Bộ Y tế
học viện y dợc học cổ truyền Việt nam
Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ
Nghiên cứu Thực trạng sử dụng thuốc
và các biện pháp không dùng thuốc YHCT
Tại các tỉnh phía bắc
(Đề tàI nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2005 - 2007) Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Phạm Vũ Khánh, TS Nghiêm Hữu Thành
Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Y - Dợc học cổ truyền Việt Nam 6940
04/8/2008 Hà Nội - 2007
Danh mục chữ cái viết tắt
- CBYT : Cán bộ y tế
- CC : Châm cứu
- CSSK : Chăm sóc sức khoẻ
- CSSKBĐ : Chăm sóc sức khoẻ ban đầu
- CSSKCĐ : Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
- CSYT : Cơ sở y tế
- HA : Huyết áp
- HC : Hội chứng
- KCB : Khám chữa bệnh
- NC : Nghiên cứu
- NCKH : Nghiên cứu khoa học
- PP : Phơng pháp
- RLTĐ : Rối loạn tiền đình
- SD : Sinh dục
- SNCT : Suy nhợc cơ thể
- SNTK : Suy nhợc thần kinh
- TBMMN : Tai biến mạch máu não
- TCYTTG : Tổ chức y tế thế giới
- THCS : Trung học cơ sở
quan trọng bảo đảm sự thành công chiến lợc CSSKBĐ của ngành y tế mỗi
quốc gia. Một số nghiên cứu cho thấy có 80 - 85% dân số của châu Phi đợc
giáo dục và CSSK từ những ngời cung cấp dịch vụ YHCT; có khoảng 2,5
triệu ngời Anh đợc điều trị bệnh bằng Trung y; hàng năm tại Trung Quốc
có trên 200 triệu bệnh nhân đợc điều trị ở những bệnh viện YHCT; ở Nhật
Bản ngời dân sử dụng các loại thuốc YHCT để điều trị bệnh ngày một tăng
[97][106].
ở Việt Nam, việc sử dụng YHCT của ngời dân trong điều trị đã đợc
một số công trình nghiên cứu trớc đây khẳng định là thấp. Kết quả nghiên
cứu của Trần Thuý và cộng sự năm 1999 về sử dụng và quan niệm của ngời
dân về YHCT cho thấy chỉ có 13,5% ngời dân đã sử dụng YHCT trong điều
trị bệnh. Cũng về vấn đề này, theo nghiên cứu của Ngô Huy Minh năm 2002 ở
một huyện miền núi tỉnh Hoà Bình, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ này còn
thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thuý và cộng sự năm 1999 (10,9%)[51].
Theo Điều tra y tế quốc gia năm 2002 thì tỷ lệ khám bệnh ngoại trú về YHCT
tại các trạm y tế chỉ đạt 2%[25]. Việc nghiên cứu về thực trạng sử dụng YHCT
và tìm hiểu yếu tố ảnh hởng đến việc sử dụng YHCT của ng
ời dân ở khu
vực phía Bắc là một việc làm cần thiết nhằm cung cấp cho chúng ta những
thông tin quý báu về thực trạng sử dụng, thái độ và kiến thức của ngời dân
đối với YHCT. Qua đó, chúng ta có thể tìm ra đợc những yếu tố thúc đẩy
hoặc kìm hãm việc sử dụng YHCT của ngời dân trong CSSKCĐ. Nghiên cứu
giúp ta có thêm cơ sở khoa học, góp phần xây dựng chiến lợc, chính sách
phát triển YHCT theo tinh thần Nghị quyết 46 của Bộ Chính trị: phát triển
YDHCT thành một chuyên ngành khoa học[38]. Thêm vào đó, cho đến nay
có rất ít các nghiên cứu tổng thể về vấn đề này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài với mục tiêu:
- Nghiên cứu tình tình sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khoẻ tại
các tỉnh phía bắc.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới việc sử dụng YHCT trong
* Xoa bóp, bấm huyệt là dùng tay làm các động tác nh: xoa, day, lăn,
miết, phân, hợp, xát, chặt, bấm, ấn, đấm v.v lên các vùng nhất định, huyệt
nhất định để chữa bệnh.
