LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Để đáp ứng yêu cầu hội nhập nhập quốc tế và triển khai thực hiện Luật
hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005, ngày 31/12/2005, Tổng cục Hải quan đã
ban hành Quyết định số 2148/QĐ-TCHQ về Quy chế áp dụng quản lý rủi ro
trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương
mại, có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/01/2006. Qua ba năm triển khai thực hiện,
ngành Hải quan đã có những bước chuyển biến quan trọng trong việc tạo thuận
lợi thương mại đồng thời đảm bảo kiểm soát việc tuân thủ pháp luật hải quan.
Những kết quả này đã được lãnh đạo Bộ Tài chính, các Bộ, ngành liên quan và
cộng đồng doanh nghiệp đánh giá và ghi nhận. Tuy vậy, bên cạnh những thành
tựu đã đạt được vẫn còn tồn tại không ít những hạn chế, vướng mắc; đặc biệt là
tình hình lợi dụng cơ chế tạo thuận lợi để buôn lậu, trốn thuế và các hành vi
khác vi phạm pháp luật hải quan đặt ra yêu cầu tăng cường hơn nữa năng lực
kiểm tra, kiểm soát của ngành Hải quan thông qua việc xây dựng, phát triển
phương pháp quản lý hải quan hiện đại - phương pháp quản lý rủi ro.
Trong những năm gần đây, tình hình buôn lậu, gian lận thương mại có
nhiều diễn biến phức tạp, đa dạng về thành phần, phương thức, thủ đoạn. Các
đối tượng buôn lậu thường có sự móc nối, câu kết, hoạt động có tổ chức, ổ
nhóm, thành lập các đường dây giữa các đối tượng trong nước và nước ngoài.
Phạm vi hoạt động và mức độ hậu quả do các vi phạm gây nên có xu hướng gia
tăng trên tất cả các địa bàn trong cả nước, làm ảnh hưởng xấu đến tiến trình phát
triển kinh tế của đất nước và đời sống của nhân dân. Trước tình hình đó, việc
nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương
mại được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Để đạt được điều đó, ngành Hải quan
cần tổ chức tốt công tác quản lý rủi ro làm nền tảng cho hoạt động nghiệp vụ hải
quan. Đây là một trong những công tác quan trọng hàng đầu cần được nghiên
cứu, phát triển trong giai đoạn hiện nay.
1
Mặc dù là một công tác nghiệp vụ cơ bản và rất quan trọng, nhưng thực tế
cho thấy, còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức hải quan ở các cấp, đơn
tổng hợp kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác
quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ của ngành Hải quan.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu một số đối
tượng sau đây:
+ Lý luận và kinh nghiệm xây dựng và áp dụng quản lý rủi ro của Hải
quan một số quốc gia trên thế giới;
+ Quá trình áp dụng quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam;
+ Thực trạng công tác quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.
- Phạm vi nghiên cúu: trong phạm vi toàn quốc gắn với các hoạt động
nghiệp vụ hải quan; thời gian nghiên cứu từ năm 2006 đến 2009.
4. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các bảng
biểu, nội dung luận văn được phân bổ thành 3 chương:
Chương 1: Quản lý rủi ro trong tiến trình hiện đại hóa Hải quan.
Chương 2: Thực trạng thực hiện quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan ở
Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường quản lý rủi ro nhằm nâng cao
hiệu quả công tác của Hải quan Việt Nam
CHƯƠNG I: QUẢN LÝ RỦI RO TRONG TIẾN TRÌNH
HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN
1.1. Quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan
1.1.1. Khái quát chung về quản lý rủi ro
3
1.1.1.1. Khái niệm rủi ro và quản lý rủi ro
Theo tài liệu hướng dẫn “ISO/IEC 73:2002, Quản lý rủi ro - các khái niệm
và hướng dẫn sử dụng tiêu chuẩn” của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO thì rủi ro
là sự kết hợp của xác suất xảy ra của một sự kiện và hậu quả của sự kiện đó. Rủi
ro xảy ra có thể đem lại lợi ích nhưng cũng có thể gây ảnh hưởng, đem lại các
kết quả xấu, không mong đợi.
