Bộ y tế
Viện Dinh Dỡng
________________________________________________________
Báo cáo tổng kết đề tài Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng
viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, Kim Bôi
(Hòa Bình) bằng bánh đa vi chất Chủ nhiệm đề tài:
Phạm Thị Thu Hớng
máu là yếu tố liên quan đến bệnh Tê tê-say say ở xã
Long Sơn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình. Rối loạn chuyển hoá, hấp thu vitamin B
1
là
nguyên nhân gây thiếu vitamin B
1
máu ở một số đối tợng.
b, Kết quả cụ thể
Hiệu quả cải thiện tình trạng bệnh tê tê-say say ở xã Long Sơn, huyện Kim
Bôi, tỉnh Hoà Bình bằng bổ sung bánh đa vi chất
- Hiệu quả của bổ sung vitamin B
1
kết hợp đa vi chất, và bổ sung vitamin B
1
đến
tình trạng bệnh "tê tê, say say", khác nhau không có ý nghĩa thống kê.
- Bổ sung 50 mg vitamin B
1
/ngày trong thời gian 3 tháng đã cải thiện đợc tình
trạng dinh dỡng của ngời bệnh (cân nặng, nồng độ Hb máu, và Ferritin huyết thanh),
tình trạng vitamin B
1
máu (Đã cảị thiện đợc nồng độ vitamin B
1
máu của 51,9 % đối
tợng có nồng độ vitamin B
1
máu < 2mcg/dl trớc can thiệp ở nhóm bổ sung vitamin
B
- Những trờng hợp có nồng độ vitamin B
1
máu < 2mcg/dl sau can thiệp có
nguy cơ bị bệnh nặng lên hoặc không thay đổi gấp 13,7 lần những trờng hợp có nồng
độ vitamin B
1
>2mcg/dl.
Động học vitamin B
1
máu của ngời bệnh tê tê-say say ở xã Long Sơn
huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình.
-
Sau uống 50 mg vitamin B1, diễn biến nồng độ vitamin B
1
máu của ngời
bệnh tê tê-say say cũng giống nh ngời bình thờng.
-
Nồng độ vitamin B
1
máu trung bình của ngời bệnh tê tê-say say tại các
thời điểm 30 phút, 1giờ, 2 giờ, 3 giờ, 6 giờ và 12 giờ sau uống 50 vitamin B
1
đều thấp
hơn nồng độ vitamin B
1
máu trung bình của ngời bình thờng.
- 3 -
b, Thực hiện mục tiêu nghiên cứu:
Đã thực hiện đợc mục tiêu đề ra ban đầu
-
Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh ngoại biên ở
xã Long sơn, huyện Kim bôi, tỉnh Hoà bình bằng bánh đa vi chất
-
Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ của hội chứng viêm nhiều dây thần kinh ngoại
biên ở xã Long sơn, huyện Kim bôi, tỉnh Hoà bình
c, Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cơng:
Theo đúng dự kiến
-
Báo cáo phân tích về hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh
ngoại biên ở xã Long sơn, huyện Kim bôi, tỉnh Hoà bình bằng bổ sung vitamin B
1
, đa
vi chất và động học vitamin B
1
máu của ngời bệnh. Trên cơ sở đó tìm ra yếu tố nguy
cơ liên quan của bệnh là vitamin B
1
máu thấp do rối loạn chuyển hoá, hấp thu vitamin
B
1
-
Bản kiến nghị
dập tắt. Nhng từ đó năm nào cũng có ngời mắc bệnh, triệu chứng chính của bệnh là
tê bì, kiến bò, mỏi yếu tay, chân và cơ nhai, đặc biệt gây choáng váng và ngã, nhân dân
gọi bệnh là Tê tê- say say, hay còn gọi là bệnh tê mỏi.
Năm 1997, tại xã Long sơn, bệnh xảy ra trên một diện rộng với 450 ngời mắc
bệnh và 3 ngời tử vong. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, song đối tợng mắc nhiều nhất là
tuổi lao động và phụ nữ cho con bú. Đối tợng mắc bệnh bao gồm ngời Mờng và
ngời Kinh. Nhiều nghiên cứu đã đợc tiến hành tại đây cho thấy: Hàm lợng Pb, Hg,
CN
-
trong nớc đều ở giới hạn cho phép, không có sự khác nhau giữa nhóm bệnh và
nhóm chứng về tiêu thụ lơng thực thực phẩm bình quân đầu ngời. Giá trị các chất
dinh của khẩu phần ăn của nhân dân Long sơn tuy cha đáp ứng đợc nhu cầu đề nghị
của Viện Dinh dỡng nhng còn khá hơn khẩu phần ăn của một số vùng. Không nhận
thấy sự liên quan giữa bệnh và tình trạng kinh tế kém, ngời mắc bệnh có cả nhóm
kinh tế khá cao
[
13
]
. Không tìm thấy mối liên quan giữa mức Kali máu, Hb máu,
Porphyrin niệu, cholinesterase máu với bệnh. Có mối liên quan giữa mức acid lactic
với bệnh[23], có mối liên quan giữa tình trạng vitamin B
1
cơ thể và bệnh [17]. Mặc dù
đợc điều trị dự phòng bằng vitamin B
1
cho nhân dân toàn xã Long sơn 3 năm liên tục,
nhng bệnh Tê tê - say say vẫn bám dai dẳng. Bệnh do thiếu vitamin B
1
thờng xảy ở
địa phơng ăn gạo là lơng thực chính, chế độ ăn nghèo thực phẩm nguồn gốc động
Bệnh tê phù có từ đồng nghĩa là bệnh viêm nhiều dây thần kinh do thiếu vitamin
B
1
, thờng xảy ra ở những nớc mà khẩu phần ăn chủ yếu là gạo và chất lợng gạo
kém.