* Sử dụng YHCT là dùng thuốc hoặc các phơng pháp không dùng thuốc
YHCT để chữa bệnh, nâng cao sức khoẻ hoặc kết hợp cả hai mục đích. Không
sử dụng YHCT là không dùng bất kỳ một hình thức chữa bệnh nào của YHCT.
* Hộ nghèo ở nông thôn là những hộ có mức thu nhập bình quân
200.000đồng/ngời/tháng trở xuống; hộ nghèo ở thành thị là những hộ có mức
thu nhập bình quân 260.000đồng/ngời/tháng trở xuống (Quyết định số 3
170/2005/QĐ-TTg ngày 08/07/2005 của Thủ tớng Chính phủ về việc Ban
hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010).
2. YHCT trong CSSKCĐ một số nớc trên thế giới
Thuật ngữ "YHCT đề cập đến những cách bảo vệ và phục hồi sức khoẻ
trớc khi có YHHĐ; đợc lu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [102]. Để
thống nhất khái niệm về YHCT, Tổ chức Y tế thế giới đã đa ra định nghĩa
nh sau: "Toàn bộ kiến thức, kỹ năng và thực hành dựa trên lý luận, lòng tin
và kinh nghiệm vốn có của những nền văn hoá khác nhau, dù đã đợc giải
thích hay cha, nhng đợc sử dụng để duy trì sức khoẻ, cũng nh để phòng
bệnh, chẩn đoán, cải thiện hoặc điều trị tình trạng đau ốm về thể xác hoặc tinh
thần" [66].
TCYTTG cũng đã khẳng định: "Không cần chứng minh lợi ích của
YHCT, mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn nữa những khả năng của
nó có lợi cho toàn thể nhân loại, phải đánh giá và công nhận theo đúng giá trị
của nó và làm nó hữu hiệu hơn. Đó là hệ thống mà dân chúng từ trớc đến nay
đã coi nh của mình và chấp nhận không hạn chế. Hơn thế dù ở đâu nó cũng
có lợi nhiều hơn những hệ thống từ ngoài, vì nó là một bộ phận không thể tách
đồng y học đợc ký giữa Trung Quốc với các nớc khác trong đó có sự hợp
tác về YHCT. YHCT của Trung Quốc nói chung đã giành đợc vị thế hợp
pháp ở nhiều nớc bao gồm Singapo, Malaisia, Indonesia ở Trung Quốc,
hơn 3.000 xí nghiệp đang tham gia vào các hoạt động về YHCT. Năm 2004,
công nghiệp thuốc cổ truyền Trung Quốc đã thu đợc 90 tỷ Nhân dân tệ
(tơng đơng 11,1 tỷ USD), tổng giá trị sản lợng chiếm 26% toàn bộ khu vực
dợc phẩm Trung Quốc [2] [69].
Nền YHCT của Nhật Bản có lịch sử trên 1.400 năm. Nhật Bản đợc xem
là nớc có tỷ lệ ngời sử dụng YHCT cao nhất trên thế giới hiện nay. Thuốc
cổ truyền Nhật Bản là sự kết hợp giữa thuốc cổ truyền Trung Quốc và thuốc
dân gian Nhật Bản gọi chung là Kampo. Tính từ năm 1974 đến 1989, sử dụng
các loại thuốc YHCT ở Nhật Bản đã tăng 15 lần trong khi các loại tân dợc
chỉ tăng 2,6 lần. ít nhất 65% bác sĩ ở Nhật khẳng định rằng họ đã sử dụng
phối hợp đồng thời thuốc YHCT và thuốc YHHĐ [76].