phải phân tích tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài
Việc thực hiện quản lý rủi ro được thực hiện theo một quy trình cụ thể,
trong đó, đánh giá rủi ro được định nghĩa là một quy trình tổng thể bao gồm các
hoạt động phân tích rủi ro và đánh giá rủi ro. Phân tích rủi ro bao gồm việc xác
định rủi ro, mô tả rủi ro và dự đoán rủi ro. Xác định rủi ro được thực hiện nhằm
xác định tất cả các rủi ro có thể nhìn thấy được cũng như các rủi ro tiềm ẩn, có
thể ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động của tổ chức.
Mô tả rủi ro là việc trình bày đầy đủ về tất cả các mặt, các nội dung của
các rủi ro đã được xác định theo cấu trúc cụ thể, ví dụ chúng ta có thể sử dụng
mẫu bảng để trình bày, mô tả các rủi ro đã xác định. Các mô tả rủi ro này sẽ
được sử dụng trong quá trình đánh giá rủi ro được cụ thể hơn. Mô tả rủi ro có
thể bao gồm các nội dung về tên rủi ro, quy mô rủi ro, đặc tính tự nhiên của rủi
ro, gợi ý các giải pháp để giảm thiểu rủi ro…Dự đoán rủi ro là việc dự đoán quy
mô rủi ro, hậu quả có thể xảy ra của rủi ro, gồm cả các tác động tích cực và các
tác động tiêu cực, và dự đoán mức độ tác động của rủi ro cao, trung bình, hay
thấp.
Sau khi hoàn thành việc phân tích rủi ro cần thiết phải thực hiện đánh giá
rủi ro. Đánh giá rủi ro là việc thực hiện so sánh các rủi ro đã dự đoán với các
điều kiện tác động rủi ro như mối quan hệ chi phí lợi nhuận, các yêu cầu pháp
lý, các yếu tố kinh tế và xã hội Kết quả đánh giá rủi ro sẽ được sử dụng để đưa
ra các quyết định về mức độ ưu tiên của rủi ro và lựa chọn ra rủi ro nào có thể
chấp nhận được, rủi ro nào không thể chấp nhận, và phải có biện pháp xử lý rủi
ro.
5
Các kết quả phân tích rủi ro, đánh giá rủi ro phải được báo cáo rõ ràng, và
với mỗi đối tượng sử dụng báo cáo khác nhau thì các thông tin về rủi ro sẽ được
sử dụng khác nhau. Và từ đó, người quản lý dựa trên các thông tin trên để đưa ra
các quyết định xử lý rủi ro phù hợp. Xử lý rủi ro là quy trình chọn lựa và thực
hiện các biện pháp để giảm thiểu các tác động tiêu cực của rủi ro, cũng như đưa
ra các định hướng giảm thiểu rủi ro trong tương lai như phòng tránh rủi ro,
kế để giảm thiểu các rủi ro trên” (trích dẫn theo định nghĩa tại Phụ lục tổng quát
- Chương 6 - hướng dẫn Công ước KYOTO sửa đổi năm 1999). Nguy cơ không
tuân thủ pháp luật hải quan có thể đến từ trong nội bộ ngành Hải quan (rủi ro
bên trong). Những rủi ro này thường là những cản trở tạo thuận lợi thương mại.
Chúng có nguồn gốc chủ yếu từ hệ thống pháp luật, quy trình, thủ tục không phù
hợp, cứng nhắc của cơ quan hải quan hoặc nảy sinh từ những bất cẩn, thiếu trách
nhiệm hoặc không liêm chính của công chức thừa hành. Những rủi ro này cản
trở rất lớn đến mục tiêu của cơ quan hải quan, nhưng thường thì nó ít được quan
tâm hoặc có quan tâm nhưng không đúng mức. Loại nguy cơ thứ hai có nguồn
gốc từ các đối tượng (có liên quan) ngoài ngành Hải quan (rủi ro bên ngoài).