ở
Việt Nam, số ngời bị tê phù năm 1916 có 988 ngời, năm 1932 có 9425 ngời
và năm 1936 có 35 ngàn ngời
[
12
]
.
Bệnh có triệu chứng giống tê phù
Bệnh có triệu chứng giống bệnh tê phù, tên gọi địa phơng là Tê tê- say say đã
xuất hiện từ những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX, bệnh xảy ra ở một số địa
phơng ở miền Bắc. Bệnh
tê tê- say say
là bệnh phức tạp, không những liên quan đến
dinh dỡng mà có thể do nhiều yếu tố khác, nhng hiện nay cha rõ nguyên nhân.
Tỉnh Thanh Hóa
: Từ năm 1954 đến 1966 ở xã Cao Quí huyện Ngọc Lạc tỉnh
Thanh Hoá xảy ra một bệnh có tên địa phơng là tê tê, say say, có 14 trờng hợp tử
vong, trong đó 11 trờng hợp là ngời lớn (8 trờng hợp là phụ nữ đã sinh từ 1 đến 4
lần và 3 trờng hợp là trẻ em. Bệnh có triệu chứng chính là mỏi chân tay (thờng mỏi
từ bàn chân lên đầu gối, lên đùi và toàn bộ cơ thể, khi nhai cơm cũng mỏi), tê bì ở bàn
tay và bàn chân, có cảm giác kiến bò, ngời bệnh nhiều khi cảm thấy chóng mặt lao
đao, chệnh choạng nh ngời say rợu, do đó ngời dân địa phơng gọi bệnh là Tê tê,
say say, một số ngời gọi bệnh là bệnh tê mỏi. Tình trạng yếu mỏi nh trên có thể
Cũng trong thời gian từ đầu những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX, nhiều Huyện của
tỉnh Hoà Bình đã xuất hiện một bệnh có triệu chứng giống bệnh tê phù và tơng tự nh
bệnh ở xã Cao Quí tỉnh Thanh Hoá. Các huyện Kim Bôi, Yên Thuỷ, Lạc Sơn của tỉnh
Hoà Bình là những huyện có ngời mắc bệnh này. Diễn biến của bệnh rất phức tạp,
điều trị bằng vitamin B
1
bệnh thuyên giảm, nhng không chấm dứt. Đã có nhiều lĩnh
vực tham gia nghiên cứu, nhng vấn đề căn nguyên của bệnh cho đến nay vẫn cha
đợc biết rõ.
Nhân dân gọi bệnh là Tê tê, say say, hay còn gọi là bệnh tê mỏi, bởi vì
ngời mắc bệnh tê bì, kiến bò, nên có thuật ngữ là tê. Ngời bệnh còn có triệu chứng
mỏi yếu tay, chân, đặc biệt có cảm giác choáng váng và ngã nh ngời say rợu nên có
thuật ngữ là say.
Hàng năm chỉ có rải rác các trờng hợp. Nhng năm 1970, bệnh đã xảy ra thành
dịch ở xã Long Sơn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình, với nhiều ngời mắc và 40 ngời tử
vong. Thời gian đó bệnh viện Bạch Mai đã tổ chức điều trị tại chỗ: 179 ngời mắc bệnh
phải điều trị tập trung, trong đó có 54 trờng hợp nặng và chuyển 15 ngời về điều trị
tại bệnh viện Bạch Mai. Bệnh nhân đợc điều trị bằng vitamin nhóm B và bệnh đã đợc
dập tắt.
Giai đoạn này bệnh cha tìm đợc nguyên nhân, nhng đợc chẩn đoán tê
tê- say say có liên quan thiếu vitamin B
1
2.1.2. Giai đoạn từ thập kỷ 80 đến thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
Đất nớc đã đợc giải phóng, trên đờng khôi phục và xây dựng đất nớc. Bên
cạnh đó, thảm họa thiên nhiên nh lũ lụt thờng xuyên xảy ra làm cho đời sống của
ngời dân vẫn còn khó khăn.
ở
nhiều vùng đặc biệt những vùng có thảm họa thiên
nhiên đã xuất hiện các bệnh liên quan đến dinh dỡng nh tê phù, điều trị bằng vitamin
B
ứ
ng Hoà tỉnh Hà tây cho thấy: tổng số ngời mắc là 872 ngời, đối tợng mắc
bệnh là ngời lao động và phụ nữ cho con bú, các dấu hiệu lâm sàng chủ yếu với viêm
nhiều dây thần kinh là 44,1 %, phù và tê các đầu chi là 54,1 %. Hàm lợng acid
pyruvic trong máu ở nhóm bệnh cao hơn nhóm bình thờng. Việc điều trị bằng vitamin
B
1
bằng đờng uống và đờng tiêm đã đẩy lùi bệnh. Sau bốn tháng, những ngời mắc
bệnh đã hoàn toàn trở về bình thờng
[
18
]
.