ở khu vực Đông Nam á, các nớc Indonesia, Malaisia, đặc biệt là Thái
Lan cũng là những nớc có truyền thống sử dụng YHCT để bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khoẻ [92]. Từ năm 1950 đến 1980, YHCT Thái Lan gần
nh bị tê liệt hoàn toàn do quá coi trọng YHHĐ. Điều này có ảnh hởng đến
chất lợng CSSKBĐ ở Thái Lan. Từ năm 1980, chính phủ và ngành y tế Thái
Lan đã kịp nhận ra những sai lầm này và đã có những biện pháp hữu hiệu khôi
phục lại nền YHCT nh: khẩn trơng thiết lập chính sách phát triển thuốc thảo
mộc trên phạm vi cả nớc, tiến hành các cuộc điều tra về cây thuốc, các
nghiên cứu dợc học, y xã hội học và đồng thời triển khai kế hoạch thành lập
các trung tâm YHCT tại các tỉnh nhằm dần từng bớc đa YHCT vào hệ thống
y tế quốc gia phục vụ CSSK cho nhân dân [97].
Trong chiến lợc phát triển YHCT năm 2002 - 2005, TCYTTG đã tích
cực và nỗ lực hỗ trợ cho các hoạt động phát triển nguồn lực YHCT ở các nớc
thông qua các khoá đào tạo cho lơng y ở Lào, Mông Cổ, Philippin và các
quốc đảo Tây Thái Bình Dơng. Mục tiêu là sử dụng những lơng y đã đợc
bác sỹ thực hành đã khuyến cáo ngời dân có thể sử dụng một trong mời liệu
pháp điều trị thay thế: châm cứu, thôi miên, ngồi thiền, tác động cột sống, thể
dục nhịp điệu, Yoga, vi lợng đồng căn, thảo dợc, xoa bóp, ngửi hoa. Chính
phủ đã có những chính sách phổ cập những biện pháp thay thế này đến toàn
cộng đồng [101].
Kết quả một nghiên cứu tại Australia cho thấy, hầu hết ngời dân đ
ợc
CSSK từ 2 hệ thống y tế là YHHĐ và YHCT. Cho dù đó là hệ thống nào thì 6
chúng đều có tầm quan trọng nh nhau. Nhng YHCT đặc biệt đợc quan tâm
trong CSSK ngời cao tuổi [107].
Trong 10 năm qua mối quan tâm đối với thuốc YHCT ngày càng đợc
tăng lên ở nhiều quốc gia. Năm 1989 có 1/3 ngời Mỹ đã sử dụng thuốc
YHCT. Năm 1990 doanh số bán ra của thuốc YHCT ớc khoảng 1 tỷ USD
[49]. 60% dân số Hà Lan và Bỉ, 74% dân số Anh hài lòng với phơng pháp
chữa bệnh theo YHCT [104].
3. YHCT trong CSSK ở Việt Nam
YHCT Việt Nam ra đời rất sớm và gắn liền với sự phát triển của truyền
thống văn hoá dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, YHCT Việt Nam đã đúc
rút đợc nhiều kinh nghiệm phòng và chữa bệnh có hiệu quả. Nền YHCT Việt
Nam còn đợc phát triển trong sự giao lu với Trung Quốc và các nớc trong khu
vực, bằng sự xuất hiện nhiều danh y lớn nh Tuệ Tĩnh, Hải Thợng Lãn ông,
Nguyễn Đại Năng, Hoàng Đôn Hoà YHCT Việt Nam không chỉ là một nền y
học kinh nghiệm đơn thuần mà còn phát triển về mặt lý luận. Các tác phẩm
YHCT Việt Nam có giá trị to lớn trong nền y học và văn hoá dân tộc [24].
Thời kỳ Hồng Bàng và các vua Hùng, nhân dân ta đã biết ăn trầu, trầu có
tác dụng làm ấm ngời, chống "sốt rét cơn, ngã nớc", nhuộm răng làm chặt
- Về phòng bệnh, có quyển Vệ sinh yếu quyết đã chỉ dẫn cụ thể cách
giữ vệ sinh theo hoàn cảnh sinh hoạt của nhân dân ta, từ vệ sinh cá nhân đến
vệ sinh môi trờng với cách tu dỡng tinh thần và rèn luyện thân thể để
tăng sức khoẻ, tăng tuổi thọ. Ông còn rất chú trọng đến các điều kiện môi
trờng, khí hậu, phong tục tập quán khác nhau để có cách chữa bệnh phù
hợp với các điều kiện đó.