Các đối tượng thường được xem xét bao gồm các tổ chức xã hội, các cơ quan,
đơn vị thuộc các bộ ngành có liên quan, các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có
liên quan hoạt động hải quan… Đối tượng là tổ chức cá nhân tham gia hoặc có
liên quan đến việc tham gia hoạt động hải quan được xác định là đối tượng
chính của công tác hồ sơ quản lý rủi ro.
Khái niệm về quản lý rủi ro Hải quan EU: “Rủi ro có nghĩa là khả năng
một điều gì đó sẽ xảy ra, ngăn chặn việc áp dụng các biện pháp xử lý của cộng
đồng hoặc của quốc gia liên quan đến đối xử hàng hóa của Hải quan”. Để giảm
thiểu việc xảy ra các rủi ro, cơ quan Hải quan có thể sử dụng quản lý rủi ro như
một kỹ thuật để đưa ra các ưu tiên hiệu quả và phân bố hiệu quả hơn các nguồn
lực cần thiết cho việc duy trì sự cân bằng giữa kiểm soát và tạo thuận lợi cho
thương mại hợp pháp.
7
Vì vậy việc quản lý rủi ro có thể được định nghĩa như là một kỹ thuật để
xác định có hệ thống và thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để giới hạn khả
năng rủi ro xảy ra. Các chiến lược quốc tế và quốc gia có thể được thực hiện
hiệu quả bằng cách thu thập dữ liệu, thông tin, phân tích dữ liệu, và đánh giá rủi
ro, mô tả hành động và theo dõi các kết quả đầu ra.
1.1.2.2. Nội dung quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan
Đối với các cơ quan Hải quan, luôn có thành phần rủi ro trong kiểm soát
mại trong khi đó vẫn đảm bảo rằng việc lưu thông quốc tế đối với hàng hóa,
phương tiện vận tải, hành lý và các hàng hóa khác được kiểm soát hợp lý. Cơ
Bối cảnh chung
Theo dõi
đánh giá
lại, thực
hiện các
biện pháp
tuân thủ
Xác định rủi ro
Phân tích rủi ro
Đánh giá rủi ro, xác
định rủi ro ưu tiên
Xử lý rủi ro
9
quan Hải quan phải xác định các mức độ rủi ro trong bối cảnh các ưu tiên trong
nước và quốc tế. Cơ quan Hải quan có trách nhiệm thực hiện các quy định của
cộng đồng liên quan đến thương mại quốc tế, không chỉ phục vụ các mục đích
thu thuế hay thương mại mà còn phục vụ các mục đích môi trường, chống bán
phá giá, bảo vệ người tiêu dùng, văn hóa và nông nghiệp. Những trách nhiệm
này là đặc điểm chính được các cơ quan Hải quan phải đưa vào xem xét, nghiên
cứu trong bối cảnh chung.
- Xác định rủi ro trong lĩnh vực hải quan là việc thực hiện trả lời các câu
hỏi cái gì, tại sao và làm như thế nào mà các rủi ro xảy ra. Đây sẽ là cơ sở dữ
liệu cho việc phân tích rủi ro tiếp theo. Tại bước này thông tin đóng vai trò sống
còn. Tất cả các thông tin có sẵn đều phải được kiểm tra như các nguồn dữ liệu,
các thông tin về rủi ro tiềm năng…và phảI được đánh giá về mức độ chính xác,
khi cần thiết có thể được thông báo tới các đơn vị tác nghiệp. Các thông tin này
có thể rất giá trị đối với các đơn vị lập pháp để giúp họ xem xét các thay đổi
pháp luật. Các nguồn thông tin phục vụ thành phần này có thể là các luồng
để đưa ra những hành động xử lý cụ thể trong tương lai. Rủi ro cao có thể gia
tăng và có thể có ảnh hưởng nghiêm trọng. Các hành động ứng phó với mức độ
rủi ro cao phải rõ ràng đối với các cán bộ quản lý và phải được thống nhất trong
các kế hoạch kiểm soát Hải quan. Mức độ rủi ro trung bình ít có khả năng gia
tăng và có ảnh hưởng đỡ nghiêm trọng hơn. Mức độ rủi ro thấp là mức độ rủi ro
được chấp nhận và có thể được đánh giá bằng các chuẩn mực hoặc các thủ tục
thường lệ hoặc thậm chí không cần có các hành động xử lý.