Trong thời gian trên bệnh tê phù còn xảy ra ở nhiều đơn vị trong quân đội với
hàng nghìn ngời mắc. Nguyên nhân đó là do chất lợng gạo kém, xét nghiệm hàm
lợng vitamin B
1
ở các mẫu gạo cho thấy hàm lợng vitamin B
1
thấp (0,03 mg% đến
0,05 mg%), các thực phẩm giàu vitamin B
1
từ nguồn động vật và thực vật đều ít. Phạm
Việt Hùng khi nghiên cứu 316 trờng hợp phù nằm tại Viện Quân Y 91 từ 1986 đến
1991 cho thấy: Các dấu hiệu chủ quan chủ yếu là mỏi yếu hai chân đi lại không vững
100%, đau căng tức bắp chân 100%, tê bì ở hai bàn chân và cẳng chân 100%, chán ăn
95,25% hồi hộp tim đập nhanh 52,84% [16].
Biện pháp điều trị tại các đơn vị có dịch tê phù là can thiệp bằng dinh dỡng,
giảm cờng độ hoạt động của bộ đội, điều trị dự phòng cho tập thể bằng thuốc:
Vitamin B
và dịch
cũng đợc dập tắt.
Bệnh có triệu chứng giống tê phù
Bệnh tê tê- say say:
vẫn bám dai ở tỉnh Hòa Bình, đặc biệt là xã Long Sơn
huyện Kim Bôi. Theo kinh nghiệm, nhân dân Long Sơn và nhân dân các vùng của tỉnh
Hòa Bình khi bị bệnh thì điều trị bằng cách tiêm hoặc uống vitamin B
1
thì bệnh thuyên
giảm, nhng bệnh không dứt.
Từ năm 1990 đến năm 1997, theo báo cáo của UBND huyện Lạc Sơn và huyện
Yên Thủy, Kim Bôi hàng năm đều có ngời mắc và tử vong. Trong ba huyện kể trên thì
huyện Kim bôi có số mắc nhiều hơn cả, sau đó là Lạc Sơn và cuối cùng là Yên Thuỷ
[27,28,29].
Sau khi nền kinh tế thay đổi theo cơ chế thị trờng, đời sống của nhân dân, kể
cả các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa đã đợc cải thiện. Tuy nhiên năm 1997, tại xã
Long sơn và một số xã lân cận thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình bệnh tê tê- say
saylại rộ lên với nhiều ngời mắc và tử vong. Theo báo cáo của Sở Y tế Hoà Bình số
354 NV/YT, thì trong tỉnh Hoà Bình có hai huyện đang có bệnh. Đó là huyện Yên
Thuỷ có 24 ngời mắc trong một xã và tử vong 2 trờng hợp. Huyện Kim Bôi có trên
500 ngời mắc trong 3 xã và tử vong 3 trờng hợp. Riêng xã Long Sơn có 450 ngời
mắc bệnh và 3 ngời tử vong.
Bộ Y tế đã cử một đoàn công tác xuống điều tra tại xã Long Sơn huyện Kim Bôi
tỉnh Hoà Bình, gồm các lĩnh vực: chuyên khoa dịch tễ, truyền nhiễm, thần kinh, tim
mạch, hoá sinh, dinh dỡng và các chuyên viên của Vụ Điều trị, Vụ Y tế dự phòng
thuộc Bộ Y tế. Kết quả khảo sát cho thấy: Đây là hội chứng viêm nhiều dây thần kinh
với triệu chứng hiệu tê bì, phản xạ gân xơng giảm hoặc mất rõ ở 2 chi dới, vận động
chóng mệt mỏi, nhịp tim nhanh đặc biệt khi gắng sức, không có phù. Thời điểm bệnh
tăng cao vào các tháng 4, tháng 5 là những tháng nóng nhất. Bệnh xảy ra ở mọi lứa
tuổi, nhng tập trung nhiều ở lứa tuổi lao động và cao nhất là ở phụ nữ trong độ tuổi.
Bắc và Kỳ Sơn sống tại tỉnh Hòa Bình từ những năm 60-70 thế kỷ XX, di c vào huyện
Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum theo chính sách di dân lòng hồ Sông Đà thời gian1991-1993.
Từ tháng 2 năm 1993 đã xuất hiện một bệnh có triệu chứng tơng tự nh bệnh tê tê-
say say ở Hòa Bình. Từ năm 1990 đến tháng 5 năm 1995 tổng số mắc thống kê đợc
là 4374, tử vong 23. Toàn bộ tám thôn ngời Mờng thuộc bốn xã Sa Loong, Bờ Y,
Đak Sú, thị trấn Plei Cần đều có ngời mắc. Bệnh mắc quanh năm, nhng thờng mắc
nhiều hơn vào mùa ma ở Tây Nguyên là tháng 3 và tháng 4. Theo báo cáo của Viện
Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên gửi Bộ Y tế số 207/VTN: Từ tháng 3 năm 1997 bệnh rộ
lên có 6 trờng hợp tử vong. Triệu chứng lâm sàng của bệnh là mỏi cơ, tê rần đầu tứ chi,
khó thở, mờ mắt. Cảm giác ngoại biên, sức cơ, phản xạ gân xơng đều giảm. Bệnh xảy
ra ở các lứa tuổi, nhng lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là đối tợng lao động 20-49 tuổi
(64,3%) nữ (69%) nhiều hơn nam (31%). Bệnh chỉ xảy ra ở ngời Mờng, không có ở
các dân tộc khác tuy cùng sống trên một địa bàn. Có ngời trong gia đình cùng mắc
(87%), không có ngời trong gia đình cùng mắc (13%). Có 6 trờng hợp tử vong trong
3 gia đình. Các trờng hợp tử vong đột ngột. Các trờng hợp tử vong liên quan đến các
triệu chứng tim mạch, không làm giải phẫu tử thi do đó khó kết luận nguyên nhân gây
ra bệnh. Tuy nhiên các trờng hợp này đều có liên quan đến bệnh tê rần, hoặc gia đình
có ngời mắc bệnh này[
2
].