- Về dợc học, phát huy truyền thống của Tuệ Tĩnh, ông thừa kế Nam
dợc thần hiệu 496 vị, bổ sung 300 vị trong tập Lĩnh nam bản thảo, gần 2.000
phơng thuốc gia truyền kinh nghiệm vào các tập Bách gia trân tàng, Hành giả
trân nhu. Ông đã đúc kết đợc nhiều qui tắc chẩn đoán, biện chứng, luận trị,
cách dùng thuốc chữa bệnh và đạo đức ngời thầy thuốc. Ông đợc suy tôn là
đại y tông.
Dới triều Tây Sơn (1789-1802) lơng y Nguyễn Hoành quê ở Thanh
Hoá biên soạn tập thuốc nam có trên 500 vị cỏ cây ở địa phơng và 130 vị
các loại động khoáng vật làm thuốc với công dụng đơn giản theo kinh
nghiệm dân gian.
Dới triều Nguyễn (1802-1945) khi có dịch bệnh, Viện thái y mời các
thầy thuốc ở địa phơng tham gia chống dịch. Tổ chức Viện thái y còn qui
định cụ thể các phơng thức phục vụ thuốc men (bào chế, kiểm tra, đóng gói,
sắc thuốc của phòng Ngũ dợc)
Dới thời Pháp thuộc (1884-1945), do ảnh hởng của phong trào "Tây
hoá" ở các nớc phơng Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, chế độ thực dân
thuộc địa, bán thuộc địa đã kìm hãm ngành YHCT, nhng chủ yếu tại các đô
thị, còn tuyệt đại đa số nhân dân lao động nghèo nhất là ở nông thôn và miền
núi vẫn tin dùng phơng pháp YHCT để chữa bệnh. Nhờ đó nền YHCT Việt
Nam vẫn đợc bảo tồn, duy trì và phát triển. 8
thời kỳ bao cấp không còn phù hợp với những thay đổi nhanh chóng, sâu sắc
của nền kinh tế xã hội, với yêu cầu phát triển kinh tế hộ gia đình. Hậu quả là
hàng loạt các cơ sở thuốc nam và châm cứu ở trạm y tế xã/phờng không hoạt
động, nhiều lơng y ra khỏi các trạm y tế ở tuyến y tế cơ sở, chỉ có khoảng 10
- 12% số trạm y tế xã/phờng còn hoạt động YHCT, nguồn thuốc, hoạt động 9
bào chế YHCT cung cấp cho cộng đồng trong CSSK và điều trị cũng giảm sút
[18] [19]. Cán bộ đợc đào tạo YHCT ít muốn trở về y tế cơ sở để phục vụ
[48]. Những biến động này đã ảnh hởng đến chất lợng CSSKBĐ cũng nh
việc thực hiện các mục tiêu của chơng trình CSSKCĐ, do đó cha đảm bảo
đợc tính công bằng trong CSSK nhân dân.
Trớc tình hình đó, báo cáo "Đánh giá công tác CSSK và bảo vệ sức khoẻ
nhân dân trong tình hình mới, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VII đến
nay" của Bộ Y tế đã nêu rõ: Đảm bảo công bằng về CSSK cho nhân dân và
giữ đợc bản chất nhân đạo của ngành y tế trong điều kiện kinh tế thị trờng
là một vấn đề cấp bách, vừa là chính sách lâu dài"[60].
Bộ Y tế khẳng định: "Phát triển sử dụng thuốc nam và các phơng pháp
chữa bệnh không dùng thuốc của YHCT tại cơ sở y tế và cộng đồng vẫn là
mục tiêu chiến lợc của ngành y tế trong những thập kỷ tới để bảo vệ sức khoẻ
cho nhân dân tại cộng đồng" [60].
