MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY,THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 20


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MÔI TRƯỜNG - ĐÔ THỊ
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế và Quản lý đô thị
Đề tài :
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC QUẢN LÝ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY,THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện : ĐỖ THỊ HƯƠNG
MSSV : CQ491288
Lớp : KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
Khoá : 49
Giảng viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN KIM HOÀNG
Cán bộ hướng dẫn : TRẦN PHÚ THIẾT
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTGT Hệ thống giao thông
HTGTĐT Hệ thống giao thông đô thị
GTĐT Giao thông đô thị
KCHTĐT Kết cấu hạ tầng đô thị
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
ĐBGPMB Đền bù giải phóng mặt bằng
CN – XDCB Công nghiệp – Xây dựng cơ bản
DV – TM Dịch vụ – Thương mại
NN Nông nghiệp
TTPT Trung tâm phát triển

một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, cần ưu tiên đầu tư phát
triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề cho phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa -
hiện đại hóa đất nước.”
Trong điều kiện nước nhà đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, việc phát triển hệ thống giao thông có vai trò đặc biệt quan trọng. Thực tế
cho thấy những vùng, những điểm có tốc độ đô thị hóa càng nhanh thì tốc độ phát
triển kinh tế càng mạnh, mật độ dân cư càng đông, mật độ xây dựng càng nhiều và hệ
thống giao thông càng bộc lộ nhiều yếu kém. Như thế vai trò của các nhà quản lý càng
được đề cao như là nhân tố không thể thiếu để phát triển và đảm bảo hệ thống giao
thông vận hành thông suốt.
Cầu Giấy nằm ở cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, là một trong những quận
có tốc độ đô phát triển mạnh mẽ nhất, là nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông quan
trọng của thủ đô. Nhận thấy tầm quan trọng của hệ thống giao thông đối với sự phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, công tác quản lý và phát triển hệ thống giao thông đã
được Quận đẩy mạnh. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển không ngừng và phức tạp
của nền kinh tế, công tác quản lý còn bộc lộ nhiều yếu kém. Trong thời gian thực tập
ở Ủy ban nhân dân quận, em đã được tìm hiểu và nhận thấy tính cấp thiết của việc
quản lý hệ thống giao thông đảm bảo điều kiện để phát triển kinh tế nhất là với quận
có tốc độ đô thị hóa nhanh như quận Cầu Giấy. Chính vì vậy em chọn đề tài “Một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hệ thống giao thông đô thị
trên địa bàn Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho
chuyên đề của mình với mong muốn đem đến cái nhìn tổng quan hơn về công tác
quản lý hệ thống giao thông, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả của công tác trên.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Tập trung làm rõ cơ sở lý luận của công tác quản lý hệ thống giao thông đô thị.
- Tìm hiểu thực trạng hệ thống giao thông và thực trạng công tác Quản lý hệ
thống giao thông trên địa bàn quận Cầu Giấy. Đồng thời, tập trung phân tích nguyên
nhân của những yếu kém, tồn tại.

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ
HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
ĐÔ THỊ VÀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
Đô thị
1.1.1.1 Khái niệm
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên
ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một
miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện.
Trong khái niệm này cần lưu ý một số điểm sau đây:
- Trung tâm tổng hợp: Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai
trò và chức năng nhiều về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
- Trung tâm chuyên ngành: Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi
chúng có vai trò và chức năng chủ yếu về một mặt nào đó như công nghiệp cảng, du
lịch – nghỉ dưỡng, đầu mối giao thông…
- Một đô thị là trung tâm tổng hợp của một vùng hay của một tỉnh có thể
cũng là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc toàn quốc. Do đó, việc
xác định trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí
của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định.
- Lãnh thổ đô thị gồm: Nội thành hoặc nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại
ô. Các đơn vị hành chính của nội thị gồm: Quận và phường, còn các đơn vị hành
chính của ngoại thị gồm: Huyện và xã.
- Quy mô dân số: Quy mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn
4000 người. Riêng ở miền núi, quy mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn
2000 người. Quy mô này chỉ tính trong nội thị.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một
đô thị không nhỏ hơn 60%. Tỷ lệ này chỉ tính trong nội thị. Lao động phi nông nghiệp
bao gồm:
 Lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
 Lao động xây dựng cơ bản.

