Tạp chí Khoa học 2012:23b 265-271 Trường Đại học Cần Thơ
265
ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ ĐỘ MẶN ĐẾN TỐC ĐỘ
LỌC TẢO, CHỈ SỐ ĐỘ BÉO VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA NGHÊU
(MERETRIX LYRATA)
Ngô Thị Thu Thảo
1
và Lâm Thị Quang Mẫn
2
ABSTRACT
This study was conducted to evaluate the combined effects of different temperatures (28,
32 and 34
o
C) and salinities (10, 20 and 30‰) on the algal clearance rate, condition
index and survival rate of clam Meretrix lyrata at different sizes: small (SL:
14.71±0.39mm); medium (SL: 23.15±0.31mm) and large (SL: 36.03±0.69mm). Clams
were cultured in 200-liter composite tank and were fed daily with algae diets consist of
Chlorella sp. from Tilapia green water system at the density of 300,000 cells/ml. After 30
days of experiment, clams were cultured at salinity of 30‰ and temperature of 34
o
C
showed highest mortality (40%, 62.2% and 100% coresponding to small, medium and
large clams). In contrast, the highest survival rates were obtained at temperature of 28
o
C
and salinity of 10‰ (100%, 100% and 46.7%, respectively). High temperature together
high salinity significantly reduced the survival of clams at different sizes, especially
medium and large sizes. This study contributes initial information for the effective
management of farming clam in practices.
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
2
Học viên cao học Nuôi trồng Thủy sản Khóa 16, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
Tạp chí Khoa học 2012:23b 265-271 Trường Đại học Cần Thơ
266
về khối lượng và 3,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2010. EU là thị trường nhập
khẩu quan trọng nhất về giá trị, chiếm 68,8% tổng xuất khẩu, tương đương với 7,5
triệu đô-la. Trong đó nghêu là đối tượng xuất khẩu chủ yếu. Tuy nhiên, sản lượng
nghêu ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa ổn định do thiếu năng lực quản lý
trên qui mô toàn vùng, các nghiên cứu về sinh h
ọc, về dịch bệnh và kỹ thuật nuôi
nghêu vẫn còn hạn chế. Theo Tang et al. (2005) độ mặn đã tác động đáng kể đến
tỷ lệ hô hấp và bài tiết của nghêu (Meretrix meretrix). Marta et al. (2007) đã chứng
minh độ mặn 34‰ ảnh hưởng đến các chức năng hoạt động của tế bào máu và
giảm sức đề kháng của nghêu Chamelea gallina. Filgueira et al. (2009) nghiên cứu
tốc độ lọc thức
ăn trên vẹm Mytilus galloprovincialis và kết luận rằng khi tiếp xúc
với điều kiện bất lợi thì tốc độ lọc thức ăn là một điều chỉnh sinh lý để tối ưu hóa
việc hấp thu năng lượng. Trong tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sinh học
của sinh vật vùng triều thì sự kết hợp ảnh hưởng của nhiệt độ và
độ mặn là quan
trọng nhất (Helmuth et al., 2006). Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh
hưởng kết hợp của độ mặn và nhiệt độ đến tốc độ lọc thức ăn, chỉ số độ béo và tỷ
lệ sống của nghêu Meretrix lyrata ở các kích cỡ khác nhau.
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nghêu giống
Nghêu giống được thu tại xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉ
nh Tiền Giang ở
độ mặn 12‰ và chuyển về trại thực nghiệm Động vật Thân mềm, Khoa Thủy sản,
8 30 32
9 30 34
Tạp chí Khoa học 2012:23b 265-271 Trường Đại học Cần Thơ
267
2.3 Các chỉ tiêu theo dõi trong quá trình thí nghiệm
Các yếu tố môi trường như độ mặn và pH xác định 3 lần/ngày bằng khúc xạ kế và
máy đo pH. Hàm lượng NO
2
, TAN được kiểm tra 10 ngày/lần bằng phương pháp
so màu (Test SERA, Đức).
Mật độ tảo trong bể nuôi được xác định bằng buồng đếm Improved Neubauer mỗi
ngày vào lúc cho ăn (T
o
) và 24 giờ sau khi cho ăn (T
24
). Tốc độ lọc tảo của nghêu
được tính dựa trên công thức: ACR (tb/g/ngày) = (T
o
– T
24
)/khối lượng nghêu
trong bể nuôi
Chỉ số độ béo của nghêu được xác định lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm theo
công thức: Chỉ số độ béo = (Khối lượng thịt sấy khô×10
5
)/L
3
. Trong đó L: chiều
dài nghêu.
