuật 30
1.1.2.4. Những lựa chọn ngôn ngữ 31
1.1.3. Những vận động văn hóa và tinh thần thời đại 33

Tiểu kết 107
Chƣơng 3. Những khuynh hƣớng hiện đại hóa
cấu trúc hình thức thể loại 108
3.1. Tự sự ngắn - Một không gian mơ hồ 110
3.1.1. Giữa hƣ cấu và phi hƣ cấu 112
3.1.2.Tiểu thuyết và đoản thiên, hai cơ cấu luôn có sự thẩm thấu 114
3.1.3. Những dạng thức đoản thiên chủ yếu 115
3.2. Những cấu trúc hình thức của truyện kể 118
3.2.1. Ngƣời kể chuyện và điểm nhìn 119

3
3.2.1.1. Ngƣời kể chuyện 119
3.2.1.1.1. Giới thuyết về ngƣời kể chuyện 119
3.2.1.1.2. Các hình thức ngƣời kể chuyện và trần thuật
Việt Nam trƣớc năm 1932 121
3.2.1.2. Điểm nhìn trong trần thuật Việt Nam trƣớc năm 1932 125
3.2.2. Các yếu tố cấu thành hành vi kể. Tác động của ngƣời kể
và điểm nhìn đối với hành vi trần thuật 130
3.2.2.1. Sự miêu tả 131
3.2.2.2. Phân tích tâm lý. Sự hiện diện của tƣ duy phân tíchvà tƣ duy duy lý 136
3.2.2.3. Khi con ngƣời tự thể hiện. Lời gián tiếp tự do 140
3.2.3. Thời gian và cấu trúc truyện kể 142
3.2.3.1. Độ dài thời gian tính và tốc độ trần thuật 143
3.2.3.2. Phá vỡ trật tự của thời gian. Đảo thuật 146
3.2.4. Các mô hình trần thuật 147
Tiểu kết 149
Chƣơng 4. Ngôn ngữ, tự sự và ý thức hệ 151
4.1. Từ vựng, ý thức hệ và cái nhìn thế giới 152
4.1.1. Độ phong phú từ vựng 152
4.1.2. Từ vựng, ý thức hệ và những giá trị văn hóa 157

văn học - hay là một sự phát triển tất yếu trên cơ sở những vận động của văn học
dân tộc trong giai đoạn hậu kỳ của thời trung đại? Để trả lời đƣợc những câu hỏi
đó, tất yếu phải quay trở về với giai đoạn diễn ra quá trình chuyển đổi hệ hình của
văn học, giai đoạn giao thời kéo dài trong ba thập niên đầu thế kỷ XX.
Theo quan điểm của chúng tôi, có một giai đoạn đặc biệt nằm giữa hai thời
đại lớn của văn học dân tộc. Đƣợc định hƣớng từ các nghiên cứu sử văn học của
Giáo sƣ Trần Đình Hƣợu, chúng tôi hình dung giai đoạn này kéo dài trong khoảng
ba thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, tính từ năm 1904 - 1905, khi cuộc cách mạng
văn hóa lớn của lịch sử Việt Nam bắt đầu diễn ra trong các phong trào Duy tân cho
đến 1932, thời điểm Phan Khôi công bố bài thơ Tình già mở đầu cho phong trào

5
Thơ mới. Đây chính là quãng thời gian diễn ra quá trình chuyển đổi hệ hình của
văn học dân tộc.
Trong con mắt của ngƣời nghiên cứu, văn học Việt Nam ba mƣơi năm đầu
thế kỷ XX giống nhƣ một phòng thí nghiệm khổng lồ. Ngƣời viết văn và ngƣời làm
văn học trong giai đoạn này cùng chia sẻ một ý thức: họ đang tham dự vào việc
kiến tạo cho một cái gì còn chƣa hình thành, một thực tế chƣa từng tồn tại. Đó cũng
là một giai đoạn đặc biệt phong phú về thành phần công chúng và ngƣời sáng tác
văn học và chính sự đa dạng của đội ngũ tác giả và công chúng đã dẫn đến sự đa
dạng của những khuynh hƣớng hiện đại hóa văn học. Nhƣ các tác giả của giáo trình
Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930 đã chứng minh, có cả hai khuynh
hƣớng cùng đồng thời diễn ra: đổi mới văn học truyền thống và lặng lẽ du nhập,
bản địa hóa kiểu mẫu văn học thế giới. Cả hai khuynh hƣớng đều có những đại diện
xuất sắc. Việc đồng thời tồn tại nhiều nhóm tác giả và công chúng với nguồn gốc
văn hóa khác nhau khiến cho không một khuynh hƣớng nào có thể phát triển một
cách thuần nhất. Sự pha trộn và sự thỏa hiệp trở thành khuynh hƣớng chung của
toàn bộ đời sống văn học, nhƣ chính cái khẩu hiệu văn hóa đƣợc tôn lên tiên phong
trong giai đoạn này: “Điều hòa tân cựu - Thổ nạp Âu Á”.
Trong một cảm hứng chung chuẩn bị cho một cái gì còn chƣa định hình, một