Mong muốn chấn hng và phát triển màng lới YDCT nói chung và
màng lới YDCT tuyến cơ sở nói riêng, vào những năm cuối thập kỷ 90 của
thế kỷ 20, Đảng và Nhà nớc đã có những quan tâm sát thực: ngày 30/8/1999,
Chính phủ đã có Chỉ thị 25/1999/CT-TTg về việc đẩy mạnh công tác YDHCT
nhằm phát triển mạnh công tác YDHCT trong tình hình mới [21]. Ngày
03/11/2003, Thủ tớng Chính phủ đã có Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg
ban hành chính sách Quốc gia về YDHCT và chiến lợc phát triển YDHCT
- Văn bản số 3777/YT YH ngày 16/5/2002 của Bộ Y tế về việc:
"Chỉ đạo xây dựng xã điểm tiên tiến về YDHCT" [13].
Nhằm quán triệt và thực hiện tốt các chỉ thị, quyết định cùng các văn bản
trên của Đảng, Chính phủ và của Bộ Y tế, trong những năm qua ngành y tế đã
tập trung chỉ đạo công tác phát triển màng lới y tế cơ sở nói chung và về lĩnh
vực YDCT nói riêng, tập trung chính vào việc triển khai Chính sách Quốc gia về
YDCT, xây dựng xã tiên tiến và chuẩn Quốc gia y tế xã về YHCT.
Kết quả: tính đến tháng 12 năm 2005, cả nớc đã có 54 viện, bệnh viện
YHCT, trong đó có 2 bệnh viện đầu ngành (Bệnh viện YHCT Trung ơng,
Bệnh viện Châm cứu Trung ơng), 2 bệnh viện ngành (Quân đội, Công an) và
50 bệnh viện YHCT tỉnh, thành phố, 62/64 bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố
có khoa YHCT, trên 50% các bệnh viện đa khoa khu vực và các bệnh viện đa
khoa huyện, thị có khoa hoặc bộ phận YHCT lồng ghép. Tuy nhiên hầu hết
các bệnh viện YHCT tỉnh, thành phố mới chỉ đạt bệnh viện hạng III với số
giờng bệnh thấp, biên chế còn rất thiếu và yếu, cơ sở vật chất, trang thiết bị
còn nghèo nàn, cha thực sự tơng xứng với chức năng, nhiệm vụ của bệnh
viện[64].
Theo báo cáo của Vụ YHCT - Bộ Y tế tại Hội nghị sơ kết công tác xây
dựng xã tiên tiến và chuẩn quốc gia về YDHCT tháng 8 năm 2004: tính đến
thời điểm đó, trên toàn quốc có 42/64 tỉnh, thành có báo cáo đã thực sự triển
khai xây dựng xã điểm tiên tiến và chuẩn Quốc gia về YDHCT, và đạt đợc
nhiều kết quả khả quan. Cụ thể là số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã là 625
và số xã đạt tiêu chuẩn xã tiên tiến về YHCT là 227 [14]. 11
Tuy nhiên số xã có biên chế và hoạt động YHCT còn quá ít, số xã đạt
chuẩn quốc gia chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn so với tổng số xã trong cả nớc
(625/11.000, chiếm tỷ lệ 5,7%) [14].
hoạt động tại cơ sở, Bệnh viện còn tổ chức hớng dẫn thực hiện, kiểm tra,
giám sát, đánh giá xã/phờng điểm tiên tiến và chuẩn IV (Chuẩn về YHCT)
trong chuẩn Quốc gia về y tế xã. Bên cạnh những thuận lợi đã kể trên, bệnh 12
viện YHCT tỉnh Bắc Ninh cũng còn gặp không ít những khó khăn về nhân lực,
cơ sở vật chất, trang thiết bị bệnh viện cũng nh kinh phí dành cho khám chữa
bệnh bằng YHCT còn thấp so với hệ thống khám chữa bệnh tại tỉnh và với hệ
bệnh viện YHCT trong cả nớc [5].
+ Các trung tâm y tế huyện và bệnh viện đa khoa đều có khoa hoặc
tổ YHCT, đã triển khai khám chữa bệnh cho nhân dân bằng các biện pháp dùng
thuốc và không dùng thuốc của YHCT. Các bộ phận này dần từng bớc tự
khẳng định đợc vai trò và vị trí của mình trong bệnh viện. Tuy nhiên tại các bộ
phận này số biên chế về YHCT còn rất thiếu và ít đợc bồi dỡng, đào tạo lại
nên phần nào đã ảnh hởng đến công tác CSSK cho ngời dân bằng YHCT.
