Bài 9: Tranh chấp lao động
giải quyết tranh chấp lao động và đình công
I. Tranh chấp lao động
1. Khái niệm tranh chấp lao động
Tranh chấp lao động (TCLĐ) là những tranh chấp về quyền lợi và lợi
ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động
khác về thực hiện hợp đồng lao động (HĐLĐ), Thoả ước tập thể (TƯTT)
và trong quá trình học nghề.
Một vụ việc chỉ được coi là tranh chấp lao động khi các bên đã tự bàn
bạc, thương lượng mà không đi đến thoả thuận chung hoặc một trong hai
bên từ chối thương lượng, cần phải có sự can thiệp của chủ thể thứ ba
thông qua thủ tục hoà giải, trọng tài hoặc xét xử.
2. Phân loại tranh chấp lao động
TCLĐ được chia thành: TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể.
- TCLĐ cá nhân là TCLĐ giữa cá nhân người lao động và người sử dụng
lao động, phát sinh trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật lao
động vào từng quan hệ lao động cụ thể. Nội dung của những TCLĐ này
là quyền và lợi ích của cá nhân người lao động hoặc người sử dụng lao
động.
- TCLĐ tập thể là tranh chấp giữa tập thể người lao động. Nội dung của
TCLĐ tập thể thường liên quan đến lợi ích của cả một tập thể người lao
động. Chúng có thể phát sinh trong việc thực hiện các điều khoản đã thoả
thuận giữa các bên về điều kiện lao động hoặc trong việc thiết lập các
quyền và nghiệp vụ của các bên mà trước đó các bên chưa thoả thuận
hoặc do các yếu tố thực hiện phát sinh tại thời điểm tranh chấp.
TCLĐ về quyền và TCLĐ về lợi ích
- Tranh chấp về quyền là những tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện
các quyền, nghĩa vụ đã được quy định trong pháp luật, TƯLĐTT, HĐLĐ
hoặc các quy định nội bộ khác của doanh nghiệp, đơn vị.
- Tranh chấp về lợi ích là những tranh chấp về quyền nghĩa vụ chưa được
pháp luật quy định hoặc chưa được các bên cam kết, ghi nhận trong
hệ lao động, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại; xoá
bỏ tình trạng bất bình, mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng
lao động, duy trì và củng cố quan hệ lao động, đảm bảo sự ổn định trong
sản xuất.
2. Nguyên tắc giải quyết TCLĐ
Theo quy định của pháp luật lao động, TCLĐ được giải quyết theo các
nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thứ nhất: Thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa hai
bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp.
Xuất phát từ đặc điểm đặc thù của quan hệ lao động, pháp luật lao động
quy định việc giải quyết TCLĐ phải tuân thủ nguyên tắc thương lượng
trực tiếp và tự dàn xếp giữa hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh
chấp. Việc tương tự thương lượng, dàn xếp trực tiếp giữa hai bên không
chỉ diễn ra trước khi các bên có đơn yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền giải quyết mà còn được chấp nhận cả sau khi các bên đã gửi yêu
cầu các cơ quan, tổ chức giải quyết.
- Nguyên tắc thứ hai: Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng
quyền và lợi ích của hai bên, tôn trọng lợi ích của hai bên, tôn trọng ích
chung của xã hội.
Cũng xuất phát từ đặc điểm đặc thù của quan hệ lao động, việc hoà giải
được ưu tiên thực hiện xuyên suốt quá trình giải quyết TCLĐ và là thủ
tục bắt buộc ở hầu hết các trình tự giải quyết TCLĐ.
- Nguyên tắc thứ ba: Giải quyết TCLĐ công khai, khách quan, kịp thời,
nhanh chóng, đúng pháp luật.
Ngoài yêu cầu về tính công khai, khách quan, đúng pháp luật, việc giải
quyết tranh chấp lao động phải được tiến hành kịp thời, nhanh chóng.
Chính vì thế pháp luật quy định thời hạn giải quyết TCLĐ ngắn hơn so
với thời hạn giải quyết tranh chấp khác.
- Nguyên tắc thứ tư: Có sự tham gia của đại diện công đoàn và của đại
diện người sử dụng lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp. Đây là
trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
+ Tranh chấp về bồi dưỡng thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao
động;
+ Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
+ Tranh chấp giữa người lao động đã nghỉ việc theo chế độ với người sử
dụng lao động hoặc với cơ quan Bảo hiểm xã hội, giữa người sử dụng lao
động với cơ quan Bảo hiểm xã hội;
+ Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh
nghiệp xuất khẩu lao động.
Trình tự giải quyết TCLĐ tập thể
- Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc Hòa giải viên lao động cấp
huyện tiến hành hòa giải chậm nhất 7 ngày tính từ ngày nhận được đơn
yêu cầu hòa giải. Tại phiên họp hòa giải phải có mặt 2 bên tranh chấp
hoặc đại diện được ủy quyền của họ. Hội đồng hòa giải lao động cơ sở
đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét.