Hình 1: Biến động nhiệt độ (
o
C) trong bể nuôi theo thời gian
Giá trị pH biến động giữa các nghiệm thức trong khoảng 8,17-8,5, trung bình pH
giữa các nghiệm thức tương đối ổn định và dao động trong ngày không đáng kể
(~0,5). Độ kiềm cao ở 3 nghiệm thức 1, 2 và 3 (90mg CaCO
3
/L) và ở các nghiệm
thức khác đạt (81mg CaCO
3
/L). Theo Boyd (1998) độ kiềm thích hợp cho sinh vật
phát triển từ 75-150 mg CaCO
3
/L.
Tạp chí Khoa học 2012:23b 265-271 Trường Đại học Cần Thơ
268
Bảng 2 : Biến động các yếu tố môi trường nước ở các nghiệm thức
Nghiệm thức
pH
TAN
(mg/L)
N-N02-
(mg/L)
Độ kiềm
(mgCaC0
3
/L)
Sáng Chiều
trường nước sẽ giảm xuống. Khi lượng Ôxy hòa tan giảm nghêu sẽ tăng cường
dòng chảy qua mang để hấp thu thêm Ôxy phục vụ nhu cầu cơ thể và do đó kéo
theo tốc độ lọc tảo sẽ tăng lên.
Bảng 3: Tốc độ lọc thức ăn của nghêu trong thời gian thí nghiệm (10
4
tb/g/ngày)
10‰ 20‰ 30‰ Trung bình
28
o
C 0,75±0,04
Aa
0,82±0,03
Aa
1,66±0,08
A
b
1,08±0,44
AB
32
o
C 0,83±0,09
ABa
0,82±0,02
Aa
1,47±0,12
A
b
1,04±0,33
A
34
a độ mặn.
Tạp chí Khoa học 2012:23b 265-271 Trường Đại học Cần Thơ
269
3.3 Tỷ lệ sống của nghêu
Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của nghêu từ kích thước nhỏ đến lớn đều chịu tác động
của nhiệt độ và độ mặn, trong đó tỷ lệ sống đạt thấp nhất ở nhiệt độ 34
o
C kết hợp
với độ mặn 30‰. Đặc biệt sau 30 ngày thí nghiệm tỷ lệ sống của nghêu lớn là 0%
và khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) so với nghêu trung (37,8%) và nghêu nhỏ (60%).
Khi kết hợp nhiệt độ 28
o
C và độ mặn 10‰ thì nghêu nhỏ và nghêu trung có tỷ lệ
sống cao nhất (100%). Jost và Helmuth (2006) chỉ ra rằng loài vẹm Geukensia
demissa có tỷ lệ chết tăng cao tại các bãi triều trong mùa hè. Các tác giả cũng ghi
nhận ảnh hưởng của kích thước lên nhiệt độ cơ thể, do diện tích tiếp xúc bề mặt cơ
thể lớn làm cho vẹm nóng lên chậm hơn nhưng sẽ giữ nhiệt lâu hơn. Đối với nghêu
Bến Tre khi kết hợp độ
mặn 30‰ và nhiệt độ 34
o
C thì tỷ lệ chết của nghêu trưởng
thành cao hơn nghêu giống. Điều này có thể do kích thước cơ thể lớn hơn, lớp vỏ
dày hơn dẫn đến quá trình giữ nhiệt độ cơ thể lâu hơn so với nghêu có kích thước
nhỏ và lớp vỏ mỏng hơn, các căng thẳng về sinh lý của nghêu lớn sẽ kéo dài hơn
trong khi chúng đồng thời phải huy động nhiều năng lượng hơn cho
điều hòa áp
suất thẩm thấu. Khi nhiệt độ và độ mặn tăng, các tác động bất lợi đối với cơ thể
nghêu diễn ra một cách đồng thời có thể đã dẫn đến sự cố trong một số phản ứng
sinh hóa của cơ thể, làm cạn kiệt năng lượng dự trữ và suy giảm sức chịu đựng của
Aa
93,3±6,6
Â
a
77,7±3,8
A
b
90,4±10,6
A
34
o
C 80,0±6,7
Ba
71,1±10,2
Ba
60,0±6,7
Ba
70,4±11,1
B
Trung bình 93,3±10,5
a
87,4±13,9
a
75,5±13,3
b
Nghêu trung
28
o
Trung bình 91,8±8,7
a
88,8±11,1
a
60,7±19,3
b
Nghêu lớn
28
o
C 46,7±0,0
Aa
42,2±3,8
Aa
0
A
b
29,6±22,3
A
32
o
C 31,1±3,8
Ba
35,5±3,8
Aa
0
A
b
o
C kết hợp với các độ mặn 10, 20 và 30‰ (Bảng 5). Khi nhiệt độ tăng lên thì độ
béo của nghêu có chiều hướng giảm xuống nhưng khác biệt này không có ý nghĩa
thống kê (p>0,05). Ở những nghiệm thức có độ mặn 10‰ thì phần lớn nghêu có
chỉ số độ béo cao hơn so với ở độ mặn 20‰ hoặc 30‰. Tuy nhiên, xu hướng này
thể hiện không rõ ở nghêu nhỏ nuôi ở độ mặn 20‰ hoặc nghêu lớn ở 10‰.