Đô thị là các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của vùng và của cả nước, có
vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế. Đô thị có các đặc trưng như:
- Các vấn đề xã hội luôn luôn tiềm ẩn: Tội phạm, tệ nạn xã hội, thiên tai,
hỏa hoạn, dịch bệnh, ô nhiễm mội trường…
- Các thách thức về kinh tế luôn được đặt ra: Cung cấp dịch vụ, đất đai, nhà
ở, đảm bảo công ăn việc làm, giao thông, đi lại…
- Cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh hoặc đã được quy hoạch và hoàn chỉnh từng
phần, mật độ các công trình cao là những đặc trưng cơ bản của đô thị. Cơ sở hạ tầng,
mật độ dân số cao và quy mô dân số là những yếu tố tạo ra những lợi thế, hiệu quả
kinh tế về tính tập trung của đô thị.
- Cơ cấu lao động, sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa cao
là tiền đề cơ bản của việc nâng cao năng suất lao động, là cơ sở đời sống kinh tế - xã
hội của đô thị.
- Cấu trúc xã hội: Xã hội công nghiệp khác làng, xã, người dân đô thị gắn
với cuộc sống thương mại, công nghiệp.
1.1.1.3 Phân loại đô thị
Việc phân loại đô thị căn cứ vào Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày
07/05/2009. Nghị định này thay thế Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5/10/2001
của Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị. Nghị định có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 02 tháng 7 năm 2009, quy định như sau:
Mục đích phân loại đô thị: Việc phân loại đô thị nhằm:
1. Tổ chức, sắp xếp và phát triển hệ thống đô thị cả nước.
2. Lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị.
3. Nâng cao chất lượng đô thị và phát triển đô thị bền vững.
4. Xây dựng chính sách và cơ chế quản lý đô thị và phát triển đô thị.
Phân loại đô thị: Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I,
loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
công nhận.
1. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.

1.1.2.2 Các phương pháp và công cụ quản lý đô thị
Thông thường người ta phân chia các phương pháp thành các nhóm như sau:
- Các phương pháp hành chính: Là các phương pháp tác động dựa vào các mối
quan hệ tổ chức của cả hệ thống quản lý Nhà nước về đô thị và hệ thống kỉ luật của
các tổ chức trong hệ thống thông qua các mệnh lệnh, văn bản quyết định hành chính
mang cưỡng chế.
- Các phương pháp kinh tế: Là các phương pháp tác động vào đối tượng quản lý
thông qua các lợi ích kinh tế để họ tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả cho
tổ chức, xã hội và bản thân họ.
- Các phương pháp đi vào tâm lý xã hội – giáo dục: Là các phương pháp tác
động vào nhận thức, tình cảm, tâm lý nhằm thuyết phục, nâng cao nhận thức và tính
tự giác của cán bộ công chức thực thi công vụ và đối tượng liên quan.
Ngoài ra, có thể kể đến các phương pháp khác như:
- Phương pháp quản lý theo mục tiêu.
- Phương pháp kế hoạch cuốn chiếu.
- Các phương pháp thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.
- Các phương pháp thương thuyết.
- Phương pháp quản lý thích nghi theo biến đổi của môi trường và theo xu thế
khoa học hóa.
Các công cụ quản lý như:
- Luật pháp và các quy định dưới luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và kế
hoạch hóa.
- Tài chính: Cấp ngân sách và đầu tư tài chính, trang thiết bị, hạ tầng kĩ thuật.
Các nguồn tài chính nước ngoài, các thuế và phí, huy động vốn trong nước.
- Dùng công cụ truyền thông cho các lĩnh vực đô thị (ví dụ truyền thông môi
trường, truyền thông văn hóa, truyền thông dân số, kế hoạch hóa gia đình…
1.1.2.3 Nội dung quản lý đô thị
Trong đô thị luôn tồn tại các nhu cầu ăn, ở, đi lại, làm việc, học tập, chữa bệnh,
vui chơi giải trí,…Các nhu cầu đó ngày càng đòi hỏi cao hơn, và các nhu cầu mới
thường xuyên phát sinh. Để đáp ứng các nhu cầu đó việc tổ chức xã hội đô thị một

