Giáo trình kinh tế học - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU

Alfred Marshall, nhà kinh tế vĩ đại của thế kỷ XIX đã viết: “Kinh tế học là môn
học nghiên cứu xã hội loài người trong cuộc sống thường nhật của họ”. Môn học này sẽ
đề cập đến các vấn đề:
- Các quyết định kinh tế trong đời sống mỗi người, của các doanh nghiệp và hoạt
động của nền kinh tế.
- Các quyết định để tối ưu hóa tiêu dùng, tối ưu hóa sản xuất và xã hội đạt hiệu
quả và công bằng nhất
- Những vấn đề về lạm phát, tăng trưởng, thất nghiệp, tỷ giá hối đoái, cán cân
thương mại, bình ổn giá cả, tiền lương của các ngành nghề…
- Giúp hiểu rõ hơn khả năng và giới hạn của chính sách kinh tế, khi phân bổ
nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế.
Tác giả soạn giáo trình “KINH TẾ HỌC” nhằm cung cấp cho sinh vên cao
đẳng khối Kinh tế những kiến thức cơ bản nhất về môn học ở bậc cao đẳng bao
gồm các chương:
Chương 1: Đại cương về kinh tế học
Chương 2: Những vấn đề cơ bản về cung - cầu
Chương 3: Lý thuyết người tiêu dùng và hành vi của doanh nghiệp
Chương 4: Cạnh tranh, độc quyền và thị trường các yếu tố sản xuất
Chương 5: Tổng sản phẩm, tổng cầu và chính sách tài khóa
Chương 6: Tiền tệ và chính sách tiền tệ
Mặc dù tác giả đã nỗ lực diễn giải sao cho dễ hiểu và gần gũi nhất có thể, song khoa
học kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, nên một số thuật ngữ còn mới và lạ, do vậy
giáo trình không thể tránh những thiếu sót. Rất mong sự nhận xét, góp ý của các Thầy
Cô và các bạn sinh viên để lần tái bản sau được hoàn thiện hơn.
Tác giả xin gởi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo nhà trường, Hội đồng khoa học trường
Đại học Xây dựng Miền Trung, Hội đồng khoa học Khoa Kinh tế, đồng nghiệp đã có
những gợi ý, nhận xét và động viên trong quá trình biên soạn.

Tác giả

Co dãn 28
2.3.2. Độ co dãn của cầu theo thu nhập: 28
2.3.3 Độ co dãn của cầu theo giá cả hàng hóa khác: 29
CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT VỀ LỢI ÍCH NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ HÀNH
VI DOANH NGHIỆP 35
3.1 Lý thuyết về lợi ích người tiêu dùng 35
3.1.1 Lợi ích và lợi ích cận biên 35
3.1.2 Phân tích đường bàng quan: 37
3.1.3 Tiêu dùng tối ưu 39
3.2 Lý thuyết về hành vi của doanh nghiệp 44
3.2.1 Lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp 44 3

3.2.1.1 Những vấn đề cơ bản của lý thuyết lựa chọn 44
3.2.1.2 Ảnh hưởng của qui luật khan hiếm, lợi suất giảm dần và hiệu quả của sự
lựa chọn kinh tế tối ưu 45
3.2.2 Lý thuyết về sản xuất và chi phí 46
3.2.3 Lý thuyết về chi phí sản xuất 52
3.2.3.1 Chi phí ngắn hạn 52
3.2.3.2 Các chi phí dài hạn 53
3.2.4 Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận 56
CHƯƠNG 4: THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 60
4.1 Các loại thị trường 60
4.1.1 Khái niệm thị trường: 60
4.1.2 Phân loại 60
4.2 Cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền 61
4.2.1 Cạnh tranh hoàn hảo 61

6.1.2 Chức năng của tiền 99
6.2 Hệ thống Ngân hàng và cung ứng tiền tệ 100
6.2.1 Sự tạo ra “tiền ngân hàng” từ tiền gửi 100
6.2.2 Hoạt động của hệ thống ngân hàng 103
6.3 Mức cầu tiền, cung tiền và trạng thái cân bằng tiền tệ 106
6.3.1 Cung tiền 106
6.3.2 Đường IS và đường LM 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