lời câu hỏi về sự phát triển liên tục của tiến trình văn học. Đi sâu tìm hiểu giai đoạn
văn học này, chúng tôi đặc biệt chú ý tới một bộ phận tác phẩm có sức sống đặc
biệt: các tự sự đƣợc ngƣời đƣơng thời định danh bằng những tên gọi liên quan đến
“tiểu thuyết”.
Những biến đổi của văn học Việt Nam trong ba mƣơi năm đầu thế kỷ XX
diễn ra đều khắp trên tất cả các thể loại. Thế nhƣng, trong tƣơng quan các thể loại,
hiếm có bộ phận văn chƣơng nào hội đủ tƣ cách đại diện cho những biến đổi của
văn chƣơng trên tiến trình hiện đại hóa nhƣ các thể văn tự sự. Nếu so sánh với
những giai đoạn trƣớc đó, có thể khẳng định chƣa bao giờ trong lịch sử văn học dân
tộc lại có một sự phát triển mạnh mẽ đến vậy của các thể văn tự sự. Chỉ trong
khoảng ba mƣơi năm, bộ phận văn học này đã để lại một số lƣợng văn bản hết sức
phong phú. Nó thu hút đƣợc một đội ngũ sáng tác hết sức đa dạng. Nó là sản phẩm

7
của nhiều khuynh hƣớng tìm tòi và thể nghiệm khác nhau và nó nằm ở trung tâm
các mối quan tâm của xã hội. Nói một cách hình tƣợng, từ vùng biên của nền văn
học, từ thân phận còi cọc trong suốt tiến trình phát triển lịch sử, các thể văn tự sự
đã bƣớc thẳng vào trung tâm của đời sống văn học và có một sự đột biến về chất.
Vậy, liệu có chăng một mối liên hệ giữa sự phát triển đột biến đó và những vận
động mang tính hiện đại hóa của đời sống văn hóa nói chung và văn học nói riêng?
Chọn các sự vận động của các thể văn tự sự bằng chữ quốc ngữ trong ba mƣơi năm
đầu thế kỷ làm đối tƣợng khảo sát của luận án với tiêu đề Sự hình thành hệ thống
thể loại tự sự nghệ thuật trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam những
năm đầu thế kỷ XX chúng tôi hy vọng có thể trả lời đƣợc những câu hỏi trên.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Vấn đề mà chúng tôi khảo sát - tự sự bằng chữ quốc ngữ xuất bản công khai
ở Việt Nam trong ba thập niên đầu thế kỷ XX - đã đƣợc đề cập đến từ khá sớm, có
thể nói, ngay từ giai đoạn khởi đầu của khoa nghiên cứu lịch sử văn học ở Việt
Nam nghĩa là từ công trình nghiên cứu văn học sử đầu tiên Việt Nam văn học sử
yếu của Dƣơng Quảng Hàm (1943). Điều đó cũng đồng nghĩa với việc nó đã đƣợc

tiếp theo.
Cùng với Việt Nam văn học sử yếu thì Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan
cũng là một công trình lớn có đề cập đến văn học Việt Nam trong giai đoạn sơ
khởi. Trong công trình này, tác giả không định dựng một thông sử mang tính khái
quát về văn học Việt Nam mà hƣớng đến việc xây dựng lại diện mạo một giai đoạn
văn chƣơng qua tập hợp phê bình các tác giả/ nhóm tác giả tiêu biểu. Trong số 4
phần chính của cuốn sách thì 2 phần đầu đƣợc dành cho văn học Việt Nam trong
giai đoạn sơ khởi. Trong 2 phần này, tác giả đã khảo sát một tập hợp tác giả phong
phú từ Trƣơng Vĩnh Ký, ngƣời tiên phong đặt nền móng cho văn học mới bằng chữ
quốc ngữ, các nhà văn thuộc nhóm Đông Dương tạp chí (Nguyễn Văn Vĩnh, Phan
Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục), nhóm Nam Phong tạp chí (Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá
Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Lâm Tấn Phác,
Tƣơng Phố), các nhà biên khảo (Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Lê Dƣ, Phan Khôi,
Nguyễn Quang Oánh…), các thi gia (Nguyễn Khắc Hiếu, Đoàn Nhƣ Khuê, Dƣơng