chính trị học Mác – Lê nin hay còn gọi là cơ sở kinh tế có nghĩa là tập hợp các quan
hệ sản xuất, tạo thành cơ cấu kinh tế của một xã hội. Khái niệm “cơ sở hạ tầng” ở đây
nằm trong mối quan hệ với kiến trúc thượng tầng tạo nên một hình thái xã hội tương
ứng với nó. Còn khái niệm thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” của đô thị dùng để chỉ các công
trình có ý nghĩa nền móng của đô thị như: đường sá, cầu cống, hệ thống cấp thoát
nước, dịch vụ xã hội (dịch vụ công)...của đô thị.
1.2.1.2 Phân loại kết cấu hạ tầng đô thị
Theo “Quy chuẩn xây dựng Việt Nam, quy hoạch xây dựng của Bộ Xây
Dựng năm 2008” thì hạ tầng đô thị được chia ra làm hai loại:
- Hạ tầng kĩ thuật đô thị gồm:
+ Hệ thống giao thông
+ Hệ thống cung cấp năng lượng
+ Hệ thống chiếu sáng đô thị
+ Hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước
+ Hệ thống quản lý các chất thải, vệ sinh môi trường
+ Hệ thống nghĩa trang
+ Các công trình hạ tầng kĩ thuật khác
- Hạ tầng xã hội đô thị gồm:
+ Các công trình nhà ở
+ Các công trình công cộng, dịch vụ, y tế, văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao,
thương mại và các công trình dịch vụ đô thị khác
+ Các công trình quảng trường, công viên, cây xanh, mặt nước
+ Các công trình cơ quan hành chính đô thị
+ Các công trình hạ tầng xã hội khác.
Cách phân chia này dựa vào tính chất phục vụ của các hạ tầng đô thị và thuận
tiện cho việc phân chia cấp quản lý, ngành quản lý.
1.2.2 Hệ thống giao thông đô thị
1.2.2.1 Khái niệm và phân loại hệ thống giao thông đô thị
a. Khái niệm hệ thống giao thông đô thị
Hệ thống giao thông đô thị (HTGTĐT) là tập hợp của mạng lưới đường, các

Đường đô thị được sử dụng và khai thác vào các mục đích sau đây:
+) Lòng đường dành cho xe cơ giới và xe thô sơ;
+) Vỉa hè dành cho người đi bộ, để bố trí các công trình cơ sở hạ tầng kĩ thuật
như: Chiếu sáng, cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, vệ sinh đô
thị, các trạm đỗ xe, các thiết bị an toàn giao thông, để trồng cây xanh công cộng, cây
bóng mát hoặc cây xanh cách ly, để sử dụng tạm thời trong các trường hợp khi được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép như: Quầy báo sách, buồng điện thoại
công cộng, các dịch vụ công cộng, tập kết, trung chuyển vật liệu xây dựng, biển báo,
bảng tin, quảng cáo, trông giữ các phương tiện giao thông, tổ chức các hoạt động văn
hóa, xã hội, tuyên truyền.
Hệ thống đường sá có vai trò quyết định đến việc phát triển kinh tế đô thị. Việc
lựa chọn vị trí các công ty, nơi ở của các hộ gia đình phần lớn phụ thuộc vào hệ thống
đường sá và phương tiện đi lại trong thành phố. Thời gian, chi phí vận chuyển hàng
hóa và thời gian đi lại phụ thuộc vào độ dài và chất lượng mặt đường. Giá cả của các
mảnh đất phụ thuộc nhiều vào mức độ thuận tiện của nó về giao thông. Một mảnh đất
có thể tăng giá gấp nhiều lần nhờ có việc mở một con đường gần đó.
- Hệ thống giao thông tĩnh có chức năng phục vụ phương tiện và hành khách
(hoặc hàng hóa) trong thời gian không di chuyển. Nó gồm hệ thống các điểm đầu mối
giao thông của các phương thức vận tải khác nhau (các nhà ga đường sắt, các bến
cảng, ga hàng không, các bến vận tải đường bộ…), các bãi đỗ xe, các điểm đầu - cuối,
các điểm trung chuyển, các điểm dừng dọc tuyến. Hệ thống giao thông tĩnh là yếu tố
không kém phần quan trọng trong giao thông đô thị hiện đại. Tuy nhiên vấn đề này
vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
- Phương tiện giao thông được chia làm 2 nhóm là: Phương tiện giao thông công
cộng (gồm: ô tô bus, taxi, tàu điện cao tốc, tàu hỏa ngoại thành….) và phương tiện
giao thông cá nhân (xe ô tô cá nhân, xe đạp, xe máy…).
1.2.2.2 Vai trò của hệ thống giao thông đô thị
Hệ thống giao thông đô thị có thể ví như huyết mạch trong một cơ thế sống là đô
thị, nếu huyết mạch được lưu thông tốt thì sẽ là cơ sở thúc đẩy đô thị phát triển mạnh
mẽ, ngược lại một hệ thống giao thông không đồng bộ, không xứng tầm sẽ là lực cản

