ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
============
HOÀNG THỊ CƯƠNG
LUẬN VĂN CAO HỌC
ĐỀ TÀI :
Đông Dương Tạp chí trong tiến trình
hiện đại hóa Văn học Việt Nam 30 năm
đầu thế kỷ XX Người hướng: P
GS,TS. Trần Ngọc Vương
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Trần Ngọc Vương
Hà Nội – 09/2011
MỤC LỤC Trang
Phần 1 Mở đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Cấu trúc của luận văn 7
Phần 2 Nội dung 9
Chương 1
Vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt
Nam 30 năm đầu thế kỷ XX
chiều dài lịch sử của đất nước Việt Nam. Cuộc xâm lược của thực dân Pháp như
một cơn lốc xoáy dữ dội, lật tung đến từng “ngõ ngách sâu kín nhất” và cuốn tất
cả vào vòng xoáy ấy. Xã hội Việt Nam trên mọi bình diện, từ đờ
i sống kinh tế,
chính trị, văn hoá cho tới nơi thâm căn cố đế, khó lung lay nhất, đó là tư tưởng,
tâm hồn con người đang rơi vào thảm cảnh thuộc địa hóa. Nhưng không buông
xuôi, người Việt Nam, đặc biệt là những thành phần cấp tiến lúc bấy giờ đã
“tiến hành một cuộc nỗ lực tìm kiếm thực sự”, trong khả năng có thể, để hướng
Việt Nam phát triể
n theo con đường riêng, mà theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc
Vương nhận xét, thì đó là “Một cuộc vận động chuyển mình trong quằn quại
đau đớn và lột xác bắt buộc” nhưng sáng tạo đã diễn ra. Chính vì thế, khi đánh
giá về những “thành quả” đạt được trong giai đoạn lịch sử mang tính chất giao
thời nhạy cảm này, sự vận động chuyển mình của nền văn học Việt Nam càng
nổi b
ật và có ý nghĩa lớn lao. Những nỗ lực tìm kiếm trên phương diện văn học
đã dẫn tới thành tích “ngoạn mục”: Văn học Việt Nam chuyển từ nền văn học
trung đại mang tính khu vực sang nền văn học hiện đại mang tính toàn cầu, vận
động theo quỹ đạo hiện đại hóa của thế giới.
Chúng ta đều biết, văn học viết truyền thống kéo dài gầ
n một thiên niên
kỷ (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX), là nền văn học mang tính chất bác học, chủ
yếu dành cho tầng lớp quý tộc và trí thức nhà nho trong xã hội phong kiến, chỉ
phục vụ cho một những tầng lớp nhỏ hẹp nhất định. Đó là một nền quốc văn chủ
yếu sử dụng hệ thống văn tự chữ Hán được g
ắn với hệ tư tưởng Tam giáo, với
quan niệm “thi ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo” cao xa mông lung, khiến đông đảo
quần chúng, đặc biệt là tầng lớp nông dân khó tiếp cận được.
1
chủ bút giai đoạn giao thời trong lịch sử nước nhà, thì vai trò của báo chí trong
quá trình hiện đại hoá văn học là không thể phủ nhận.