9
Bá Trạc, Trần Tuấn Khải) cho đến những tiểu thuyết gia (Hoàng Ngọc Phách, Hồ
Biểu Chánh). Trong một tập hợp phong phú tác gia nhƣ trên chỉ có hai tác giả đƣợc
khảo sát nhƣ là những nhà văn viết tiểu thuyết đích thực (Hoàng Ngọc Phách, Hồ
Biểu Chánh), ngoài ra, một số những tác phẩm khác cũng đƣợc nhắc đến nhƣ Quả
dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật hay những truyện ngắn kiểu mới của Phạm Duy
Tốn. Rõ ràng, Vũ Ngọc Phan khi viết Nhà văn hiện đại đã có một ý thức rất rõ
trong việc cố gắng tái hiện lại những khuynh hƣớng vận động chính của văn học
trong giai đoạn sơ khởi (thông qua việc khảo sát những nhóm tác giả có ảnh hƣởng
lớn) cũng nhƣ xem xét mối tƣơng quan giữa các bộ phận cấu thành nên đời sống
văn học (tự sự, thơ, khảo cứu…). So với công trình của Dƣơng Quảng Hàm, hình
dung của Vũ Ngọc Phan về văn học Việt Nam giai đoạn giao thời nói chung và bộ
phận văn xuôi tự sự nói riêng đã có bƣớc phát triển theo chiều sâu. Đó chính là giá
trị không thể phủ nhận đƣợc của bộ sách.
Ngoài hai công trình nói trên, có thể tìm thấy dấu vết của văn học Việt Nam

sử của Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng. Sự thành công của hai công trình này có
đƣợc trƣớc hết là nhờ việc chúng đƣợc xây dựng nên từ những tập hợp tƣ liệu
phong phú, tƣơng đối toàn diện và vƣợt lên đƣợc những định kiến chính trị vốn rất
mạnh trong giai đoạn chiến tranh chia cắt đất nƣớc.
Công trình của Phạm Thế Ngũ là một tổng thể gồm 3 tập trong đó phần thứ
ba là dành cho văn học hiện đại (đƣợc tính từ 1862 đến 1945). Viết công trình này,
Phạm Thế Ngũ chủ yếu dựa trên mô hình của ngữ văn học cổ điển nghĩa là phân
chia lịch sử văn học theo trục thời gian. Văn học hiện đại đƣợc Phạm Thế Ngũ hình
dung gồm 3 giai đoạn: 1862 - 1907; 1907 - 1932; và 1932 - 1945. Tính độc đáo của
công trình này đƣợc thể hiện trong cả ba phần nói trên nhƣng ở đây, chúng tôi chỉ
bàn đến những phần viết về văn học Việt Nam trong giai đoạn 1907 - 1932. Phần
này bao gồm 5 chƣơng lớn: Khái quát về giai đoạn 1907 - 1932; Nguyễn Văn Vĩnh
- Đông Dương tạp chí; Phạm Quỳnh - Nam phong tạp chí; Công việc biên khảo và
phê bình; Sự hình thành tiểu thuyết mới; Thơ và các nhà làm thơ trƣớc 1932. Bố
cục nói trên chứng tỏ ngƣời viết có một hình dung toàn diện về văn học Việt Nam