- Đảm bảo trật tự, ổn định xã hội
Hiệu quả của HTGTĐT trong lĩnh vực xã hội là hết sức to lớn và không thể tính
hết được. GTĐT với chức năng đảm bảo nhu cầu đi lại thường xuyên của người dân
đô thị như: đi làm, đi mua sắm, đi thăm viếng…Nếu công tác vận chuyển của GTĐT
bị ách tắc thì ngoài thiệt hại về mặt kinh tế còn ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, trật tự,
an toàn xã hội….
- Vấn đề giá thành chi phí cho vận chuyển và đi lại trong đô thị
Giá thành có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân vì nhu cầu và số
lần đi lại trong ngày của người dân là rất lớn. Việc đi lại bằng phương tiện cá nhân
như: ô tô cá nhân, xe máy, xe đạp hay bằng các phương tiện công cộng có ảnh hưởng
đáng kể đến chi phí của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội.
Ngoài việc đảm bảo nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân, HTGTĐT còn
phải đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả thông qua việc giảm chi phí đầu tư và giảm giá
thành chi phí cho vận chuyển và đi lại trong đô thị.
- Ngoài ra HTGTĐT còn đóng vai trò làm trục bố cục đô thị và tổ chức không
gian thành phố. Thông thường việc bố cục quy hoạch chung đô thị đều xoay quanh hệ
thống giao thông. Đặc biệt những tuyến đường phố chính, quan trọng đóng vai trò
quyết định trong việc xác định vị trí các công trình trọng điểm, xác định các trục bố
cục kiến trúc chính và phụ của đô thị. Hơn nữa các tuyến chức năng trên đường phố
với các thiết bị giao thông, ánh sáng, cây xanh là một tổng thể mang tính nghệ thuật
cao, làm cho cảnh quan và môi trường trên đường phố thêm phong phú, bộ mặt kiến
trúc đường phố thêm sinh động.
1.2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống giao thông đô thị
a. Nhóm các nhân tố tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất khác nhau tới sự phân bố và hoạt động của
các loại hình giao thông vận tải:
- Khí hậu và thời tiết có ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của các phương tiện
giao thông. Ví dụ vào mùa mưa lũ hoạt đông của các ngành vận tải gặp nhiều trở ngại,
thậm chí còn phải ngừng hoạt động hoàn toàn….
- Điều kiện tự nhiên quy định sự có mặt và vai trò của một số loại hình vận tải.