Đã có nhiều lĩnh vực tham gia nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh và
đa đến nhận xét bệnh tê tê-say say có thể liên quan đến dinh dỡng.
Do tính chất phức tạp của bệnh, có trờng hợp đã điều trị vitamin B
1
nhng vẫn
tử vong, bệnh tê tê -say say vẫn bám dai. Nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân của bệnh
tê tê- say say là cần thiết, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp phòng chống thích hợp
để hạn chế số mắc bệnh và tử vong
2.2. Những hiểu biết về viêm nhiều dây thần kinh và thiếu vitamin B
1
Hình 2.1. Công thức hoá học của vitamin B
1
Phân tử vitamin B
1
bao gồm một vòng pyrimidin và một vòng thiazol nối với
nhau bởi cầu methylen.
Các dạng phosphoryl của vitamin B
1
bao gồm: Thiamin monophosphat (TMP),
thiamin pyrophosphat, thiamin triphosphat (TTP). Trong tế bào động vật, vitamin B
1
tự
do và các dạng phosphoryl của nó có mặt với số lợng khác nhau. TTP chiếm 5-10%
của tổng số vitamin B
1
.
Đặc tính của vitamin B
1
Phân tử vitamin B
1
có thể hoà tan trong nớc, kết tinh thành thể rắn, màu trắng.
ở
1
đợc hấp thu theo cơ chế
khuyếch tán. Sự hấp thu vitamin B
1
vào máu và tới các tổ chức là khá nhanh. Rozenbe
và cộng sự đã dùng chất đồng vị phóng xạ đánh dấu S
35
nghiên cứu ở súc vật thấy rằng
bắt đầu sau uống 15 phút và sau 30 phút đã thấy vitamin B
1
ở mô
[
dẫn theo 20
]
. Bake
nhận thấy các vitamin tan trong nớc hấp thu nhanh vào máu chỉ sau 10 phút uống
vitamin này và thời gian hấp thu của ruột vẫn tiếp tục sau 120 phút [33]. Sự hấp thu
vitamin B
1
ở ruột non thờng giới hạn với mức tối đa 8-15 mg/ngày và cơ chế hấp thu
phụ thuộc nồng độ thiamin của cơ thể [21].
Sau khi vitamin B
1
đợc hấp thu, một phần nhỏ đợc dự trữ ở các tổ chức của cơ
thể, còn một phần không đợc sử dụng sẽ đợc bài tiết ra ngoài theo con đờng nớc
tiểu. Có mối liên quan giữa nhu cầu thiamin của tế bào và số lợng thiamin bài tiết
qua nớc tiểu, vì thế nồng độ thiamin trong nớc tiểu thay đổi khác nhau. Trong điều
kiện sinh lý bình thờng, lợng thiamin bài tiết theo nớc tiểu 150-500 àg mỗi ngày,
nhng đôi khi có thể cao hơn. Trong trờng hợp thiếu thiamin thì số lợng thiamin bài
tiết ra nớc tiểu giảm
chế
[
98
]
. Tổng số vitamin B
1
của cơ thể ngời là khoảng 30 mg và phân bố khác nhau
ở các mô từ nhiều đến ít là Gan > tim >thận > cơ xơng > não > ruột non.
Gan: 0,2- 0,76 mg/100g Thận 0,24- 0,58 mg/100 g.
Tim: 0,28- 0,79 mg/100g Não; 0,14- 0,44 mg/100 g.
- 12 -
Trong cơ thể, 40% vitamin B
1
phân bố ở cơ xơng.Thời gian bán huỷ sinh học của
nó là 9,5- 18,5 ngày
[
45
]
.
Vai trò của vitamin B
1
:
Chức năng chuyển hoá: Thiamin Diphosphat (TDP) là yếu tố cần thiết cho
chuyển hoá cacbonhydrat, vì vậy thiamin (vitamin B
1
) cần thiết cho chuyển hoá năng
43
]
. Sự oxy hoá glucose theo
con đờng pentose xảy ra ở các mô song song với con đờng đờng phân, nhng với tỷ
lệ thấp, chỉ có khoảng 7-10 %. Tuy nhiên ở một số mô và tế bào nh: hồng cầu, gan,
tuyến sữa trong thời kỳ hoạt động, tổ chức mỡ sự thoái hoá glucose theo con đờng
pentose chiếm u thế. Nếu cơ thể thiếu vitamin B
1
thì acid pyruvic trong máu sẽ tăng
lên và tăng theo cả acid lactic
[
74, 75, 68, 46, 62
]
. Không phải chỉ có chuyển hoá
glucid bị rối loạn, mà nói chung chuyển hoá protein và lipid cũng bị ảnh hởng. Hình
1.2 cho thấy vai trò của vitamin B
1
và các vitamin nhóm B khác trong chuyển hoá các
chất [44].