- Khi thực hiện xử lý rủi ro, cơ quan Hải quan phải thực hiện xây dựng kế
hoạch và xử lý những rủi ro được lựa chọn. Chấp nhận các rủi ro thấp với việc
xử lý tối thiểu. Sau khi thực hiện xử lý rủi ro, cơ quan Hải quan phải thực hiện
theo dõi và đánh giá lại quá trình thực hiện, hiệu quả và hiệu lực của hệ thống
quản lý rủi ro và có những điều chỉnh phù hợp để nâng cao hiệu quả của quy
11
trình quản lý rủi ro. Các bước trên phải thực hiện thống nhất, liên tục, và thường
xuyên.
1.2. Hiện đại hóa Hải quan và quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan
1.2.1. Nội dung cải cách, hiện đại hóa Hải quan
1.2.1.1. Khái quát chung về Cải cách, hiện đại hóa hải quan
Theo từ điển tiếng Việt thì cải cách là sửa đổi cho hợp lý, phù hợp với
tình hình mới; còn hiện đại hóa là làm cho có tính chất tinh xảo, đầy đủ tiêu
chuẩn của một nền khoa học tiên tiến nhất.
Cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của
thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn thành
trong một thời gian nhất định. Bản chất của cải cách là hoạt động có tính chủ
động của con người. Các chương trình cải cách có hai nhiệm vụ rất rõ ràng, đó
là uốn nắn những sai trái trong chương trình hành động xã hội được phát hiện,
tạo nên tiến bộ về nhận thức xã hội; và bổ sung vào chương trình hành động xã
hội những yếu tố mới xuất hiện do đòi hỏi của sự phát triển của tự nhiên hay
phát triển mới của cuộc sống.
Cải cách hải quan là những công việc liên quan đến sửa đổi, bổ sung, điều
hướng chỉ có một cơ quan thu ngân sách, sáp nhập cơ quan Hải quan và cơ quan
Thuế nội địa, xóa bỏ nhiều cấp quản lý trung gian, có quan hệ chặt chẽ hơn với
các đối tượng thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.
- Cơ quan Hải quan phải đổi mới chính sách phát triển nguồn nhân lực
cho ngành Hải quan, tập trung vào các chính sách như tuyển dụng, đào tạo, thực
hiện liêm chính hải quan…
- Cuối cùng, cơ quan Hải quan phải nâng cao hiệu quả của công tác quản
lý thông tin. Đây là lĩnh vực rất quan trọng trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa
hải quan. Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng, giúp cho việc quản lý dữ
liệu, trao đổi, phân tích thông tin nhanh chóng, chính xác và hiệu quả.
Việc thực hiện cải cách, hiện đại hóa hải quan được thực hiện theo 4 giai
đoạn gồm:
13
+ Giai đoạn khởi đầu giúp cho việc đánh giá sơ bộ ban đầu, định hướng
cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra chương trình cải cách, hiện đại hóa
hợp lý, phù hợp;
+ Giai đoạn hai là giai đoạn nghiên cứu, lập kế hoạch, giúp cơ quan hải
quan xác định nhu cầu, các ưu tiên, đánh giá khả năng nội lực và ngoại lực và
lập kế hoạch để giải quyết các vấn đề đã được xác định;
+ Tiếp đến là giai đoạn thực thi kế hoạch, giai đoạn này yêu cầu phải có
sự tham gia của tất cả các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hải quan như các bộ
ngành, cộng đồng doanh nghiệp
+ Cuối cùng là giai đoạn đánh giá kết quả. Giai đoạn này sẽ xác định mức
độ thành công của cả chương trình cải cách, hiện đại hóa hải quan, và cũng sẽ
đưa ra phương hướng hoạt động cho thời gian tiếp theo của hoạt động hiện đại
hóa hải quan.