5

CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ KINH TẾ HỌC
1.1 Khái quát và phương pháp nghiên cứu KTH.
1.1.1 Khái niệm
Quản lý nguồn lực có tính quan trọng vì nguồn lực có tính khan hiếm. Sự khan

sản xuất và tiêu thụ hàng hóa dịch vụ.
Kinh tế học gồm có kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô, trong đó: 6

Kinh tế vi mô: là môn học nghiên cứu cách thức ra quyết định của hộ gia đình và
các doanh nghiệp, cũng như sự tương tác giữa họ trên các thị trường cụ thể.
Kinh tế vĩ mô: là môn học nghiên cứu các hiện tượng của toàn bộ các hoạt động
của nền kinh tế, nghĩa là các hoạt động khác nhau của nền kinh tế với tư cách là một
tổng thể, một hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống con hay thị trường cụ thể. Nó giúp
chúng ta lý giải những câu hỏi quan trọng có liên quan đến đời sống kinh tế của một
quốc gia như điều gì quyết định mức sống và tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc
gia, tại sao nền kinh tế thường xuyên biến động, chính phủ có vai trò gì trong thúc đẩy
tăng trưởng kiềm chế lạm phát và ổn định thất nghiệp ở mức hợp lý, những thay đổi
trong môi trường quốc tế có ảnh hưởng như thế nào đối với thành tựu kinh tế vĩ mô của
một nước?
Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, vì những
thay đổi xảy ra trong nền kinh tế nói chung phát sinh từ các quyết định của hàng triệu
triệu cá nhân, do đó không thể hiểu được các hiện tượng kinh tế vĩ mô nếu không đề cập
đến các quyết định kinh tế vi mô có liên quan. Mặc dù có mối liên hệ gắn bó giữa kinh
tế vi mô và kinh tế vĩ mô nhưng khi nghiên cứu hai lĩnh vực này hoàn toàn khác nhau
chính vì thế cách xử lý vấn đề hay phương pháp tiếp cận cũng sẽ khác nhau.
1.1.2 Mười nguyên lý cơ bản của kinh tế học
1. Con người ra quyết định như thế nào?
- Con người phải luôn đối mặt với sự đánh đổi.
Nguyên lý này cho chúng ta thấy tất cả mọi thành viên trong xã hội đều phải đối
mặt với sự đánh đổi, việc lựa chọn cái này và từ bỏ cái khác trong cùng một thời điểm.
Tại sao lại như vậy? Tại sao không đưa ra quyết định chọn hết tất cả mọi thứ? Hãy xem
một sinh viên sử dụng thời gian của mình cho các môn học, nếu dành một giờ học cho

thêm khi tiếp tục học nâng cao đó là khoản tiền lương cao hơn trong suốt cuộc đời, niềm
vui được chuyên tâm học hành và nghiên cứu thêm lĩnh vực mà mình lựa chọn với
những chi phí bạn phải chịu như thời gian, học phí hay tiền lương mất đi nếu vẫn còn đi
học và từ đó sẽ đưa ra kết luận việc tiếp tục học có đáng giá hơn hay không.
- Con người phản ứng với những kích thích.
Vì mọi người đều đưa ra các quyết định dựa trên sự so sánh chi phí và lợi ích, nên
khi lợi ích hay chi phí thay đổi thì hành vi của họ cũng thay đổi. Các chính sách công
cộng không bao giờ quên các kích thích. Ví dụ đánh thuế xăng khuyến khích mọi người
sử dụng các phương tiện ít tiêu hao nhiên liệu hay thu phí bảo trì đường bộ sẽ khuyến
khích mọi người sử dụng phương tiện công cộng
2. Con người tương tác với nhau như thế nào?
- Thương mại làm cho mọi người đều có lợi.
Rõ ràng thương mại giữa các nước sẽ làm các bên có lợi hơn vì thương mại cho
phép mọi người chuyên môn hóa vào một lĩnh vực mà mình làm tốt nhất cho dù đó là
trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng…Thông qua hoạt động thương mại mọi người có thể
mua được những hàng hóa và dịch vụ theo nhu cầu, sở thích…Giống như hộ gia đình
đều phải cạnh tranh nhau để mua hàng hóa với chất lượng cao nhất nhưng chi phí lại
thấp nhất. Mọi thành viên trong xã hội đều phải cạnh tranh nhau để có việc làm tốt nhất.
Các doanh nghiệp, tập đoàn hay các quốc gia đều phải cạnh tranh nhau để mua yếu tố
đầu vào thấp nhất và bán các yếu tố đầu ra cao nhất có thể. Ví dụ như hãng Ford và
hãng Toyota cạnh tranh để thu hút khách hàng trên thị trường ôtô, hay Compaq và
Toshiba cạnh tranh nhau trên thị trường máy tính cá nhân, Apple và Samsung cạnh 8