2
Cho tới nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của báo chí
theo hướng sưu tầm, khảo sát ở các trường hợp cụ thể hoặc các nhóm trường
hợp, tuy nhiên với trường hợp Đông Dương tạp chí và Nguyễn Văn Vĩnh thì ít
được đề cập tới. Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại” đã phân tích, lưu ý từ
rất sớm rằng Đăng cổ tùng báo, Đại Việt tân báo, Nông c
ổ mín đàm… là những
tờ báo ra đời sớm nhất, còn ít có tính cách văn học, hoặc nếu có, cũng không
đáng kể, và việc truyền bá học thuật tư tưởng Âu Tây thì cũng mới đi những
bước khởi đầu, mang tính giới thiệu, làm quen. Phải đến khi Đông Dương tạp
chí và sau đó là Nam phong tạp chí ra đời thì “Quốc văn bắt đầu thịnh, bắt đầu
có cái giọng hoa mỹ, d
ồi dào và chú trọng về tư tưởng” và “phải nhờ hai nhóm
này, học thuật tư tưởng Đông, Tây mới được truyền bá một cách đúng mực
bằng quốc văn” [13;30]. Nhiều tác giả nghiên cứu văn học sử khác cũng đều có
cùng quan điểm thừa nhận: sự ra đời của Đông Dương tạp chí (năm 1913) là
“cột mốc” quan trọng đánh dấu mối quan hệ
mật thiết giữa báo chí với văn học,
được xem là tờ báo mang tính chất chuyên ngành văn học đầu tiên của Việt
Nam, là nơi quy tụ được nhiều cây bút xuất sắc như: Tư Trung Thân Trọng Huề
(1869-1925), Bưu Văn Phan Kế Bính (1875-1921), Đông Châu Nguyễn Hữu
Tiến (1875-1941), Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác (1881-1945), Trọng Hữu Nguyễn
Đỗ Mục (1882-1951), Lệ Thần Trần Trọng Kim (1882-1953), Ưu Thời
Mẫn Phạm Duy Tốn (1883-1924), Tản
Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939),
Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (1889-1947), Thượng Chi Phạm Quỳnh (1892-
1945),… Đặc biệt phải nhắc đến Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936),
ức thực nghiệp như canh nông, công nghệ và tuyên truyền cho
chính phủ bảo hộ”. Khi phân tích về những nội dung trong mục tiêu mà Đông
Dương tạp chí đề ra, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung nhận định: “Tất cả các
mục tiêu mà Đông Dương tạp chí đề ra đều giống với mục tiêu của phong trào
Đông kinh nghĩa thục, trừ việc tuyên truyền cho chính phủ bảo hộ”. Có lẽ vấn
đề chính trị nh
ạy cảm này chính là nguyên nhân khiến cho nhiều nhà nghiên cứu
khi đánh giá về vai trò của Đông Dương tạp chí cũng như những đóng góp của
Nguyễn Văn Vĩnh vẫn còn quá dè dặt hoặc chỉ lướt qua.
4
Đương thời, Đông Dương tạp chí và chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh được đề
cao ở một bộ phận độc giả nhưng cũng gặp phải không ít những đả kích, hằn
học, mỉa mai ở một bộ phận độc giả khác. Tội danh phản quốc, bán nước, bồi
bút… mà một số người gán cho Nguyễn Văn Vĩnh, hẳn một phần không nhỏ là
do ông làm chủ bút cho t
ờ Đông Dương tạp chí. Theo “lời chứng” của Phan
Khôi thì: “Nhưng, theo sự phẩm-bình chặt-chịa của một hạng người trong
nước, hạng người ấy đại-khái là nhà nho, thì ông Vĩnh dù có là hào kiệt đi
chăng nữa không là quân-tử… hạng người ấy tuy có phục ông Vĩnh về đằng tài
nhưng họ không lượng thứ cho ông về đằng tâm”. Đánh giá về Đông Dương
tạp chí và Nguyễn V
ăn Vĩnh, Nguyễn Văn Trung đã viết: “Nguyễn Văn Vĩnh có
thể là một nhà báo giỏi, nhưng lại rất vụng về chính trị. Ngôn ngữ của Nguyễn
Văn Vĩnh không những không tranh thủ được ai, đặc biệt giới sĩ phu, mà còn
gây thêm đố kỵ, hận thù”.
Ngay cả những nghiên cứu gần đây nhất cũng ít nhắc tới Đông Dương
tạp chí và Nguyễn Vă
n Vĩnh, hoặc có nhắc tới thì cũng chỉ dừng lại ở một vài ý
kiến chung chung, những bài nghiên cứu trong khuôn khổ của bài báo như:
xuất bản (1913) đến năm (1917). Thông qua đó chúng tôi sẽ hệ thống, phân tích
và đánh giá sự đóng góp của Đông Dương tạp chí cho tiến trình hiện đại văn
học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề cập đến nhân vật được xem là linh hồn
của Đông Dương tạp chí, Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh. Hơn nửa thế kỷ qua
có khá nhiều luồng ý kiến đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh, và hiện đang được
các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử như Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê…
khẳng định là một học giả lớn, cần được hiểu cho đ
úng đắn hơn, toàn diện và
sâu sắc hơn.
Vì thế, trong khuôn khổ có hạn của luận văn, chúng tôi trên cơ sở khảo
sát tổng quan sau đó sẽ tập chung phạm vi nghiên cứu ở nội dung của Đông
Dương tạp chí và những bài viết, những tác phẩm, tác giả có liên quan đến các
vấn đề, khía cạnh trên.