Như vậy, ta thấy rằng hiện đại hóa Hải quan là việc hiện đại hóa một cách
toàn diện về cả cơ sở hạ tầng và phương pháp quản lý hải quan hiện đại trên cơ
sở triển khai áp dụng các quy trình tự động hóa trong thủ tục Hải quan hay còn
gọi là thủ tục hải quan điện tử, phát triển có sự áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro
hiện và sửa đổi các văn bản pháp luật hải quan còn chồng chéo, không phù hợp,
gây khó khăn cho người thực hiện; xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật về hải quan phù hợp và hiệu quả trong mục tiêu nâng cao hiệu quả
kiểm tra, kiểm soát các đối tượng quản lý của hải quan. Đồng thời, trong xu thế
phát triển ngày nay của hoạt động thương mại quốc tế, cũng như hiện đại hóa
công tác hải quan, việc hướng dẫn thực hiện, tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng,
nâng cao sự hiểu biết về pháp luật Hải quan cho các đối tượng trong và ngoài
ngành Hải quan là một yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu. Thực hiện quản lý rủi ro cho
phép cơ quan Hải quan phân bổ được nguồn nhân lực thực hiện các nhiệm vụ
trên.
Mặt khác, việc thực hiện quản lý rủi ro với kỹ thuật mới hiện đại, áp dụng
công nghệ thông tin, sử dụng các hệ thống phần mềm với đầy đủ các chức năng,
15
trong đó có chức năng thống kê, kết xuất số liệu tạo thuận lợi hơn cho cơ quan
Hải quan thực hiện tốt hơn vai trò thống kê nhà nước về Hải quan.
Như vậy, thực hiện quản lý rủi ro góp phần giúp cơ quan hải quan có thể
thực hiện tốt hơn các vai trò quản lý nhà nước của mình
1.2.2.2. Tiết kiệm chi phí, nguồn lực
Đối tượng quản lý chủ yếu của ngành Hải quan là các hoạt động thương
mại quốc tế. Khi thương mại quốc tế phát triển từ các hình thức trao đổi trực tiếp
đến thương mại điện tử như ngày nay, ngành Hải quan tất nhiên cũng buộc phải
tự hoàn thiện mình theo hướng cải cách, hiện đại hóa để đáp ứng các yêu cầu
mới này. Việc thực hiện cải cách, hiện đại hóa hải quan nhằm đáp ứng yêu cầu
vừa tạo thuận lợi, vùa quản lý chặt chẽ các hoạt động thương mại trong nước và
quốc tế, cũng như tiến tới việc thực hiện thống nhất các chuẩn mực và thông lệ
quốc tế về hải quan. Thực hiện cải cách hiện đại hóa hải quan nhằm làm cho
công tác quản lý hải quan phù hợp với sự phát triển của hệ thống thương mại
hiện đại, đồng thời làm cho hoạt động của hải quan đạt hiệu quả cao hơn. Mục
tiêu quan trọng của hoạt động Hải quan là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa
chi phí và đảm bảo sự tuân thủ. Cơ quan Hải quan không những phải làm giảm
hàng hóa thì cũng tạo điều kiện rất nhiều cho các doanh nghiệp, cá nhân chấp
hành tốt pháp luật Hải quan nói riêng và pháp luật nói chung. Vì mỗi lô hàng bị
kiểm tra thực tế hàng hóa, chủ hàng hay doanh nghiệp nhập khẩu phải chịu rất
nhiều chi phí giao dịch mới phát sinh như chi phí lưu kho bãi, chi phí vận
chuyển, bốc xếp…mà những chi phí này không phải là nhỏ. Việc phát sinh thêm
các chi phí trên kéo theo giá thành hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp tăng
lên, làm cho sức cạnh tranh của hàng hóa của doanh nghiệp bị hạn chế.