11
ba thập niên đầu thế kỷ XX và trên thực tế, trong mỗi phần ông đều có những luận
điểm nhìn chung là xác đáng, điển hình nhƣ việc nhấn mạnh vai trò của báo chí và
dịch thuật đối với sự ra đời của nền văn học mới. Riêng phần viết về sự hình thành
của tiểu thuyết mới, mặc dù xây dựng trên một tập hợp tƣ liệu khó có thể nói là đầy
đủ nhƣng cách hình dung của Phạm Thế Ngũ là chính xác. Sự ra đời của tiểu thuyết
mới đƣợc hình dung với hai nguồn ảnh hƣởng chính: truyền thống truyện Nôm và
tiểu thuyết dịch. Ông đã miêu tả đƣợc những quan hệ đa dạng giữa các bộ phận ký
sự, đoản thiên và trƣờng thiên tiểu thuyết, các bộ phận tiểu thuyết ở Bắc Kỳ (với
hai đại diện là Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng
Thuật), và Nam Kỳ (với đại diện là Hồ Biểu Chánh). Những nhận xét sơ khởi về
các yếu tính của tiểu thuyết Nam Kỳ (tính chất đạo lý, tính hiện thực, sự giản dị về
kỹ thuật) cũng đáng đƣợc quan tâm. Từ những lý do trên, có thể khẳng định mặc dù
những hạn chế về phƣơng pháp luận chƣa cho phép Phạm Thế Ngũ đi sâu vào các

thể loại và môi trƣờng xã hội - văn hóa - thẩm mỹ mà nó sinh thành. Ở một bình
diện khác, với một sự uyên bác hiếm có, công trình của Thanh Lãng cũng cung cấp
những định hƣớng nghiên cứu văn học so sánh cần thiết khi ông nói về mối quan hệ
giữa sự hình thành của tự sự hiện đại và những nguồn ảnh hƣởng từ văn học nƣớc
ngoài.
2.3. Công trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 của hai
tác giả Trần Đình Hƣợu và Lê Chí Dũng có một vị trí đặc biệt trong lịch sử nghiên
cứu văn học Việt Nam giai đoạn giao thời. Mặc dù đƣợc viết từ thập niên 1970 của
thế kỷ XX nhƣng có thể nói, một trong những giá trị lớn của công trình chính là
tính hiện đại và tính đúng đắn về mặt phƣơng pháp luận. Trƣớc hết, cần phải khẳng
định đây là một công trình mang cảm hứng xã hội học hết sức rõ nét. Tuy nhiên,
khác với mô hình xã hội học lúc bấy giờ xuất phát từ một định kiến về hiện thực,
sau đó đi tìm hình chiếu của định kiến đó trong tác phẩm văn học và đánh giá tác
phẩm dựa trên độ chênh với định kiến thì công trình Văn học Việt Nam giai đoạn
giao thời 1900 - 1930 lại đƣợc xây dựng trên một mô hình khác hẳn. Đó chính là
mối tƣơng quan về ý thức hệ giữa tác phẩm và xã hội thông qua một loạt những
quan hệ phức tạp về nguồn gốc học vấn, xuất thân văn hóa và hành trình xã hội của
nhà văn (điều này đƣợc thể hiện đặc biệt xuất sắc trong những nghiên cứu về Tản
Đà và Phan Bội Châu). Điểm thành công lớn nhất của công trình là chỉ ra đƣợc
những ngả đƣờng phức tạp trên của quá trình hiện đại hóa văn học ở Việt Nam đầu

13
thế kỷ: hiện đại hóa, cách tân văn học truyền thống và du nhập, bản địa hóa mô
hình văn học phƣơng Tây, những giới hạn của từng ngả đƣờng cũng nhƣ sự đan
xen, thẩm thấu, quy định lẫn nhau giữa những ngả đƣờng. Tính đúng đắn về
phƣơng pháp luận của công trình cũng thể hiện ở việc ngƣời nghiên cứu đã đặt vấn
đề tiếp cận một giai đoạn văn học vừa trong tính liên tục của tiến trình văn học từ
văn học trung đại đến những giai đoạn hiện đại tiếp theo; vừa trong mối quan hệ
với những nền văn học lớn trên thế giới cả trong quan hệ đối chiếu lẫn trong quan
hệ giao tiếp ảnh hƣởng. Điều cần nhấn mạnh là trong khi nghiên cứu những quan