tranh trên thị trường điện thoại di động, Sony và Parasonic cạnh tranh trên thị trường
tivi…Các quốc gia cũng cạnh tranh với nhau trên thị trường như Mỹ và Nhật là hai
quốc gia sản xuất những mặt hàng giống nhau, nhưng đó không phải là cuộc cạnh tranh
có người thắng người thua mà làm cho hai quốc gia này có lợi hơn.

đích cắt giảm lượng tiền trong nền kinh tế, trong dài hạn kết quả của chính sách này là
mức giá chung giảm. Khi cắt giảm lượng tiền thì sẽ làm giảm số tiền mà mọi người chi
tiêu, trong dài hạn kết quả của chính sách này là mức giá chung giảm. Khi bắt đầu sử 9

dụng công cụ này để cắt giảm lạm phát, số tiền mà mọi người chi tiêu có xu hướng giảm
dần, nhưng giá cả đang ở mức cao mà mức chi tiêu giảm nên làm giảm lượng hàng hóa
và dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra, do đó buộc các doanh nghiệp phải sa thải công nhân
khi mức tiêu thụ thấp. Như vậy, biện pháp cắt giảm chi tiêu tạm thời làm tăng lượng
thất nghiệp đến khi giá cả hoàn toàn thích nghi với sự thay đổi.
1.2 Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học
- Kinh tế học là môn học nghiên cứu phương thức xã hội quản lý các nguồn lực
khan hiếm của mình.
- Khi phân tích hay lý giải một sự kiện kinh tế thì luôn phải dựa trên những giả
thuyết nhất định. Sau khi xác định được kết quả hoạt động kinh tế tăng hay giảm còn
phải quan tâm đến sự thay đổi là bao nhiêu.
- Đặt các vấn đề kinh tế trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau.
Các nhà kinh tế nghiên cứu đối tượng của mình với tính khách quan của một nhà
kinh tế giống như nhiều nhà nghiên cứu vật lý, hóa học, sinh học cũng đưa ra các giả
thuyết, thu thập số liệu, phân tích và lý giải chứng minh điều này là đúng hay bác bỏ lý
thuyết của mình rồi tiếp tục đưa ra giả thuyết.
Phương pháp khoa học: quan sát, lý thuyết và tiếp tục quan sát. Ở các lĩnh vực
khác như sinh học, vật lý, hóa học… các nhà khoa học sẽ dùng thí nghiệm để chứng
minh hay phân tích các giả thuyết, lý thuyết, còn đối với những nhà kinh tế học không
thể cho nền kinh tế suy thoái, lạm phát hay khủng hoảng để chứng minh các giả thuyết
mà sẽ quan sát và qua những chu kỳ, những biến động xảy ra đối với nền kinh tế trong
từng giai đoạn để chứng minh hay lý giải giả thuyết là đúng hay sai từ đó sẽ tiếp tục
quan sát các sự kiện kinh tế…, thực nghiệm thường gây trở ngại và khó thực hiện trong