+ Nếu chấp thuận thì lập biên bản hòa giải thành. Hai bên có nghĩa vụ
chấp hành các thoả thuận đã ghi trong biên bản.
+ Nếu không thành thì lập biên bản hòa giải không thành, ghi ý kiến của
2 bên tranh chấp và của Hội đồng. Mỗi bên hoặc cả 2 bên tranh chấp có
quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết.
- Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh có trách nhiệm tiến hành hoà giải
và giải quyết vụ tranh chấp chậm nhất là 10 ngày kể từ khi nhận được yêu
cầu.
Tại phiên họp giải quyết tranh chấp phải có mặt các đại diện được ủy
quyền của 2 bên tranh chấp hoặc. Trường hợp cần thiết, phiên họp sẽ có
đại diện của công đoàn cấp trên của CĐCS và đại diện của cơ quan nhà
nước tham dự.
Hộ đồng trọng tài lao động cấp tỉnh đưa ra phương án hòa giải để các
bên xem xét:
+ Nếu chấp thuận thì lập biên bản hoà giải thành. Hai bên có nghĩa vụ
6. Điều kiện của cuộc đình công hợp pháp
Để cuộc đình công được công nhận là hợp pháp cần tuân thủ các điều
kiện sau:
- Phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể và trong phạm vi quan hệ lao
động;
- Được người lao động tiến hành trong phạm vi doanh nghiệp;
- đã qua bước giải quyết của Hộ đồng trọng tài lao động cấp tỉnh và
không yêu cầu Toà án giải quyết;
Do Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định sau khi được quá nửa tập
thể lao động tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký;
- Doanh nghiệp không thuộc danh mục doanh nghiệp cấm đình công;
- Không vi phạm quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hoãn hoặc
ngừng đình công.
III. Quyền và trách nhiệm của công đoàn trong quá trình giải quyết
tranh chấp lao động và đình công
1. Tại Hội đồng hoà giải lao động cơ sở
- Công đoàn xúc tiến, đôn đốc việc thành lập Hội đồng hòa giải lao động
cơ sở trong các doanh nghiệp, cử người tham gia Hội đồng hoà giải lao
động cơ sở.
- Khi TCLĐ phát sinh và 1 hoặc 2 bên có đơn yêu cầu hòa giải, với tư
cách người đại diện người lao động, công đoàn tham gia Hội đồng hòa
giải lao động cơ sở phải chuẩn bị phương án hòa giải tối ưu để đảm bảo
cho việc hòa giải thành công.
- Công đoàn có thể tham gia Hội đồng hòa giải lao động cơ sở với 1
trong 2 tư cách sau:
+ Đối với việc hòa giải TCLĐ tập thể, công đoàn tham gia với tư cách
người đại diện của tập thể lao động.
+ Đối với hòa giải TCLĐ cá nhân, công đoàn còn có thể tham gia với tư
cách đại diện được ủy quyền nếu người lao động ủy quyền.
2. Tại Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh đối với TCLĐ tập thể
tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
đương sự.
Đối với TCLĐ tập thể
- Ban Chấp hành công đoàn cơ sở tham gia tố tụng với tư cách nguyên
đơn.
- Công đoàn cấp trên của CĐCS nếu khởi kiện có quyền và nghĩa vụ
như nguyên đơn.
4. Quyền và trách nhiệm của công đoàn cơ sở về đình công
- Lấy ý kiến và quyết định đình công
Khi tập thể lao động của doanh nghiệp hoặc 1 bộ phận của doanh nghiệp
đề nghị đình công, thì Ban Chấp hành CĐCS tiến hành lấy ý kiến bằng bỏ
phiếu kín hoặc lấy chữ ký để xác định số người tán thành đình công của
tập thể người lao động trong doanh nghiệp hoặc trong bộ phận đó. Nếu đủ
lượng người đáp ứng các quy định khác của pháp luật, thì phải quyết định
đình công và lãnh đạo đình công.
- Trao bản yêu cầu, gửi thông báo
Sau khi quyết định việc đình công, cử đại diện nhiều nhất là 3 người để
trao bản yêu cầu cho người sử dụng lao động, gửi thông báo cho cơ quan
lao động cấp tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh. Việc trao bản yêu cầu, gửi
thông báo phải được tiến hành chậm nhất trong thời hạn 3 ngày trước
ngày bắt đầu đình công được ấn định trong bản yêu cầu, thông báo.
- Yêu cầu Toà án kết luận tính hợp pháp của đình công
Trước khi bắt đầu đình công và trong quá trình đình công, Ban Chấp
hành CĐCS có quyền gửi đơn đến Toà án yêu cầu kết luận tính hợp pháp
của cuộc đình công.
- Hòa giải với người sử dụng lao động
Công đoàn cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động về giải quyết
đình công.
Tổ chức lấy ý kiến tập thể người lao động về phương án do người sử
dụng lao động đưa ra; nếu quá nửa tập thể người lao động đồng ý phương