tầng giao thông phát triển một cách khoa học. Dù cho công tác tổ chức giao thông
cũng như phương tiện giao thông được đầu tư, phát triển tốt thì nó cũng không thể
phát huy hiệu quả tối đa trên nền tảng cơ sở hạ tầng yếu kém. Nếu không được đầu tư
thích đáng, không đáp ứng kịp tốc độ phát triển của các yếu tố khác như phương tiện
giao thông, nhu cầu đi lại của người dân…thì cơ sở hạ tầng giao thông sẽ trở thành
lực cản cho sự phát triển của đô thị. Và đây cũng là nguyên nhân chính gây ùn tắc
giao thông đô thị.
b.4 Phương tiện giao thông đô thị
Loại hình và mật độ phương tiện giao thông có ảnh hưởng rất lớn đến
HTGTĐT. Số lượng phương tiện giao thông quá lớn, vượt quá sức chịu đựng của
đường đô thị tất sẽ dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông. Vì thế cần phải phát triển loại
hình phương tiện giao thông công cộng để có thể giảm được một lượng đáng kể
phương tiện cá nhân lưu thông trên đường. Tuy nhiên cũng cần có những biện pháp
về mặt tổ chức, quản lý để khắc phục những nhược điểm của loại hình vận tải này.
b.5 Trình độ quản lý và ý thức của người tham gia giao thông
Thực tế cho thấy ở nhiều nước trên thế giới dù mật độ dân số đô thị rất lớn (như
ở Tokyo – Nhật Bản có mật độ dân số là 5748 người/km2) nhưng cũng hiếm khi xảy
ra ùn tắc giao thông do ý thức của người tham gia giao thông rất tốt. Ngược lại,khi ý
thức của người tham gia giao thông kém, không chấp hành đúng luật lệ giao thông,
không nhường nhịn nhau, cứ chen lấn xô đẩy thì sẽ càng làm cho tính trạng ùn tắc
giao thông trở nên nghiêm trọng hơn.
Để HTGT hoạt động đạt hiệu quả cao, ngoài việc nâng cao ý thức người tham
gia giao thông còn cần nâng cao trình độ quản lý. Trình độ quản lý yếu kém,không
phù hợp với yêu cầu phát triển sẽ gây lãng phí, cản trở sự phát triển của HTGTĐT.
1.3 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
1.3.1 Khái niệm quản lý HTGT đô thị
Từ khái niệm quản lý đô thị, ta có thể hiểu Quản lý HTGTĐT là tổng thể các
biện pháp, các chính sách, các công cụ mà chủ thể quản lý tác động vào các nhân tố
của HTGTĐT nhằm đảm bảo cho hệ thống này hoạt động có hiệu quả.
Có thể nói giao thông đô thị là một hệ thống chặt chẽ, các yếu tố cấu thành có sự

Quản lý kết cấu hạ tầng đô thị nói chung và quản lý HTGTĐT nói riêng tuân thủ
theo các nguyên tắc sau:
1.3.3.1 Tập trung dân chủ và phân cấp quản lý
Tập trung là giao quyền lực và nghĩa vụ cho người đứng đầu. Đại diện là nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nhà nước thống nhất quản lý mọi mặt của nền
kinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong việc quản lý và phát triển KCHTĐT.
Dân chủ nghĩa là mọi chủ trương, đường lối, chính sách phải được bàn bạc, trao
đổi, thống nhất và đại diện cho đông đảo quần chúng được biết. Do đó Chính phủ
cũng tạo điều kiện và mở rộng chức trách cho khu vực kinh tế tư nhân và cộng đồng
tham gia thực hiện các quyền dân chủ quản lý, thực hiện nghĩa vụ đóng góp và thu hút
mọi nguồn vốn, tăng thêm hiệu quả quản lý và phát triển KCHTĐT của quốc gia.
Phân cấp quản lý là sự phân định và xếp hạng các đô thị theo quy mô, vị trí hay
tầm quan trọng của từng đô thị trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng
hay địa phương để từ đó xác định các chính sách quản lý, đầu tư thích hợp. Ở nước ta,
trên cơ sở phân loại, đô thị được phân cấp quản lý hành chính như sau:
- Đô thị loại 1 và loại 2 chủ yếu do Trung ương quản lý
- Đô thị loại 3 và loại 4 chủ yếu do tỉnh quản lý
- Đô thị loại 5 chủ yếu do huyện quản lý
Giữa phân loại và phân cấp quản lý có mối quan hệ chặt chẽ. Nguyên tắc chung
là dựa vào phân loại để phân cấp quản lý. Đây là một trong những giải pháp mang
tính nguyên tắc nhằm phân định chức năng và quyền hạn quản lý của chính quyền các
cấp cho thích hợp, tránh sự trùng chéo hoặc bỏ sót.
1.3.3.2 Tiết kiệm và hiệu quả
Nguyên tắc này xuất phát từ thực tiễn sự tăng trưởng kinh tế phát sinh nhu cầu
phát triển KCHTĐT với một quy mô lớn – nhất là trong xu thế bùng nổ đô thị hóa
toàn cầu với tốc độ choáng ngợp. Thực tiễn này đã gây ra hệ quả phát sinh ngày càng
gay gắt, trực tiếp có ảnh hưởng về lâu dài là toàn bộ HTGT trong và xuyên các trung
tâm kinh tế đô thị hóa, hệ thống điện, nước sạch, hệ thống thu gom và xử lý rác thải,
hệ thống bến bãi, kho tang đều bị sử dụng quá tải nhưng không được đầu tư nâng cấp
và mở rộng thỏa đáng đáp ứng tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