6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Những năm gần đây, việc nghiên cứu, đánh giá, xem xét lại một cách
công bằng thoả đáng, nhằm khẳng định giá trị đích thực của những vấn đề thuộc
về giai đoạn lịch sử giao thời nhạy cảm của đất nước thường xuyên được đề cập.
Nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đương nhiên ghi nh
ận Đông
Dương tạp chí là “cột mốc” đầu tiên, quan trọng trong nền văn học hiện đại Việt
Nam, nhưng chưa được nhìn nhận một cách đầy đủ, đúng mức và có hệ thống.
Người làm luận văn đặt vấn đề “Vai trò của Đông Dương tạp chí trong tiến
trình hiện đại hoá văn học Việt Nam” không nhằm mục đích ngợi ca, đề cao,
đúng h
ơn, không áp đặt hay xuất phát từ một thái độ, một sự phán xét, quy chụp
tiên nghiệm, mà trên quan điểm khách quan, người viết sẽ nghiêm túc thực hiện
một số việc sau:
1. Lý do chọn đề tài.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu.
6. Cấu trúc luận văn.
Phần nội dung (gồm 3 chương):
Chương I
: Vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hóa văn học hiện
đại Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX.
8
Chương II: Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hoá văn học
Việt Nam.
Chương III: Những đóng góp của chủ bút Đông Dương tạp chí - Nguyễn
Văn Vĩnh
Phần Kết luận
Và thư mục tham khảo.
PHẦN NỘI DUNG
Chương I
học phương tây, xuất hiện một lớp nhà văn mới, dần đi vào con đường chuyên
nghiệp.
Ba là, phải nói đến sự phổ biến mạnh mẽ của chữ quốc ngữ từ n
ửa sau thế
kỷ XIX đã chắp cánh cho nền văn học Việt Nam.
10
Bốn là, trong phạm vi văn hóa văn học, thông qua các trường học, nhà
xuất bản, các cơ quan báo chí, việc giới thiệu, dịch thuật, truyền bá khoa học,
tư tưởng, văn hóa văn học của các nước phát triển, đặc biệt là của Pháp, đã có
đóng góp rất lớn vào quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam.
Báo chí được xem là một trong những tiền đề tác động đến quá trình hình
thành và hiện đại hóa nền v
ăn học Việt Nam. Thực tế cũng cho thấy, trong rất
nhiều các công trình biên khảo, nghiên cứu văn học sử của Dương Quảng Hàm,
Bùi Đức Tịnh, Lê Trí Viễn, Trần Đình Hượu, Nguyễn Đình Chú, Lê Chí Dũng,
Bằng Giang… đều không thể bỏ qua mảng báo chí quan trọng này. Song việc đề
cập đến vai trò của báo chí cũng chỉ dừng lại trong những đề mục hoặc “gạch
đầu dòng”. Ở luậ
n văn này, chúng tôi muốn nhắc đến vai trò báo chí theo hướng
nghiên cứu từ vĩ mô đến vi mô, từ tổng quan đến cụ thể. Nghĩa là từ vai trò của
báo chí nói chung, sau đó cụ thể hóa trong một tờ báo “cột mốc”, có tính chất
“chuyên ngành”, cuối cùng là hoạt động của chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh, để
hướng độc giả hiểu sâu hơn về vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hóa
nền văn học dân tộc. Như
ng trước hết, chúng tôi sẽ tổng quan lại diện mạo văn
học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX giúp người đọc nắm được một cách sơ bộ
về giai đoạn giao thời này.
1. Diện mạo nền văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX
Từ những năm 40 của thế kỷ XX, đã có rất nhiều công trình, biên khảo
XIX, thậm chí có thể là trước đó. Nhà nghiên cứu văn học sử Phạm Thế Ngũ
trong “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” cho rằng “Từ thời Trịnh -
Nguyễ
n, cuối thế kỷ XVIII đã có một số người Việt công giáo dùng tiếng tiếng
Việt để sáng tác thơ văn (theo đường lối văn Nôm nho gia)”. Bắt đầu từ đầu thế
kỷ XX, cùng với những luồng tư tưởng mới (từ tân thư, tân văn, tri thức có
nguồn gốc phương Tây); với phong trào vận động cải cách, duy tân (Duy Tân,
Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục); cùng với sự ra đời của nhiề
u tờ báo trên cả
ba miền Bắc - Trung - Nam có nội dung phong phú, văn học và các nhà hoạt
động, sáng tác văn học dần phát triển và ngày càng rầm rộ, bức tranh văn học
hiện đại Việt Nam theo đó cũng dễ dàng được nhận diện rõ ràng hơn và bao
quát hơn “Những dấu hiệu báo trước sự ra đời của một thứ văn học mới tuy đã
12
xuất hiện từ những năm tám mươi của thế kỷ XIX, chủ yếu bộc lộ qua những
hoạt động văn học của Trương Vĩnh Ký và những người xa gần chịu ảnh hưởng
từ ông, nhưng chỉ tới đầu thế kỷ XX, sự biến động đồng bộ, cũng xét theo những
tiêu chí loại hình, mới thực sự rõ nét”. Dưới đây, chúng tôi phác họa nh
ững nét
chính của bức tranh văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX dựa trên
những phân tích sơ bộ về sự chuyển đổi của các tiêu chí hệ hình văn học, ngôn
ngữ văn học, quan niệm thẩm mỹ, các dòng văn học và đội ngũ tác giả, hệ thống
thể loại.