Mặt khác, khi thực hiện quản lý rủi ro, việc đánh giá các lô hàng hóa có
độ rủi ro cao hay thấp, cần kiểm tra thực tế hay không là kết quả của một quy
trình chuẩn, thống nhất phân tích và đánh giá. Việc này được thực hiện một cách
khách quan, trên cơ sở các tiêu chí đã được xây dựng chuẩn, nên không thể có
sự tác động từ phía các cán bộ Hải quan, giảm bớt sự tiếp xúc trực tiếp của cán
17
bộ Hải quan đối với doanh nghiệp, hạn chế tình trạng nhũng nhiễu của cán bộ
hải quan đối với doanh nghiệp, cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, xuất
nhập cảnh. Do đó, các doanh nghiệp cũng sẽ tiết kiệm được các chi phí phát sinh
ngoài, không hiệu quả và không cần thiết.
1.2.2.3. Nâng cao tính tự tuân thủ pháp luật Hải quan nói riêng và pháp
luật nói chung của người khai hải quan
Thực hiện quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan với việc áp dụng kỹ
thuật tiên tiến, công nghệ thông tin cho phép cơ quan Hải quan có thể xác định
được các giao dịch có mức độ rủi ro cao hoặc có nguy cơ rủi ro, từ đó có các
biện pháp hợp lý để kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hơn. Nếu doanh nghiệp không
tuân thủ pháp luật Hải quan nói riêng, pháp luật nói chung thì khi thực hiện các
thủ tục hải quan sẽ bị hệ thống quản lý rủi ro đánh giá có mức độ rủi ro cao, phải
thực hiện kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ. Khi đó, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó
khăn hơn trong hoạt động xuất nhập khẩu, có thể thời gian thông quan hàng hóa
chậm hơn, hoặc sẽ phải chịu thêm nhiều chi phí phát sinh nếu bị kiểm tra thực tế
hàng hóa, từ đó làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa hiện nay, yếu tố cạnh tranh là yếu tố
trò rất quan trọng, và với việc đưa vào sử dụng các kỹ thuật công nghệ thông tin
hiện đại cho phép ngành Hải quan sẽ thu thập được các thông tin đầy đủ, chính
xác hơn. Việc phân tích, đánh giá rủi ro trong quy trình quản lý rủi ro cũng cần
phải áp dụng một chương trình công nghệ thông tin hiện đại, với các chức năng
phân tích, đánh giá để có thể đưa ra các kết quả chính xác, và khách quan. Ngoài
ra, với việc áp dụng công nghệ thông tin, các kết quả quản lý rủi ro sẽ nhanh
chóng được đưa vào hệ thống thông quan, làm cơ sở khách quan cho quyết định
thông quan nhanh chóng của ngành hải quan, từ đó đáp ứng được yêu cầu đẩy
mạnh các hoạt động thương mại quốc tế hiện nay.
1.3. Quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan tại một số quốc gia trên
thế giới
19
1.3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Trong vài thập kỷ gần đây, Trung Quốc đã và đang phát triển vượt bậc về
thương mại quốc tế, Năm 2004, Hải quan Trung Quốc đã thực hiện thông quan
hơn 2,06 tỷ tấn hàng hóa xuất, nhập khẩu có trị giá lên đến 1.115 tỷ USD, 34.64
triệu lượt phương tiện xuất nhập cảnh, và 232,59 triệu lượt hành khách, tăng
(theo thứ tự) là 9.9 lần, 8.27 lần, 10 lần so với năm 1990. Trước sự phát triển
vượt bậc trên, đồng thời các rủi ro cũng ngày càng tăng lên, Hải quan Trung
Quốc đã tiến hành thực hiện xây dựng và đưa vào áp dụng Quản lý rủi ro trong
nghiệp vụ Hải quan.