không thể tách rời của văn học dân tộc.
Song song với hoạt động sƣu tầm, khảo cứu là những nghiên cứu về bản
chất, đặc điểm cũng nhƣ những quy luật vận động của thể văn tự sự ở Nam Kỳ hồi
đầu thế kỷ XX. Có thể kể đến bốn luận án tiến sĩ liên quan đến đề tài này:
- Tôn Thất Dụng, Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn
xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến năm 1932, Luận án tiến sĩ,
Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 1993.
- Cao Xuân Mỹ, Quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỷ
XIX đến đầu thế kỷ XX, Luận án tiến sĩ, Trƣờng Đại học Sƣ phạm TP. Hồ Chí
Minh, 2001.
- Nguyễn Thanh Sơn, Truyện ngắn Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế
kỷ XX, Luận án tiến sĩ, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2001.
- Lê Ngọc Thúy, Đóng góp của văn học quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, Luận án tiến sĩ,
Trƣờng Đại học Sƣ phạm TP. Hồ Chí Minh, 2002.
Đó là chƣa kể tới một số lƣợng lớn luận văn thạc sĩ ở các cơ sở đào tạo khác
nhau từ Nam đến Bắc. Đây là những nỗ lực đáng trân trọng của giới nghiên cứu để
hƣớng tới một cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về văn học dân tộc.
Bên cạnh những đóng góp quan trọng của các công trình nói trên, việc
nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn giao thời nói chung và văn xuôi tự sự nói
riêng vẫn còn có một số vấn đề tồn tại. Trƣớc hết, có thể thấy toàn bộ các công
trình này đều đƣợc xây dựng trên một sự hình dung về văn học sử lấy phƣơng pháp

15
sáng tác làm trung tâm. Những hạn chế của cách nhìn lịch sử văn học theo phƣơng
pháp sáng tác, thiết tƣởng không cần nhắc lại, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh lại,
hệ thống phƣơng pháp sáng tác là hệ thống lý luận bắt nguồn từ thực tế văn học
phƣơng Tây, dẫu trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam bắt đầu quá
trình tiếp xúc, giao lƣu với văn học thế giới và chuyển dịch sang mô hình văn học
thế giới thì đó cũng là một quá trình giao lƣu và chuyển dịch trên một cơ tầng mƣời

trong giai đoạn sơ khởi của văn học hiện đại. Đó cũng chính là mục tiêu nghiên cứu
của chúng tôi trong luận án này với tiêu đề: Sự hình thành hệ thống thế loại tự sự
nghệ thuật trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam những năm đầu thế
kỉ XX. Thực hiện đề tài này, trên cơ sở kế thừa thành tựu nghiên cứu và những phát
hiện tƣ liệu của những nhà nghiên cứu đi trƣớc, chúng tôi muốn tiến hành một tiếp
cận có tính tổng thể đối với tự sự nghệ thuật bằng chữ quốc ngữ ở Việt Nam trong
giai đoạn giao thời. Câu hỏi trung tâm mà luận án sẽ phải trả lời là: (1). Với tƣ cách
một không gian thống nhất, quá trình hiện đại hóa tự sự nghệ thuật ở Việt Nam
trong giai đoạn giao thời đã diễn ra nhƣ thế nào. Nói cách khác, nhiệm vụ đầu tiên
của luận án là mô hình hóa lại toàn bộ diễn tiến quá trình hiện đại hóa của tự sự
nghệ thuật ở Việt Nam trong giai đoạn giao thời. (2). Trong tổng thể đó, trình bày
những định hƣớng phân chia những tiểu loại tự sự mà sau này sẽ trở thành "truyện
ngắn" và "tiểu thuyết" của văn học nƣớc nhà trong những giai đoạn tiếp theo.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Để giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, trƣớc hết, cần phải minh định
một số khái niệm trong tiêu đề của luận án. Trƣớc hết, trong quan niệm của chúng
tôi, "sự hình thành hệ thống thể loại tự sự nghệ thuật" bao gồm hai nội dung: (1).
Sự hình thành tổng thể toàn bộ thể tự sự nghệ thuật nói chung và (2). Quá trình
phân chia những thể tài nhỏ trong tổng thể thể loại đó. Quan niệm này sẽ đƣợc
chúng tôi quán triệt khi trình bày các nội dung của đề tài, từ vấn đề quan niệm nghệ
thuật đến các phƣơng diện thuộc về thực tiễn sáng tác của nhà văn. Thứ hai, khi đặt
"sự hình thành các thể văn tự sự nghệ thuật" trong bối cảnh "quá trình hiện đại hóa
văn học Việt Nam" chúng tôi cũng hình dung nội dung của quá trình hình thành đó
đồng nghĩa với "quá trình hiện đại hóa". Nói cách khác, "sự hình thành các thể văn