1.1. Sự chuyển đổi hệ hình văn học từ trung đại sang hiện đại là b
ước
ngoặt lịch sử sau một chặng đường dài gần mười thế kỷ, kể từ khi nền văn học
viết chính thức ra đời (thế kỷ X). Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương, khi nghiên
cứu về sự chuyển đổi của nền văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX,
đã nhấn mạnh tới sự chuyển đổi quỹ đạo và h
ọ bắt đầu tìm kiếm, lựa chọn những hình thức nghệ thuật, ngôn
ngữ để biểu hiện, dẫn tới những lý tưởng, quan niệm cũ tưởng như đã ăn sâu
vào tiềm thức đã có những biến đổi “điều đó đã khiến cho văn học dưới tay của
các nhà nho yêu nước đầu thế kỷ trở thành một thực thể đặc biệt”
.
Trong khi đó, những quan niệm mới của văn chương bắt đầu nảy nở,
không gian văn học được mở rộng và mang tính đại chúng. Nghĩa là văn
chương dành cho đại chúng, lấy đời sống hiện thực và những con người của
cuộc sống đời thường làm trung tâm của các sáng tác, đồng thời làm đối tượng
phục vụ. Ý thức và quan niệm về một nền quốc văn ngày càng trở
nên mãnh
liệt, mà biểu hiện lớn nhất chính là cương quyết dứt bỏ chữ Hán, hoan nghênh
việc dùng chữ quốc ngữ để viết văn, “Có thể nói, từ đây ta mới có một nền văn
học quốc gia duy nhất và thuần túy”. Một trong những quan niệm nổi bật và táo
bạo bắt đầu xuất hiện, đấy là việc xem văn chương như là một nghề để kiếm
sống, người cầm bút viết văn là những nhà chuyên môn chuyên nghiệp và trung
tâm của văn học được chuyển ra các tòa báo, nhà xuất bản, hiệu sách chứ không
còn thu hẹp trong các khu lều chõng, thầy đồ, thi hữu như thời văn học trung đại
nữa.
14
Cùng với những đổi mới quan niệm, lý tưởng thẩm mỹ, so với văn học
truyền thống, hệ thống chủ đề trong văn học giai đoạn này không chỉ mang
nhiều yếu tố khác biệt mà còn mở rộng, thiết lập những chủ đề mới. Không chỉ
nói tới cái cao thượng, giáo hóa,… mà còn hướng tới những chủ đề về tiến hóa
xã hội, về yêu nước, về nh
ững vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống đời thường
hàng ngày.