- 13 -
Hình 2.2.Vai trò của các vitamin nhóm B tham gia vào một số quá trình chuyến
hoá chủ yếu (Good man
,
s và Gil man
,
s 1985)
1
đã dẫn đến
chết một số vùng đặc biệt
[
37
]
. Matsushita (1999), nhận thấy có sự giảm nồng độ các
chất dẫn truyền thần kinh ở chuột khi thiếu vitamin B
1
.Trên động vật thí nghiệm còn
phát hiện thấy giảm nồng độ ATP và epinephrin trong khi serotonin ở não tăng
[
59
]
.
- 14 -
Terasawa (1999), nhận thấy có mối liên quan giữa thiếu vitamin B
1
với khả năng thực
hiện các động tác đã dạy ở chuột, những con chuột đợc ăn đủ vitamin B
1
thực hiện các
động tác đã đợc dạy tốt hơn những con chuột ăn thiếu vitamin B
1
[
tác giả thấy có mối liên quan giữa vitamin B
1
khẩu phần và vitamin B
1
máu
[
52
]
.
Vitamin B
1
có nhiều trong cám gạo, tuy nhiên lợng vitamin B
1
trong gạo phụ
thuộc nhiều vào quá trình xay sát và bảo quản, chế biến. Lợng vitamin B
1
có trong
100 g gạo nh gạo giã dối có 240
à
g, gạo xay có 300-500
à
g, gạo giã trắng chỉ có 100
àg. Gạo giã trắng không những mất vitamin B
1
, mà còn làm mất các vitamin nhóm B:
Vitamin B
1
mất 73%, vitamin B
2
mất 56,5 %, PP mất 63%, protid mất 17% và lipid mất
và nuôi dỡng qua đờng tĩnh mạch trong ba tuần, thấy xuất hiện triệu chứng nhiễm
acid lactic nặng. Các dấu hiệu lâm sàng bao gồm cả rối loạn thần kinh và tim mạch.
Bệnh nhân có nồng độ vitamin B
1
huyết thanh giảm. Tiêm vitamin B
1
các dấu hiệu trên
đợc kiểm soát
[
74
]
. Velez, nhận thấy hai trờng hợp nuôi dỡng bằng đờng tĩnh
mạch không bổ sung thêm vitamin B
1
đã xuất hiện các triệu chứng beriberi cấp, các
- 15 -
triệu chứng này đã đợc điều trị bằng tiêm vitamin B
1
[89
]
. Klein, thông báo hai trờng
hợp có dấu hiệu nhiễm acid lactic sau ba tuần đợc nuôi dỡng bằng đờng tĩnh mạch.
Sau khi điều trị bằng hai liều vitamin B
1
400 mg bằng đờng tiêm các triệu chứng đã
đợc cải thiện
chỉ ra thiếu vitamin B
1
ở 21 trong số 23 bệnh nhân điều trị furosemid và nhiều hơn
nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (P<0,01), lợng vitamin B
1
đợc bài tiết ra nớc tiểu
của nhóm điều trị thuốc lợi tiểu là 410
95
à
g/g creatinin đợc so sánh với nhóm chứng
là 236
69
à
g/g creatinin
[
78
]
. Rieck nghiên cứu bài tiết vitamin B
1
qua nớc tiểu của
6 bệnh nhân đợc điều trị bằng furosemid (1, 3, 10 mg), tác giả nhận thấy bài tiết
vitamin B
1
ra nớc tiểu tăng hai lần so với ban đầu, có mối liên quan giữa tỷ lệ vitamin
B
1
bài tiết nớc tiểu và lợng nớc tiểu bài tiết (r=0,54, P<0,01) [73]. Zanger, cho rằng
Furosemid và digoxin điều trị cho những bệnh nhân suy tim có thể gây thiếu vitamin
chứng thì thấy nồng độ thiamin monophosphat ở nhóm có uống rợu thấp hơn nhóm
chứng trớc và sau điều trị bằng tiêm vitamin B
1
, thiamin tự do và thiamin diphosphat
trong máu toàn phần và trong huyết thanh tơng tự ở hai nhóm. Tỷ lệ phosphoryl là
thấp ở nhóm bệnh so với nhóm chứng (P<0,05)
[
81
]
. Một nghiên cứu khác cũng của
Tallaksen, nghiên cứu trên 24 ngời xơ gan do rợu và 30 ngời khoẻ mạnh cho thấy
các thành phần của vitamin B
1
trong máu toàn phần, huyết thanh của nhóm bệnh thấp
- 16 -
hơn nhóm chứng. Sau khi tiêm 100mg vitamin B
1
thì tỷ lệ thiamin phosphoryl ở nhóm
bệnh thấp hơn nhóm chứng
[
81
]
d. Các chất đối kháng vitamin B
1
:
đã đợc sử dụng trong điều trị cầu trùng ở gà. Heier cho thấy Fluoropyrimidines-5-
fluorouracil và doxifluridin làm tăng thiamin diphosphat ngoại bào trong khi thiamin tự
do không thay đổi và tác giả đã kết luận fluoropyrimidin có thể làm tăng chuyển hoá
vitamin B
1
tế bào và gây ra triệu chứng lâm sàng của thiếu vitamin B