+ Số trạm y tế xã/phờng có hoạt động YHCT trong toàn tỉnh là 78
xã/phờng (những xã/phờng này đã đợc công nhận đạt chuẩn Quốc gia).
Tuy nhiên việc duy trì vờn thuốc nam và sử dụng các phơng pháp YHCT
trong điều trị, CSSK cộng đồng tại các xã/phờng trên vẫn là một vấn đề cần
quan tâm [46].
+ Hệ thống Hội Đông y bao gồm: tỉnh hội, 8/8 huyện, thị hội và 75
chi hội xã/phờng.
+ Trong cơ chế thị trờng hiện nay đời sống ngời dân còn gặp
nhiều khó khăn, thu nhập thấp tỷ lệ đói nghèo còn cao, việc CSSK cộng đồng
(CSSKCĐ) còn nhiều vấn đề bất cập, chủ trơng của ngành y tế địa phơng
cũng tăng cờng phát triển YHCT để góp phần cải thiện chất lợng CSSKCĐ
ở Bắc Ninh ngày một tốt hơn.
4.2. Tỉnh Hà Tây .
quan trọng trong việc CSSK nhân dân; có hệ thống tổ chức từ tuyến tỉnh đến
tuyến xã:
+ Bệnh viện YHCT với quy mô 100 giờng bệnh.
+ Khoa YHCT, bệnh viện Đa khoa tỉnh có quy mô 40 giờng bệnh.
+ Hầu hết các TTYT đều có bộ phận khám chữa bệnh bằng YHCT
trong khoa nội, 4 huyện, thị xã có khoa YHCT riêng biệt với quy mô 10 - 15
giờng bệnh.
+ 362 cơ sở đủ điều kiện hành nghề YHCT t nhân đợc Sở Y tế
cấp phép, trong đó có 22 cơ sở YHCT gia truyền.
+ Về lĩnh vực sản xuất thuốc YHCT: tỉnh có một số công ty sản
xuất thuốc YHCT lớn nh: công ty cổ phần dợc Hà Tây sản xuất 13/43 mặt
hàng, công ty Đông dợc Phúc Hng, công ty Đông dợc Bảo Long, công ty
dợc á Châu và 12 cơ sở bán thuốc sống - chín t nhân.
+ Hội Đông y tỉnh Hà Tây đợc thành lập năm 1958, với lực lợng
ban đầu chỉ có 300 hội viên. Trải qua gần 50 năm, Hội Đông y tỉnh Hà Tây
không ngừng lớn mạnh. Cho đến nay tổ chức mạng l
ới hội đã phát triển
mạnh mẽ từ cấp tỉnh đến các chi hội xã/phờng. Toàn tỉnh có 14 huyện thị đều
có tổ chức Hội trong đó có trên 100 chi hội và 5 chi hội trực thuộc tỉnh Hội.
Đến năm 2005 đã có 1.340 hội viên, trong đó có 640 lơng y, 131 y bác sỹ, 44
dợc sỹ, trong đó có 322 hội viên đủ điều kiện đợc cấp giấy phép hành nghề.
4.3. Tỉnh Quảng Ninh.
4.3.1. Sơ lợc về tình hình kinh tế, văn hoá, x hội của tỉnh Quảng Ninh.
Quảng Ninh là một tỉnh miền núi duyên hải thuộc vùng Đông Bắc Việt
Nam với diện tích là 8.239,243 km
2
. Trong đó, diện tích đất liền là 5.938 km
2
;
vùng đảo, vịnh, biển (nội thuỷ) là 2.448,853 km
chế hiện có 104 ngời, 20 cán bộ hợp đồng. Ngoài các hoạt động tại cơ sở,
Bệnh viện còn tổ chức hớng dẫn thực hiện, kiểm tra, giám sát, đánh giá
xã/phờng điểm tiên tiến và chuẩn IV (Chuẩn về YHCT) trong chuẩn Quốc
gia về y tế xã.