1.2. Như đã nói, vì là giai đoạn mang tính chất giao thời, nên nền văn học
ba mươi năm đầu thế kỷ vận động theo hai khuynh hướng, khuynh hướng cách
ăn hóa hơn là chính trị, quan tâm đáp ứng nhu cầu của độc
giả. Bắt đầu từ vận dụng chất liệu ngôn ngữ mới, chữ quốc ngữ, để dịch thuật
văn chương phương Tây, chủ yếu là văn chương Pháp, qua mô phỏng rồi đi đến
sáng tác thuần Việt. Gần hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX, những sáng tác văn học
bằng chữ
quốc ngữ còn thưa thớt và mờ nhạt, chủ yếu là tập trung vào dịch
thuật, biên khảo, nghiên cứu. Văn học chữ Hán Nôm, văn học Tàu, nhiều nhất là
văn hóa, văn học Pháp được dịch hay phiên âm ra chữ quốc ngữ thường xuyên
xuất hiện trên các báo, tạp chí, sách mở ra một quá trình luyện tập câu văn,
tìm tòi, kiểm nghiệm và sáng tạo để bước sang thập kỷ thứ ba, văn học quốc
ngữ bắt đầu nở rộ với hàng loạt tác phẩm có giá trị định hình cho hệ thống chủ
đề, thể loại mới của văn học hiện đại với những tên tuổi tiêu biểu như: Hoàng
Ngọc Phách, Trọng Khiêm, Nguyễn Trọng Thuật, Đông Hồ, Tương Phố, Thế
Lữ, Thái Phỉ, Tam Lang, Vũ Đình Long, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ
Trọng Phụng,…
1.3. Văn h
ọc hiện đại khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ XX vẫn đang trên
hành trình tìm kiếm những hình thức thể loại có thể đáp ứng được yêu cầu
truyền tải nội dung, bộc lộ những quan điểm tư tưởng thẩm mĩ mới một cách tự
do, linh hoạt. Nghiên cứu về tác giả, tác phẩm, chúng ta dễ dàng nhận thấy văn
học giai đoạn này chư
a thoát khỏi dấu ấn của những thể loại đã trở thành điển
phạm trong văn chương truyền thống như: văn chính luận, thơ chữ Hán, diễn ca
lục bát, ngâm khúc, hát nói, vè, liệt truyện. Đặc biệt, sự tương tác, dung hòa
giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại là đặc điểm nổi bật của hệ thống thể
16
loại giai đoạn này, cụ thể trong các thể loại: truyện dịch, truyện thơ quốc ngữ,
du kí, thơ viết bằng văn vần. Văn học thời Bộ này được sáng tác trên cả hai
chất liệu ngôn ngữ, chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên, chúng ta cũng dễ
17
đầu được dấy lên, nhưng do còn quá mới mẻ lại là chủ kiến của thực dân nên nó
ít được hưởng ứng, chỉ phát triển trong một thời gian ngắn rồi lụi dần. Sau đó,
khi Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí ra đời ở Bắc bộ, với những hoạt
động tích cực của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh thì loại chữ theo ký tự la
tinh này dần trở nên phong phú và đ
a dạng, lại được giới cựu học “thông quan”,
văn chương quốc ngữ mới có tính phổ cập. Ý thức về gây dựng một nền quốc
văn thức tỉnh, những hoạt động làm biên khảo, luyện câu văn xuôi và tập tành
sang tác thông qua dịch thuật văn học trong và ngoài nước.
Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, văn học Việt Nam được sáng tác
bằng cả hai ngôn ngữ
, chữ Hán và chữ quốc ngữ, càng về sau, lực lượng sáng
tác và những tác phẩm bằng chữ quốc ngữ ngày càng nhiều hơn. Cuối cùng chữ
quốc ngữ đã trở thành thứ ngôn ngữ biểu hiện, là “chất liệu nền” được văn học
hiện đại lựa chọn.
Như vậy, mấy thập niên đầu thế kỷ XX là một “giai đoạn quá độ”. Các nhà
nghiên cứu tiêu biể
u như Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng gọi là giai đoạn “giai
đoạn giao thời” chuẩn bị cho việc xác lập từng bước, từng bộ phận, xây dựng
nền móng cho cả “tòa nhà” văn học hiện đại. Thành quả nổi bật, kết quả “chín
muồi” thì phải tới sau 1932, nhưng đương nhiên sẽ không có kết quả đó nếu
không có sự chuẩn bị tích cực, ráo riết, không có những “công lao bị
quên lãng”
của mấy mươi năm trước đó.
2. Vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân
tộc
2.1. Sự ra đời của báo chí
2.1.1. Ngay sau khi đặt chân lên đất Nam bộ, 29-9-1861 thực dân Pháp đã cho
trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật, văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ, dân tộc học, khảo
cổ… xuất hiện. Đặc biệt, những tờ báo thuần túy văn chương, hoạt kê như Con
rắn mối (1880), Con muỗi Đông Dương (1887) ở Nam Bộ và Sinh hoạt Đông
Dương (1887) ở Bắc Bộ, mở đầu cho dòng báo giải trí thuộc địa và nhiều thể
loạ
i khác về thương mại, chính trị của tư nhân ra đời. Bên cạnh bộ phận báo chí
phục vụ độc giả Pháp quân sự và dân sự, Pháp cũng cho đào tạo một đội ngũ
19
viết báo người Việt để phục vụ cho ý đồ xâm lăng văn hóa của chúng, bộ phận
báo chí tiếng Việt, tiếng Hán được thiết lập.