1
[48 ]
Các kháng vitamin B
1
tự nhiên tác động bởi thay đổi cấu trúc vitamin B
1
đã đợc
tìm thấy trong tế bào động vật và thực vật. Hai enzym gây giảm vitamin B
1
đã đợc
biết, đó là thiamin (vitamin B1)I, có mặt trong ruột của cá chép và một vài loài cá, và
Bacillus thiaminnolyticus xúc tác giải phóng vitamin B
1
bởi hoạt động thay đổi một
bazơ nitrogen hoặc thành phần thiol. Hoạt động này thay thế nhóm metyl nh trong
trờng hợp nhóm sulfit. Thiamin (vitamin B
1
) II, có mặt chủ yếu trong vi khuẩn đờng
ruột (B. thiaminolyticus, B.anneurinelyticus và chlotridium thiaminolyticus) xúc tác
thuỷ phân vitamin B
1
tạo pyrimidin và vòng thiazol. Một số loại thực vật có chứa
polyhydroxyphenol (cafeic acid, tanin, chlorogenic) làm giảm hoạt tính của vitamin B
1
mạch. Viêm đa dây thần kinh thờng xuất hiện đầu tiên ở hai chi dới với biểu hiện rối
loạn cảm giác nh tê bì kiến bò, đau cơ cẳng chân, tiếp theo là liệt và teo cơ. Bệnh tiến
triển thì viêm nhiều dây thần kinh phát triển lên hai tay và tới các bộ phận khác của cơ
thể kèm theo các rối loạn về phản xạ gân xơng nh giảm phản xạ gân xơng và mất
phản xạ gân xơng. Một số trờng hợp có liệt các cơ hô hấp gây ra khó thở, kèm theo
đau vùng trớc tim.
Tổn thơng dây thần kinh sọ não ít gặp trong các thể bán cấp thông thờng mà
thờng đợc quan sát thấy trong những thể nặng. Tổn thơng dây thần kinh thị giác
làm cho bệnh nhân bị mờ mắt, sợ ánh sáng, các triệu chứng của viêm thần kinh hậu
nhãn cầu với sự thu hẹp thị trờng trung tâm, nhạt mầu phần thái dơng của gai thị, thể
này còn đợc gọi là thể mắt, bệnh nhân mù dần nếu không đợc điều trị kịp thời
[Nguyễn Văn đăng 2000]. Van Noort cũng nêu một trờng hợp bệnh tê phù thể viêm
dây thần kinh thị giác, thị lực và thị trờng giảm nặng [
88
].
Rối loạn phát âm do tổn thơng dây thần kinh thanh quản, nhánh của dây phế
vị, tiếng nói trở nên khàn tiếng kêu beriberi thờng gặp ở trẻ nhũ nhi [11]
Thể phù hoặc Beriberi phù: Phù thờng ở chân sau đó lan rộng ra toàn cơ
thể, kèm theo các biểu hiện rối loạn tim mạch nh khó thở, nhịp tim nhanh, có thể có
tăng huyết áp, thể nặng có thể có suy tim trái, gan to. Baunwald đã giải thích các triệu
chứng tim mạch trong tê phù là do ức chế vận mạch, làm tăng sức căng thành mạch dẫn
tới cao huyết áp cả tâm thu và tâm trơng, áp lực máu dồn cả lên tim trái và tim phải,
làm nhịp tim nhanh, có tiếng T3 và có tiếng thổi tâm thu ở mỏm [4]. Những biểu hiện
thay đổi trên điện tim ở bệnh nhân tê phù đã đợc nhiều tác giả nêu lên [26, 98, 9, 24].
Richard, Webster cho thấy những biến đổi chức năng tâm thu của tâm thất trái ở
ngời tê phù [72, 91].
Vũ Quang Bích, nghiên cứu trên 557 trờng hợp tê phù cho thấy, thể phù chiếm
41,66 %, thể phù tim chiếm 10,74 % và thể viêm đa dây thần kinh chiếm 38 %. Diện
năng lợng cho tế bào não và kết quả làm tăng giải phóng glutamat [47].
Sear thông báo hai trờng hợp bệnh não Wernicke ở trẻ em là biến chứng của tình
trạng thiếu dinh dỡng[77].
Các xét nghiệm đánh giá tình trạng vitamin B
1
của cơ thể:
a, Đánh giá trực tiếp tình trạng vitamin B
1
của cơ thể
Đo hoạt động transketolase (ETKA) trong máu toàn phần và hồng cầu
.
Transketolase là một enzym trong con đờng oxy hoá glucose. Enzym này có trong
nhiều loại tế bào nh hồng cầu Tổng hợp enzym này không bị ảnh hởng bởi tình
trạng vitamin B
1
, nhng hoạt động xúc tác của nó phụ thuộc vào TDP gắn với nó. Đo
mức hoạt động của enzym này trong hồng cầu là chỉ tiêu đánh giá tình trạng vitamin B
1
vì hồng cầu là tế bào đầu tiên bị ảnh hởng bởi tình trạng thiếu vitamin B
1
[36].