Thị trường hàng hóa và dịch vụ
Các doanh nghiệp bán
Các hộ gia đình mua Doanh nghiệp Hộ gia đình
1.Sản xuất và 1. Mua và tiêu
bán hàng hóa dịch vụ dùng hàng hóa dịch vụ.
2.Thuê và sử dụng các 2. Sở hữu và cho thuê các
nhân tố sản xuất nhân tố sản xuất Thị trường và nhân tố sản xuất
các hộ gia đình bán
các doanh nghiệp mua

luồng hàng hóa, dịch vụ:
luồng tiền
Đối với mô hình này, nền kinh tế được giả định chỉ có hai nhóm người quyết
định, đó là doanh nghiệp và hộ gia đình. Khi đó các doanh nghiệp sẽ sử dụng những
đầu vào như lao động, đất đai và tư bản (tư bản: nhà xưởng, máy móc, trang thiết
bị ) được gọi là các nhân tố sản xuất để sản xuất các hàng hóa dịch vụ. Hộ gia đình 11

được giả định là người sở hữu các nhân tố sản xuất và tiêu dùng toàn bộ hàng hóa

có. Mặc dù nền kinh tế sản xuất ra hàng triệu triệu hàng hóa, dịch vụ, nhưng hãy 12

giả định nền kinh tế chỉ sản xuất hai loại hàng hóa A và B (mặc dù thực tế sản xuất
rất nhiều loại hàng hóa dịch vụ), với nguồn lực của nền kinh tế sẽ sản xuất tối đa
1.000 sản phẩm A mà sẽ không có sản phẩm B nào hoặc chỉ sản xuất tối đa được
500 sản phẩm B mà không có sản phẩm.

Hình 1.1
Tại điểm A, B hay C, D là những điểm mà nền kinh tế có thể sản xuất được,
còn tại điểm E thì nền kinh tế không đủ khả năng sản xuất tại thời điểm tính toán.
Như vậy có thể nói nền kinh tế có thể sản xuất được bất kỳ điểm nào nằm trên và
trong đường giới hạn năng lực sản xuất còn những điểm nằm ngoài đường giới hạn
năng lực sản xuất thì không thể sản xuất. Khi đó một sự kết hợp có hiệu quả nếu tại
đó nền kinh tế đạt được kết quả cao nhất từ các nguồn lực khan hiếm hiện có. Những
điểm nằm trên đường giới hạn năng lực sản xuất sẽ biểu thị mức sản xuất đạt hiệu

Cầu khác với nhu cầu. Nhu cầu là nguyện vọng và mong muốn vô hạn của con
người. Sự hạn chế về nguồn lực nên không thể thỏa mãn hết các nhu cầu. Còn khi nói
cầu phải đề cập hai yếu tố cơ bản là khả năng mua và ý muốn sẵn sàng mua. Ví dụ bạn
rất muốn mua một chiếc laptop (nhu cầu) để phục vụ việc học tập nhưng bạn chưa có đủ
tiền (khả năng mua) do đó cầu của bạn với laptop bằng không. Tương tự, bạn có sẵn
tiền nhưng bạn không muốn mua laptop thì cầu của bạn với laptop bằng không.
Lượng cầu là lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn
sàng mua ở mức giá đã cho trong một thời nhất định.
Biểu cầu là bảng mô tả số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua sẵn sàng
mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
Quy luật cầu:
Số lượng hàng hóa, dịch vụ trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của
hàng hóa giảm xuống và ngược lại.
Quy luật cầu tương ứng với trực giác: Khi giá (P) giảm xuống, người tiêu dùng
sẽ mua nhiều hơn và những người tiêu dùng mới cũng sẵn sàng và có khả năng xâm
nhập thị trường. Giá cả hàng hóa hay dịch vụ tăng thì lượng cầu sẽ giảm và khi giá giảm
thì lượng cầu sẽ tăng, khi đó có thể nói lượng cầu tỉ lệ nghịch với giá cả
Lưu ý rằng các mối quan hệ về cầu xem xét ở trên là trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi. Còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cầu đối với hàng hóa.
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng cầu:
Chúng ta có các yếu tố cơ bản sau đây:
- Thu nhập của người tiêu dùng: Khi thu nhập thay đổi thì cầu đối với hàng hóa
cũng thay đổi. Đối với các hàng hóa bình thường (thiết yếu, xa xỉ) khi thu nhập tăng thì
cầu tăng, còn đối với các hàng hóa cấp thấp thì thu nhập tăng thì cầu giảm.
-Quy mô dân số: Một thị trường có nhiều người tiêu dùng hơn thì cầu sẽ lớn hơn
và ngược lại. Hãy so sánh cầu của quần áo ở thị trường lớn như Thành phố Hồ Chí
Minh với thị trường quần áo ở Phú Yên. Rõ ràng dân số Thành phố Hồ Chí Minh nhiều
hơn dân số tỉnh Phú Yên nên lượng cầu đối với quần áo Thành phố Hồ Chí Minh sẽ lớn
hơn rất nhiều so với lượng cầu quần áo ở Phú Yên.
- Giá cả của các loại hàng hóa liên quan: Cầu của hàng hóa hay dịch vụ không