- Khi cải tạo sửa chữa các công trình KCHTĐT phải có giấy phép của cơ quan
chức năng có thẩm quyền và được sự đồng ý của cơ quan quản lý các công trình
KCHTĐT.
- Các chủ sử dụng các công trình KCHTĐT phải chấp hành nghiêm chỉnh các
quy định và sự hướng dẫn của các cơ quan quản lý đô thị. Nếu xảy ra vi phạm thì tổ
chức và cá nhân vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật và phải đền bù thiệt hại.
- Đổi mới và tăng cường hiệu lực của bộ máy quản lý, xây dựng chính sách và
các giải pháp tạo vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong nước và nước ngoài
vào mục đích phát triển KCHTĐT. Phương châm “lấy KCHTĐT nuôi KCHTĐT”.
Coi trọng duy tu bảo dưỡng để khai thác sử dụng cũng như cải tạo, mở rộng, phát
triển KCHTĐT. Thống nhất quản lý vốn đầu tư KCHTĐT cũng như thống nhất quản
lý vận hành và khai thác KCHTĐT để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của đất
nước.
1.3.4.2 Nội dung quản lý cụ thể trên lĩnh vực HTGTĐT
Quan điểm quản lý nói chung là: Coi trọng và đề cao vai trò của quản lý Nhà
nước, hướng tới mô hình Nhà nước pháp quyền. Quản lý Nhà nước được được thực
hiện trên mọi lĩnh vực và mọi thành phần kinh tế. Đối với mỗi lĩnh vực phải thể hiện
quyền lực, sự kiểm soát, giám sát, điều chỉnh của nhà nước ở lĩnh vực đó nhằm đảm
bảo các hoạt động đúng với pháp luật, phù hợp với quyền lợi và nghĩa vụ của mọi
công dân và các tổ chức xã hội.
Nội dung quản lý HTGTĐT bao gồm: Quản lý quy hoạch, thực thi và vận hành
các công trình giao thông; quản lý việc tổ chức phân luồng giao thông; quản lý
phương tiện giao thông…. Trong giới hạn bài viết, em xin đi sâu vào quản lý các
công trình giao thông đô thị, chủ yếu bao gồm mạng lưới đường phố, cầu hầm, quảng
trường, bến bãi…Các công trình giao thông có phạm vi bảo vệ là các đường đỏ và
ranh giới giữa đất của công trình giao thông với đất khác. Đường đô thị được sử
dụng cho giao thông (lòng đường cho xe cộ, vỉa hè dành cho người đi bộ), để bố trí
các công trình KCHTĐT khác (điện, nước, thông tin dịch vụ, vệ sinh môi trường,
trạm đỗ xe, biển báo, quảng cáo, tượng đài…), để trồng cây xanh công cộng và để sử
dụng tạm thời cho các mục đích khác khi chính quyền đô thị cho phép (như bố trí các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status