Nghiêm pháp chức năng đo transketolase trong máu toàn phần và trong hồng cầu,
bao gồm:
a. Đo hoạt động enzym cơ sở trong hồng cầu, số lợng enzym hoạt động hiện
có (TKL)
b. Đo hoạt động enzym với coenzym thừa đợc cho thêm vào đợc gọi là hoạt
động kích thích (EKT).
c. So sánh chỉ số enzym cơ sở và enzym hoạt động kích thích để đánh giá mức
bão hoà của enzym với coenzym. Mối liên quan giữa 2 chỉ số này đợc thể
25 %: thiếu nặng
Nhìn chung trong thiếu vitamin B
1
, mức cơ sở thờng thấp, mức enzym kích
thích (EKT) thờng cao. Khi mức enzym cơ sở và EKT đều giảm, hiệu quả không đổi,
trong trờng hợp này, mức enzym cơ sở đợc quan tâm. Một số yếu tố phụ thuộc tình
trạng vitamin B
1
ảnh hởng đến hoạt động Transketolase hồng cầu. TKL phụ thuộc
vào tuổi trung bình của hồng cầu, với các tế bào hồng cầu trẻ có TKL cao hơn tế bào
già [70]. TKL giảm nhậy trong trờng hợp thiếu vitamin B
1
mạn tính. APO-TKL
(enzym TKL cùng coenzym không phụ thuộc TDP) không ổn định cả trong vivo và
trong vitro. Sự không ổn định của Apo enzym TKL làm cho việc sử dụng nó trong
thực địa bị hạn chế. Mức Apo enzym bị ảnh hởng gián tiếp do tình trạng thiếu
vitamin, bệnh, hormon, thuốc. Trong trờng hợp điều trị thiếu sắt, mức TKL sẽ tăng.
Hiện tợng tơng tự cũng xảy ra ở bệnh nhân điều trị thiếu máu ác tính [53]. Trong
bệnh nhân ng th, hiệu quả TPP giảm mặc dù vitamin B
1
khẩu phần đủ, do chuyển
vitamin B
1
thành thiamin pyrophosphat giảm. Các bệnh nhân bị viêm nhiều dây thần
kinh, bệnh thần kinh tăng urê, ung th, đái tháo đờng tiên phát có mức EKL giảm
[34]
Vitamin B
1
trong huyết thanh, hồng cầu, máu toàn phần
là chỉ số đánh giá tình
1
máu, khác nhau theo các tác giả :
- 20 -
+Theo Vũ Đình Vinh: giới hạn bình thờng từ 18 đến 62
à
g/l [30].
+Theo Uỷ ban Tiêu chuẩn nghiên cứu vitamin của Nhật Bản gợi ý vitamin B
1
máu từ 2,6 đến 2,8
à
g/dl đợc coi là giới hạn thấp của bình thờng [50].
+Theo trích dẫn của Shauna, vitamin B
1
máu dới 2àg/dl đợc coi là thiếu
vitamin B
1
[79]
Đánh giá mức vitamin B
1
trong nớc tiểu
: Mức vitamin B
1
trong nớc tiểu không
đủ phán ánh dự trữ cơ thể nhng nó cung cấp chỉ số vitamin B
nớc tiểu 24 giờ (
à
g/g creatinin)
Thiếu Thấp Bình thờng
1-3 <120 120-175
176
4-6 <88 85-120
121
7-9 <70 70-180
181
10-12 <60 60-180
181
13-15 <50 60-180
151
Ngời lớn <27 27-65
66
Phụ nữ có thai 3 tháng giữa <23 23-54
55
Phụ nữ có thai 3 tháng cuối <21 21-49
50
Các tham khảo khác
Ngời lớn àg/24 giờ
<40 40-99
100
Ngời lớn àg/6 giờ
<10 10-24
. Nếu
đối tợng bài tiết ít hơn 20
à
g đợc coi là tình trạng thiếu.
Trớc đây đo vitamin B
1
trong nớc tiểu sử dụng phơng pháp dẫn xuất huỳnh
quang có sử dụng thiochrom [55]. Hiện nay sử dụng phơng pháp HPLC để đo
vitamin B
1
nớc tiểu [75].
b. Đánh giá gián tiếp tình trạng vitamin B
1
của cơ thể
Pyruvat huyết tơng
: tăng trên giới hạn bình thờng 1,2 mg/dl khi bệnh nhân
nhịn đói. Để phân biệt các nguyên nhân khác có tăng pyruvat ngời ta làm nghiệm
pháp dung nạp pyruvat: cách 30 phút cho uống 50 g glucose, uống hai lần 100g, định
lợng pyruvat ở phút 30, 60, 90 sau lần uống thứ nhất. Ngời bình thờng pyruvat
không tăng quá 1,4 mg/dl, ngời bệnh có thể tăng trên 2 mg/dl. Sau hai tuần điều trị
bằng vitamin B
1
, nghiệm pháp trên sẽ trở về bình thờng. Trong ngộ độc kim loại nặng,
nghiệm pháp dung nạp pyruvat có thể bất thờng, nhng không bao giờ trở về bình
thờng sau điều trị vitamin B
1
.
Nhu cầu khuyến nghị cho phép sử dụng vitamin B
1
trong sữa mẹ 0,23mg/lít (Nail và cs, 1980) và trẻ tiêu thụ trung bình 750ml
sữa mẹ một ngày. Nhu cầu 0,3mg/lít hay 0,4mg/1000kcal đợc ớc tính dựa vào nồng
độ vitamin B
1
trung bình trong sữa mẹ gấp hai lần độ lệch chuẩn [92, 65].