- Giá hàng hóa X;
P
y
- Giá của hàng hóa có liên quan Y (thay thế hoặc bổ sung);
I - Thu nhập;
N - Số lượng người tiêu dùng;
T - Thị hiếu;
E - Kỳ vọng;
Như vậy cầu thể hiện mức mua sắm của người tiêu dùng.
Biểu cầu và đường cầu
Đường cầu có dạng: bPaQ
D
 (2.2)
Q
D
: lượng cầu
P: giá cả hàng hóa
a, b: hằng số
Đường cầu được biểu diễn bằng đồ thị như sau: 15
= 6 -2/5 P

D

Hình 2.2

Cầu thị trường và cầu cá nhân
Q
P
P
Q
6

15
Đường cầu 16

Cầu của thị trường là tổng cầu cá nhân về hàng hóa dịch vụ cụ thể dùng để phân tích
phương thức vận hành của thị trường.
 cầu thị trường phụ thuộc vào các quyết định nhu cầu của người mua và phụ thuộc
vào sản lượng người mua.
Ví dụ: có biểu cầu về bánh mì của sinh viên A (SVA) và sinh viên B (SV B) như sau:

lượng cầu và sự thay đổi của cầu.
Lượng cầu tại mỗi mức giá đã cho biểu thị bằng một điểm trên đường cầu (điểm A
hoặc điểm B). Chúng ta thấy rằng sự thay đổi của giá tăng từ P
1
đến P
2
(P
1
< P
2
) dẫn
đến sự thay đổi tương ứng của lượng cầu sẽ giảm từ Q
1
đến Q
2
(Q
1
> Q
2
). Điều này gọi
là sự thay đổi của lượng cầu và được minh họa bằng sự vận động dọc theo đường cầu
(từ điểm A tới điểm B). Nếu giá cả hàng hóa giảm xuống và các yếu tố khác không đổi
thì sẽ có hiện tượng tăng lên của lượng cầu đối với hàng hóa đó và ngược lại. (hình 2.3)
Mỗi khi một yếu tố quyết định nhu cầu nào đó thay đổi, trừ giá cả hàng hóa đó thì
đường cầu sẽ dịch chuyển, như thu nhập, dân số, giá cả của hàng hóa thay thế, thị hiếu
(có thể tăng hay giảm). Ví dụ khi thu nhập tăng, dân số tăng, sự tăng lên của giá cả hàng
hóa thay thế sẽ làm cho cầu tăng lên do đó đường cầu dịch chuyển sang phải và ngược
lại. Do đó có thể nói bất kỳ sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến cầu (ngoài yếu tố
giá) làm tăng lượng hàng hóa mà người mua muốn mua tại một mức giá nhất định cũng
làm dịch chuyển cầu sang phải và ngược lại. (hình 2.4)

- Thị hiếu kỳ vọng cũng làm đường cầu dịch chuyển sang phải hoặc sang trái.
2.2 Cung
2.2.1. Khái niệm:
Cung là số lượng hàng hóa mà người sản xuất muốn bán và có khả năng bán tại
các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định
P
Q
D
P
2
P
1
Q
2
Q
1
A
B

Hình 2.3
D
1
D
3
D
2 18



(2.3)
Trong đó:
- S
x
- cung hàng hóa X;
- P
x
- giá của hàng hóa X;
- P
y
- giá của hàng hóa liên quan Y trong sản xuất;
- T - thuế;
- N - số người sản xuất;
- P
i
- giá của các yếu tố đầu vào; 19