Quá trình xây dựng và đưa vào áp dụng Quản lý rủi ro được chia làm 03
giai đoạn gồm: giai đoạn giới thiệu, áp dụng thực tế, và phát triển:
* Giai đoạn 1: giới thiệu (1994-1997): Thực hiện nghiên cứu khái niệm và
phương pháp quản lý rủi ro, đồng thời xây dựng hệ thống kiểm tra và phân tích
dữ liệu cho Hải quan Trung Quốc, là cơ sơ ban đầu thực hiện quản lý rủi ro.
Giai đoạn này, Hải quan Trung Quốc đã đạt được một số thành tựu đáng
chú ý như: nghiên cứu, và xây dựng ban đầu hệ thống kiểm tra hải quan có khả
năng ngăn chặn và kiểm soát rủi ro thông quan; nâng cao tính tự động của quy
trình thông quan, với hệ thống phân tích các dữ liệu đã được phân hóa, nhằm
cấp độ gian lận, vi phạm của người nhập khẩu và cách xử lý rủi ro trong quy
trình thủ tục. Mục tiêu to lớn của công tác này đã chưa đạt được đầy đủ, đó là
hướng đến cải tổ được các nguồn lực quản lý hải quan, nâng cao hiệu quả trong
công tác ngăn chặn và kiểm soát rủi ro.
* Giai đoạn phát triển (2003-2010):
Mục tiêu của giai đoạn này là việc áp dụng hoàn thiện công tác quản lý
rủi ro trong giai đoạn 2 của chiến lược phát triển, thực hiện quản lý rủi ro trong
toàn bộ ngành Hải quan.
Với việc tham gia vào WTO, nền kinh tế Trung Quốc ngày càng mở rộng
với nền kinh tế thế giới. Quản lý hải quan cũng đang đối mặt với áp lực và thách
thức rất lớn, sự tăng nhanh của thương mại quốc tế. Trong điều kiện mới, Hải
21
quan Trung Quốc đã thực hiện bước 2 của kế hoạch chiến lược Hiện đại hóa Hải
quan. Thực hiện áp dụng quản lý rủi ro giai đoạn 2 nhằm cải cách toàn diện và
thực hiện cuộc cách mạng đối với hệ thống quản lý, mô hình quản lý, phương
pháp quản lý, đồng nghĩa với việc tổ chức lại nguồn lực quản lý gồm cơ cấu tổ
chức, thông tin, kỹ thuật…Với việc áp dụng giai đoạn 2 chiến lược, Hải quan
Trung Quốc có thể nâng cao hơn hiệu quả và chất lượng công tác quản lý, kiểm
soát và ngăn chặn hiệu quả việc buôn bán chất kích thích và cả các rủi ro không
tuân thủ phù hợp với nền kinh tế Trung Quốc đang thực hiện toàn cầu hóa và
phát triển nhanh chóng.
Trong quy trình quản lý rủi ro, nhằm nâng cao cấp độ tự động và thông tin
quản lý rủi ro, Hải quan Trung Quốc đã tập trung vào việc áp dụng CNTT và các
công cụ phân tích. Hiện tại, các hệ thống mà cơ quan hải quan đang áp dụng
trong công tác quản lý rủi ro chủ yếu là: hệ thống phân luồng, hệ thống thực
hiện xác định và xây dựng hồ sơ rủi ro, hệ thống đánh giá tuân thủ pháp luật, hệ
thống kiểm soát và phân tích thuế giá, hệ thống cơ sơ quản lý rủi ro hải quan.