17
tự sự nghệ thuật trong quá trình hiện đại hóa" chính là "quá trình hiện đại hóa các
thể văn tự sự nghệ thuật" trong giai đoạn giao thời. Cái đƣợc gọi là "tự sự nghệ
thuật" ở đây đồng nghĩa với tự sự hƣ cấu. Trên thực tiễn sáng tác, nó thông nghĩa
với các tên gọi gắn với yếu tố "tiểu thuyết" (theo cách hiểu đƣơng thời). Một số

Trƣớc hết, bản chất của thể loại là những nguyên tắc. Nó là cái có tính siêu
cá nhân. Nó trở thành nguyên tắc khi nó có đƣợc sự đồng thuận mang tính cộng
đồng. Chính vì lý do đó, từ bản chất, thể loại là cái có tính xã hội. Thể loại trƣớc
hết là một tập hợp quy ƣớc trong một thời điểm lịch sử. Nó không chỉ quyết định
việc nhà văn phải viết tác phẩm nhƣ thế nào mà còn quyết định việc ngƣời đọc tiếp
nhận, chờ đón tác phẩm nhƣ thế nào. Nó chính là một thành phần của cái mà mỹ
học tiếp nhận gọi là "ngƣỡng đợi" (horizon d'attent). Không những thế, ở một phía
khác lại phải nhận thấy với tƣ cách là một thành phần của đời sống văn học nói
chung, thể loại cũng là một sản phẩm bị chi phối bởi đời sống xã hội. Nó gắn liền
với những nhu cầu thẩm mỹ đặc thù của xã hội trong những giai đoạn lịch sử xác
định. Nó liên quan tới những thiết chế xã hội (nhƣ nhà trƣờng, báo chí, xuất bản) và
sự vận động của nó bị chi phối bởi những hoạt động văn hóa - xã hội (điển hình
nhƣ các hoạt động giao lƣu văn hóa).
Chiều kích thứ hai của thể loại là bản thân những nguyên tắc cấu thành nên
hình dung về thể loại trong một thời đại xác định. Trong ngôn ngữ học, F.de
Saussure đã xác định hai mặt cấu thành nên hiện tƣợng ngôn ngữ: Cái biểu đạt và
Cái đƣợc biểu đạt. Có thể lấy hình dung này quy chiếu cho hiện tƣợng thể loại.
Những nguyên tắc thể loại, cho đến cùng là hƣớng đến việc viết một tác phẩm cụ
thể. Tác phẩm luôn luôn hàm chứa trong nó hai mặt: nó viết một cái gì đấy và bằng
một cách nào đấy. Đó cũng chính là hai con đƣờng phát triển của nghiên cứu Tự sự
học hiện đại. Hoặc nó đi vào tìm hiểu Cái đƣợc kể - phƣơng diện ngữ nghĩa, Cái
đƣợc biểu đạt của tự sự hoặc nó đi sâu tìm hiểu cách thức mà câu chuyện (nòng cốt
của tự sự) đã đƣợc kể lại nhƣ thế nào. Ở đây, cũng cần phải bổ sung một bình diện
khác của tự sự, bình diện ngôn ngữ. Nhà văn sáng tạo ra một cốt truyện, anh ta bị
ám ảnh bởi các tƣ tƣởng, anh ta xây dựng các nhân vật và các biểu tƣợng (bình diện
cái đƣợc kể), anh ta sáng tạo nên một chiến lƣợc kể (tái hiện câu chuyện từ điểm

19
nhìn của ai, trần thuật theo trật tự tuyến tính hay không… - bình diện phƣơng thức
kể) nhƣng điểm cuối cùng, tất cả những điều đó phải hóa thân trong một ngôn ngữ.