- 22 -
Nhu cầu khuyến nghị cho trẻ nhỏ và thiếu niên
Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo mức vitamin B
1
cho trẻ nhỏ và thiếu niên là
0,4mg/1000kcal,
ủ
y ban Nghiên cứu Quốc gia Anh lại đa ra mức 0,5mg/1000kcal.
Bảng 2. 2. Khuyến nghị lợng vitamin B
1
khẩu phần hàng ngày
Tuổi
Vitamin B
1
(mg)
Tuổi
Vitamin B
1
(mg)
bình)
0.9
16-19 0.9
Nguồn: WHO (1974) [93]
Điều trị bệnh thiếu vitamin B
1
Vitamin B
1
đặc hiệu trong điều trị beriberi và những trờng hợp đợc đánh giá
là thiếu vitamin B
1
.
ở
những trờng hợp nhẹ, nh phụ nữ cho con bú- có nguy cơ thiếu
vitamin B
1
trong chế độ ăn, liều uống hàng ngày 10mg vitamin B
1
trong tuần đầu tiên,
3-5 mg cho ít nhất sáu tuần sau đó. Với những trờng hợp nặng:
- Thiếu vitamin B
1
ở trẻ em
Nếu suy tim nặng, co giật hay hôn mê, 25- 50mg vitamin B
1
truyền tĩnh mạch chậm,
10mg tiêm bắp hằng ngày trong một tuần sau. Tiếp sau đó là 3-5 mg vitamin B
1
1
có nhiều trong họ đậu, ngũ cốc, rau xanh Trong
động vật, vitamin B
1
có nhiều trong thịt ( đặc biệt là thịt lợn), phủ tạng động vật, trứng,
cá
Sử dụng đa dạng thực phẩm sẽ cung cấp đủ vitamin B
1
và các vi chất dinh dỡng
trong khẩu phần. Chiến lợc lâu dài để phòng chống thiếu vitamin B
1
là khuyến khích
ngời dân tăng gia sản xuất, cải thiện bữa ăn, đa dạng hóa thực phẩm.
ở
những vùng
dân c có nguy cơ thiếu vitamin B
1
, một số chơng trình hỗ trợ đã đợc triển khai tập
trung chính vào cung cấp các phơng pháp trồng rau xanh và giáo dục ngời dân sử
dụng các thực phẩm này. Họ đậu là nguồn cung cấp vitamin B
1
quý và là một phần
thức ăn cơ bản trong quần thể. Tuy nhiên tùy theo tập quán của từng địa phơng mà
tuyên truyền loại đậu phù hợp. Ví dụ: Những ngời trong quần thể nhập c ở Nepan
không có thói quen sử dụng đậu lăng khi còn ở quê nhà, do vậy để khuyến khích họ sử
dụng đậu lăng, ngời ta đã phải nghiên cứu chế biến để họ có thể dùng đợc
[
76
]
.
thiếu vitamin B
1
. Nhiều nớc đã áp dụng biện pháp này để nâng cao lợng vitamin B
1 - 24 -
trong khẩu phần. Các thực phẩm thiết yếu nghèo vitamin B
1
nh ngũ cốc xay kỹ sẽ
đợc tăng cờng vitamin B
1
nh bánh mì, bánh qui, ngũ cốc, sữa
Công nghệ tăng cờng vitamin B
1
vào gạo đã phát triển ở Mỹ những năm 1940.
Các hạt gạo trắng xay kỹ đợc làm giàu vitamin B
1
cho đủ nhu cầu cần thiết, bằng cách
trộn lẫn từ trớc gọi là premix. Premix trộn trớc đợc phủ bởi một lớp áo mỏng,
không tan trong nớc, và dễ dàng bị phân tán trong quá trình nấu. Công nghệ làm giàu
vitamin không phức tạp và rất kinh tế. Tuy vậy, gạo làm giàu vitamin B
1
không đợc
chấp nhận do mất trong quá trình vo 10- 20%. Phơng pháp premix mới đợc áp
dụng dựa trên sản xuất gạo tổng hợp cùng các vi chất nh vitamin B
1
nhợc điểm của tăng cờng vitamin B
1
vào ngũ cốc khi nuôi trẻ suy dinh dỡng: giá
thành, giai đoạn ngắn, sản phẩm không phải của địa phơng
[
35, 71, 85
]
Bánh bích qui đợc tăng cờng vitamin B
1
đợc sử dụng nhiều trong các trờng
hợp khẩn cấp, đợc cộng đồng chấp nhận.
Muối cũng có thể đợc làm giàu với vitamin B
1
nhng không có thử nghiệm nào
đợc tiến hành với những trờng hợp mất vitamin B
1
trong nấu nớng với muối đợc
làm giàu vitamin B
1
.
Bổ sung viên vitamin B
1 Ưu điểm của biện pháp này là cải thiện nhanh chóng tình trạng thiếu vitamin B
1
của các đối tợng bị đe dọa. Tuy vậy đòi hỏi một hệ thống phân phát, theo dõi tốt, đắt
tiền và không hiệu quả trong giai đoạn dài. Bổ sung vitamin B