Về hệ thống phân luồng: Hệ thống này đã được phát triển từ đầu năm
1998. Theo những chỉ số trước đây về công tác kiểm soát hải quan, thu thuế, hạn
chế thương mại, chỉ số rủi ro, hệ thống này có thể phân biệt, kiểm tra và xác
không ngừng của thương mại quốc tế trên cơ sở áp dụng quy trình quản lý trên
cơ sở áp dụng kỹ thuật công nghệ thông tin, đặc biệt liên quan đến thông quan
hải quan.
Siscomex - hệ thống thống nhất về thương mại quốc tế là hệ thống đầu
tiên trên thế giới thực hiện thống nhất kiểm soát hải quan đối với cảng biển,
cảng hàng không và các cửa khẩu nội địa, cho phép thực hiện thu thuế tự
động.
Bắt đầu thực hiện từ 1994 đối với doanh nghiệp xuất khẩu, và từ năm
1997 đối với doanh nghiệp nhập khẩu, hệ thống SISCOMEX đã thực hiện kiểm
tra được trung bình 3 triệu nghiệp vụ một ngày, với một khối lượng cơ sở dữ
liệu rất lớn.
Việc thực hiện kiểm soát thống nhất đối với hoạt động xuất nhập khẩu
thương mại, quản lý tài chính và chuyển đổi ngoại tệ, hệ thống SISCOMEX đã
23
sử dụng hợp lý các thông tin có được, không phải sử dụng nguồn dữ liệu dưới
dạng giấy tờ.
Theo quan điểm của cơ quan Hải quan, sự thay đổi to lớn nhất là việc
thực hiện chọn lọc tự động các nghiệp vụ phát sinh trên cơ sở kiểm tra theo 4
cấp độ khác nhau, đưa ra lô hàng hóa được thông quan một cách tự động.
Việc lựa chọn dựa trên cơ sở các tham số như thuế, trị giá, phân loại, xuất
xứ…của hàng hóa nhập khẩu, mã số doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất
nhập khẩu để nhằm mục tiêu phát hiện ra các hoạt động cần kiểm soát chặt chẽ
hơn, ngoài ra cũng thực hiện lựa chọn ngẫu nhiên các hoạt động nhằm giảm bớt
rủi ro của hệ thống.
Mỗi tham số hay tập hợp tham số sẽ được đưa vào hệ thống, làm cơ sở
cho hệ thống thực hiện phân luồng kiểm tra, quyết định quy trình thực hiện kiểm
tra đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Hệ thống thực hiện phân luồng thành 04
luồng là luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ, luồng xám. Trong đó, luồng xanh
cho phép hàng hóa được thông quan một cách tự động, luồng vàng thì phải thực
hiện kiểm tra chi tiết hồ sơ hải quan, còn luồng đỏ thì cán bộ hải quan phải thực
yêu cầu mới của nền kinh tế phát triển và mở cửa, KCS đã phát triển hệ thống
SAS (Smuggling Alert System) - hệ thống cảnh báo buôn lậu, để có thể áp dụng
quản lý rủi ro nâng cao với tỷ lệ phát hiện vi phạm cao hơn, đặc biệt là đối với
hàng hóa nhập khẩu. Hệ thống này được bắt đầu xây dựng từ năm 2002, với tên
gọi ISS (Integrated Surveillance System) - Hệ thống theo dõi tích hợp và đến
năm 2005 được phát triển thành hệ thống SAS.
Từ năm 2002 đến năm 2004, với sự nỗ lực thực hiện, hải quan Hàn Quốc
đã đạt được một số kết quả tốt như thời gian thông quan giảm từ 9,6 ngày xuống
còn 5,5 ngày, và thời gian kiểm tra thực tế đối với hành khách giảm từ 40 phút
xuống còn 25 phút [29, trang 3]
Tuy nhiên, cơ quan Hải quan Hàn Quốc cũng gặp phải một số vấn đề khó
khăn trong việc phát hiện các lô hàng vi phạm pháp luật. Trong vài thập niên
gần đây, hàng hóa nhập khẩu vào Hàn Quốc đã tăng ít nhất 02 lần, trong khi số
25