Heilmayer et al. (2008) nghiên cứu ảnh hưởng kết hợ
p của nhiệt độ và độ mặn lên
tình trạng cơ thể của hàu Crassostrea virginica như tổng chỉ số năng lượng sinh
học và tỷ lệ RNA/DNA. Kết quả nghiên cứu cho thấy các loài hai mảnh vỏ có khả
năng chịu được độ mặn cực đại ở nhiệt độ thấp.
Bảng 5: Chỉ số độ béo của nghêu ở các độ mặn và nhiệt độ khác nhau (%)
Nhiệt độ 10‰ 20‰ 30‰ Trung bình
Nghêu nhỏ
28
o
C 0,71±0,10 0,73±0,12 0,65±0,08 0,70±0,10
a
32
o
C 0,67±0,05 0,69±0,16 0,63±0,09 0,67±0,10
a
34
o
C 0,59±0,06 0,65±0,08 0,60±0,10 0,61±0,08
a
Trung bình 0,66±0,21
a
0,69±0,12
a
C 0,59±0,12 0,61±0,09 - 0,40±0,34
a
34
o
C 0,53±0,08 0,56±0,09 - 0,36±0,31
a
Trung bình 0,57±0,12
a
0,60±0,09
a
-
Các số liệu trong cùng một cột không khác biệt thống kê (P>0,05). ( - : nghêu chết, không thu được số liệu)
4 KẾT LUẬN
Tỷ lệ sống của nghêu đạt cao ở nhiệt độ 28
o
C và độ mặn 10‰ ở ba kích cỡ từ nhỏ
đến lớn (100%, 100% và 46,7%).
Nhiệt độ (34
o
C) kết hợp với độ mặn cao (30‰) dẫn đến tỷ lệ sống thấp ở nghêu
loại nhỏ (60%); nghêu trung (37,8%) và nghêu lớn (0%) sau 30 ngày thí nghiệm.
Trong cùng điều kiện môi trường về nhiệt độ và độ mặn thì chỉ số độ béo và tỷ lệ
sống của nghêu giống ít bị ảnh hưởng hơn nghêu trưởng thành.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anderson R.D., Anderson J.W. 1975. Effects of salinity and selected petroleum hydrocarbons
on osmotic and chloride regulation of the American oyster Crassostrea virginica.
Physiological Zoology 48: 420–430.
Beals C.B. 2004. Clearance rates and particle seclectivity in the hard clam, Mercenaria
mercenaria, from warm water habitats. Master Thesis, Florida University.
Tạp chí Khoa học 2012:23b 265-271 Trường Đại học Cần Thơ
feeding performance of a top intertidal predator. Limnol. Oceanogr. 53: 1562-1573.
Shumway S.E. 1996. Natural environmental factors. In: Kennedy, V.S., Newell, .I.E., Eble,
A.F. (Eds.), The Eastern Oyster Crassostrea virginica. Maryland Sea Grant College,
College Park: 467–513.
Somero G.N. 2002. Thermal Physiology and Vertical Zonation of Intertidal Animals: Optima,
Limits, and Costs of Living. INTEG. AND COMP.BIOL. 42: 780–789.
Tang B., Liu B., Yang H., Xiang J. 2005. Oxygen consumption and ammonia-N excretion of
Meretrix meretrix in different temperature and salinity. Chinese Journal of Oceanology
and Limnology, vol 2 (4): 469-474.
VASEP. (Ngày cập nhật 20/5/2012)