- CN - công nghệ.
Biểu cung và đường cung
Đường cung có dạng:
dPcQ
S

(2.4)
Trong đó:
Q

tại P = 5 Q
s
= 1 dc 51



P = 10 Q
s
= 4 dc 104



 c = - 2
d =3/5
Vậy đường cung có dạng: PQ
S
5
3
2 
Q
P 20

Đường cung thị trường bao gồm tất cả các cung về hàng hóa dịch vụ nào đó được
cung cấp trên thị trường. Tổng cung phụ thuộc vào các yếu tố của mức cung và số lượng
người tham gia cung ứng dịch vụ hàng hóa cho thị trường.
Ví dụ: Có hai doanh nghiệp A (DN A) và doanh nghiệp B (DN B) cùng sản xuất thép có
biểu cung như sau:

trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.
P

P
2
B Q
S

P
1
A

Q
1
Q
2
Q
Hình 2.6
Một sự thay đổi của bất cứ yếu tố nào ảnh hưởng đến đường cung ngoài yếu tố
giá sẽ làm thay đổi lượng cung ở mọi mức giá. Điều này được gọi là sự dịch chuyển của
đường cung (ví dụ từ S
1
tới S
2
hay S
1
tới S
Hình 2.8

2.2.3 Cân bằng thị trường:
Khái niệm:
Cân bằng thị trường là một tình huống trong đó không có sức ép làm cho giá và
sản lượng thay đổi.
Cân bằng thị trường xuất hiện tại mức giá tại đó lượng cung và lượng cầu bằng
nhau. Mức giá đó gọi là giá cân bằng; sản lượng đó gọi là sản lượng cân bằng, khi đó:
Q
S
= Q
D
hoặc P
D
= P
S
.
Tuy nhiên mức giá và sản lượng cân bằng không nhất thiết phải giống mức giá và
sản lượng bán ra. Giá cân bằng ký hiệu là P
E
, sản lượng cân bằng là Q
E
.
Q
Q
P

S
D
Hình 2.9
Ví dụ: Kết hợp của cung và cầu
Xác định điểm cân bằng:
P
cb
= ? và Q
cb
=?
Biểu diễn bằng đồ thị
Bảng 4.5: Số liệu lượng cung và cầu
P Lượng cầu Lượng cung
2 12 0
3 10 2
4 8 4
5 6 6
6 4 8

Bài giải:
Đường cầu có dạng: Q
D
= a – bP
Q
P


o
= 5 & Q
o
= 6
Trạng thái dư thừa và thiếu hụt của thị trường:
Khi giá trên thị trường khác với giá cân bằng (P
E
) sẽ xuất hiện trạng thái dư thừa
hoặc thiếu hụt.
Nếu giá thị trường P
1
> P
E
xuất hiện dư thừa hàng hóa (Q
S1
– Q
D1
), xuất hiện sức
ép làm cho giá giảm.

P S P
1

P

)

24 P

S
P
e P
2 D

Q
S2
Q

tiêu dùng sẵn sàng trả cho một hàng hóa nào đó trừ đi số tiền mà họ thực sự trả cho nó).
Khi đó thặng dư tiêu dùng mà tất cả người mua trên thị trường về một hàng hóa hay
dịch vụ nhận được tính bằng phần diện tích nằm dưới đường cầu và trên giá cả.
Thặng dư tiêu dùng = giá trị đối với người mua – số tiền người mua trả
Hình 2.11
Thặng dư sản xuất (PS) là xem xét những lợi ích mà người bán nhận được từ sự
tham gia vào một thị trường, là phần chênh lệch giữa giá bán thực tế và giá mà doanh
nghiệp sẵn sàng bán. Như vậy giống như tiêu dùng thì thặng dư của nhà sản xuất có mối
quan hệ mật thiết với đường cung, khi đó phần diện tích nằm dưới đường giá cả và trên
đường cung phản ánh thặng dư của nhà sản xuất.

P
S
P
1
PS
Q
Hình 2.12
P
Q
P
1
D
CS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status