2.1.2. Tại thời điểm lịch sử lúc bấy giờ, báo chí đối với Việt Nam còn khá mới
mẻ, xa lạ, hơn nữa báo chí lại là một trong những sản phẩm của thực dân Pháp,
do đó, việc tiếp nhận báo chí đối với Vi
ệt nam mà nói, ban đầu là sự khiên
cưỡng, cưỡng bức. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nhờ những ưu thế của
mình, báo chí dần dần nhận được sự quan tâm, để ý của các nhà yêu nước, của
những người mang tư tưởng đổi mới xã hội. Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương
trong “Giáo trình văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX” khi nhắc tới
sự vận động tinh thần của ng
ười Việt Nam trong ba thập niên đầu thế kỷ XX đã
viết: “Trong khi thực dân Pháp nỗ lực tiếp tục cuộc xâm lăng, nô dịch sang lĩnh
vực tinh thần… thì những người yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ lại tiến hành tìm
kiếm sự thật, tìm kiếm tri thức và phương pháp hành động cho mình bằng việc
thông qua sách, báo chữ Hán (do các tác giả Trung Quốc hoặc Nhật Bản dịch,
biên soạn) để làm quen với các kiệ
t tác của các tác giả thuộc về chính Pháp”.
Như vậy, những nhà nho, chí sĩ yêu nước, tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan
Châu Trinh… dù không mặn mà với báo chí trong nước (do Pháp xuất bản)
nhưng lại rất quan tâm đến sách báo từ tiếng Trung Quốc, Nhật Bản (dù nguồn
đồng văn nhật báo được xuất bản hàng tuần, phát hành khắp Bắc và Trung Bộ.
Người sáng lậ
p là Schneider, thực tế do Nha kinh lược chủ trì và hai cây bút chủ
công là Đào Nguyên Phổ và Hàn Thái Dương. Nội dung thường dịch đăng
những nghị định của thống sứ Bắc Bộ và tuyên truyền cho đường lối nô dịch,
ngoài ra tờ báo còn tổng hợp bài viết của các nhà nho: Vũ Phạm Hàm, Phan Kế
Bính, Kiều Oánh Mậu… khảo về chế độ thi cử, xã thôn, quan chế.
Đăng cổ tùng báo, 1907 Đại Nam đồng văn nhật báo còn có thêm dòng
ch
ữ Đăng cổ tùng báo (là tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Hà Nội), ngoài bài in bằng
chữ Hán, trong in bằng hai thứ chữ quốc ngữ (chủ bút là Nguyễn Văn Vĩnh) và
chữ Hán (chủ bút là Đào Nguyên Phổ), chủ báo vẫn là Schneider. Đăng cổ tùng
báo ra hàng tuần với quan niệm: “Làm giầu tức là ái quốc, khai thông dân trí,
dân khí là yêu nước”. Người cầm bút khéo léo lợi dụng khe hở hợp pháp đưa
21
nội dung của tờ báo thành “trung tính”, một mặt hô hào thực nghiệp, chống
những thói hủ tục, mê tín dị đoan, kêu gọi hợp quần hợp tác; một mặt ca ngợi
công ơn khai hóa của Pháp, đả kích người yêu nước chống Pháp. Về phương
diện nào đó, trong một khoảng thời gian nhất định, Đăng cổ tùng báo được coi
là hơi thở của Đông Kinh nghĩa thục. Sau 9 tháng với 34 số báo ra, khi Đông
Kinh ngh
ĩa thục bị khủng bố, Đăng cổ tùng báo cũng bị xiết chặt trở lại với
tiếng nói chính thống và nghèo nàn của một tờ công báo do phủ toàn quyền nắm
giữ có tên là Việt Nam quan báo (1907-1908), sau thành Việt Nam công báo
(1909-1912). Dù sao, Đăng Cổ tùng báo đã đạt đến nghệ thuật báo chí: tin
nhanh gọn, đảm bảo tính thời sự, nội dung phong phú, tầm mắt vươn xa; “chữ
quốc ngữ vớ
i thể văn tường thuật, phóng sự, nghị luận ngày càng thông thoát”
Lục tỉnh tân văn (1907-1944) được xuất bản ở Nam Bộ, trên danh nghĩa