thuyết mà chúng tôi sẽ vận dụng trong luận án. Trong từng chƣơng của luận án,
chúng tôi sẽ trình bày một cách cụ thể định hƣớng lý thuyết và giới thuyết chính
xác những khái niệm đƣợc sử dụng trong chƣơng.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Tiến hành thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài Sự hình thành hệ thống thế
loại tự sự nghệ thuật trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam những năm
đầu thế kỉ XX, chúng tôi xác định những đóng góp của luận án trên một số phƣơng
diện nhƣ sau:
Thứ nhất, với tƣ cách là một nghiên cứu lịch sử văn học, đóng góp của luận
án sẽ đƣợc thể hiện chủ yếu không phải ở việc đƣa ra ánh sáng một số mảng tƣ liệu
mới (dù trong luận án, có những tƣ liệu liên quan đến giảng dạy văn chƣơng trong
nhà trƣờng Pháp - Việt là những tƣ liệu lần đầu tiên đƣợc công bố ở Việt Nam) mà
ở việc mô hình hóa lại toàn bộ quá trình hiện đại hóa các thể văn tự sự ở Việt Nam.
Thứ hai, một trong những tham vọng của chúng tôi là bƣớc đầu áp dụng một
số lý thuyết văn chƣơng hiện đại hình thành ở phƣơng Tây trong giai đoạn nửa sau
thế kỷ XX vào nghiên cứu thực tiễn văn chƣơng Việt Nam. Trƣớc hết, đây là một
cố gắng trong việc làm mới nghiên cứu văn học sử bằng việc ứng dụng những lý
thuyết nghiên cứu văn chƣơng vào nghiên cứu lịch sử văn học. Bên cạnh đó, ứng
dụng lý thuyết nghiên cứu văn chƣơng phƣơng Tây vào nghiên cứu thực tiễn văn
học Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc Việt hóa những lý thuyết này. Thành công
của công việc này có thể mở rộng ra việc nghiên cứu văn chƣơng Việt Nam trong
những giai đoạn tiếp theo, kể cả văn chƣơng đƣơng đại.
Với tƣ cách một đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản, những kết quả của luận
án này có thể đƣợc ứng dụng giảng dạy văn chƣơng Việt Nam ở bậc đại học, công
việc chính của ngƣời viết luận án hiện nay.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án của chúng tôi đƣợc trình bày trong bốn chƣơng với cấu trúc nhƣ
sau:

21


22

B. PHẦN NỘI DUNG

CHƢƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HIỆN ĐẠI HÓA TỰ SỰ
Từ trƣớc đến nay, trong các nghiên cứu văn học sử trên thế giới và ở Việt
Nam, việc đặt các hiện tƣợng và tiến trình văn học vào trong mối quan hệ với văn
cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa bao quanh nó gần nhƣ đã trở thành một yêu cầu có
tính bắt buộc. Vấn đề là ngƣời nghiên cứu phải tìm đƣợc đúng bản chất của mối
quan hệ này, tránh một lối giải thích có tính cơ học, quyết định luận giản đơn, một
chiều. Trƣớc thách thức đó, trong khuôn khổ của đề tài luận án, thay vì trình bày lại
tổng thể bức tranh chung về lịch sử, xã hội và văn hóa Việt Nam trong ba thập niên
đầu thế kỉ XX, chúng tôi sẽ chỉ giới hạn trong một số yếu tố cụ thể bao gồm: quá
trình đô thị hóa và đời sống đô thị; sự hình thành của những thiết chế văn hóa hiện
đại (báo chí, nhà xuất bản, nhà trƣờng); những vận động văn hóa đặc thù của giai
đoạn giao thời (sự du nhập những khuôn mẫu văn hóa và văn học thế giới; quá
trình nhận thức lại truyền thống; những lựa chọn ngôn ngữ và hệ quả của nó; sự
lúng túng trong việc giải quyết những mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại).
Ý thức về sự quy định của những yếu tố này đối với quá trình hiện đại hóa văn
chƣơng Việt Nam đầu thế kỷ đã xuất hiện trong nhiều công trình văn học sử, từ
những công trình của Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng đến Trần Đình Hƣợu. Công việc
của chúng tôi thực chất là sự kế thừa, hệ thống hóa và đặc biệt đi sâu vào một số
thành tố còn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức (sự xuất hiện của nền giáo dục kiểu
mới, quá trình nhận thức lại truyền thống). Đó chính là tiền đề thứ nhất của quá
trình hiện đại hóa các thể văn tự sự nghệ thuật ở Việt Nam trong giai đoạn giao
thời.
Từ một góc nhìn khác, chúng tôi cũng không bỏ qua những vận động có tính
nội sinh của chính bản thân nền văn học. Tự sự là một bộ phận của nền văn học và
vì thế nên quá trình hiện đại hóa của một bộ phận sáng tác này không thể tách rời

Nhật Bản, Trung Quốc hay các nƣớc phƣơng Tây. Dẫu vậy, nhƣ các nhà nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status