+ Đa số các trung tâm y tế huyện và bệnh viện đa khoa đều có khoa
hoặc tổ YHCT, đã triển khai khám chữa bệnh cho nhân dân bằng các biện
pháp dùng thuốc và không dùng thuốc của YHCT. Tuy nhiên số biên chế về
YHCT tại các bộ phận này còn rất thiếu và ít đợc bồi dỡng, đào tạo lại nên
phần nào đã ảnh hởng đến công tác CSSK cho ngời dân bằng YHCT.
+ Số trạm y tế xã/phờng có hoạt động YHCT trong toàn tỉnh là 58
xã/phờng (những xã/phờng này đã đợc công nhận đạt chuẩn Quốc gia).
+ Hệ thống Hội Đông y bao gồm: tỉnh Hội, 5/14 huyện, thị Hội và
58 chi hội xã/phờng. 15
Chơng 2
Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
1. đối tợng nghiên cứu
1.1. Đối tợng nghiên cứu.
* Nhóm 1: Cán bộ y tế
- Lãnh đạo chủ chốt: lãnh đạo Sở Y tế, lãnh đạo Bệnh viện YHCT
tỉnh, Trung tâm y tế huyện/thị, trạm y tế xã/phờng; trởng phòng kế hoạch
tổng hợp Bệnh viện YHCT tỉnh, TTYT huyện; lãnh đạo Hội Đông y, Châm
cứu các cấp.
- Các cán bộ y tế trực tiếp làm lâm sàng tại trạm y tế xã/phờng.
- Những ngời hành nghề y tế t nhân YHCT tại địa bàn nghiên cứu
* Nhóm 2: Các tổ chức đoàn thể
- Đại diện các tổ chức, đoàn thể ở các huyện, xã, thôn, xóm tại địa
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lợng và định
tính.
* Nghiên cứu định lợng:
- Thống kê mô hình bệnh tật tuyến tỉnh, huyện và xã/phờng
- Xác định tỷ lệ sử dụng YHCT tại các tuyến và cơ sở y tế t nhân
- Kiến thức, kỹ năng thực hành, quan điểm về YHCT của cán bộ y tế
xã/phờng, ngời hành nghề y tế t nhân YHCT
- Thực trạng sử dụng YHCT tại các hộ gia đình
* Nghiên cứu định tính:
Xác định sâu thêm về quan điểm, thái độ, nhu cầu và các giải pháp phát
triển YDHCT ở địa phơng bằng phơng pháp phỏng vấn sâu các cán bộ chủ
chốt, đại diện cho chính quyền và ngành y tế, thảo luận nhóm đối với các cán
bộ y tế, các tổ chức đoàn thể và ngời dân. 17
2.2. Phơng pháp chọn mẫu.
2.2.1. Phơng pháp chọn mẫu.
Sơ đồ chọn mẫu
Bộ Y tế
học viện y dợc
ổề
Khoa YHCT BVĐK
huyện
Huyện hội ĐY/CC
Khoa YHCT BVĐK
Tổ YHCT TTYT
Thị/Thành hội ĐY/CC
Khoa YHCT BVĐK
bộ y tế
Cán bộ
lãnh đạo
xã/phờng
xã1 xã3xã2 xã1 xã3xã2 xã1 xã2 xã3
Sở y tế
Bệnh viện YHCT tỉnh
Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Tỉnh
Huyện/
thành phố/
thị xã
Xã
Tổ
chức
Đối
tợng 18
2.2.2. Cỡ mẫu.
2.2.2.1. Nghiên cứu định lợng.
* Cán bộ y tế xã/phờng và y tế t nhân YHCT (chọn mẫu xác suất)
- Tính cỡ mẫu theo công thức ngẫu nhiên đơn
()
2
2/1
2
)1(
x
xn
Trong nghiên cứu này cỡ mẫu đợc lấy cụ thể gồm:
+ 96 cán bộ y tế xã/phờng
+ 124 ngời hành nghề y tế t nhân YHCT
- Cách chọn cán bộ y tế xã/phờng và y tế t nhân YHCT: theo
phơng pháp ngẫu nhiên hệ thống (Lập hai bảng danh sách CBYT xã/phờng
và y tế t nhân YHCT trên địa bàn nghiên cứu theo vần A, B, C đợc danh
sách mẫu hệ thống, chia cho kích thớc mẫu đợc chọn là 100 ta đợc khoảng
cách mẫu, số của cán bộ y tế xã/phờng hoặc ngời hành nghề y tế t nhân
đầu tiên đợc chọn một cách ngẫu nhiên trong danh sách mẫu; lấy cán bộ y tế
xã/phờng hoặc ngời hành nghề y tế t nhân đầu tiên cộng với khoảng cách
mẫu đợc ngời thứ 2, cứ nh thế chọn đến ngời thứ 100).
* Cỡ mẫu ngời dân.
- Cỡ mẫu cho đối tợng ngời dân sử dụng YHCT tại cộng đồng
nghiên cứu đợc xác định theo công thức: 19()
2
2/1
2
).1(
e
DEpp
Zn
Chọn mẫu có chủ định:
- Tỉnh: 03 lãnh đạo Sở Y tế, 03 chuyên viên phụ trách YHCT của Sở
Y tế, 03 lãnh đạo và 03 trởng phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện YHCT
tỉnh, trởng khoa YHCT bệnh viện đa khoa tỉnh, chủ tịch hội Đông y, hội
Châm cứu tỉnh.
- Huyện: 09 giám đốc hoặc phó giám đốc, 09 trởng phòng kế hoạch
tổng hợp của trung tâm y tế huyện, thị, 09 trởng khoa YHCT bệnh viện
huyện, 09 chủ tịch huyện hội Đông y, huyện hội Châm cứu.
- Xã: đại diện các tổ chức, đoàn thể tại các địa phơng nghiên cứu.
Đây là những ngời có kinh nghiệm và hiểu biết nhất định về CSSK, mặt khác
họ có uy tín đối với cộng đồng dân c nên thông qua thảo luận nhóm, chính
những thành viên này sẽ là những tuyên truyền viên đắc lực trong việc trồng 20
và sử dụng thuốc nam và các phơng pháp không dùng thuốc của YHCT trong
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ tại cộng đồng. Tổng cộng đối tợng đợc chọn
là: 27 nhóm, mỗi nhóm 5 - 10 ngời.
3. Phơng pháp thu thập và xử lý số liệu
3.1. Kỹ thuật thu thập số liệu.
- Thu thập thông qua bảng câu hỏi, bảng kiểm
- Phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
- Hồi cứu sổ sách
3.2. Xử lý số liệu.
- Định lợng: sử dụng phần mềm Epi Info 6.04.
- Định tính: tổng hợp theo chủ đề, trích dẫn và phân tích số liệu.
3.3. Các biến số nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu Các biến số
Loại
YHCT tại
các tuyến
khu vực y
tế công lập
- Kiến thức về YHCT
tuyến xã: loại A, loại
B, loại C
Định lợng Bộ câu hỏi 21
- Kỹ năng thực hành
về YHCT tuyến
xã/phờng: loại A, loại
B, loại C
Định lợng Bộ câu hỏi
- Hoạt động của trạm
y tế xã/phờng:
+ Hoạt động khám -
chữa bệnh bằng YHCT
+ Hoạt động giám sát,
hỗ trợ của tuyến trên
+ Cơ sở vật chất
Định lợng
Định tính
Bộ câu hỏi
Phỏng vấn sâu,
thảo luận nhóm
- Quan điểm phát triển
thuốc và các biện pháp
không dùng thuốc
YHCT
+ Loại A, loại B, loại C
Định lợng Bộ câu hỏi 22
Hoạt động khám -
chữa bệnh:
+ Giấy phép hành nghề
+ Thời gian hành nghề
+ Số lợng bệnh nhân
điều trị trong 1 tháng
+ Các dạng thuốc
thờng sử dụng
+ Nguồn cung cấp
thuốc
Định lợng Bộ câu hỏi
Nhu cầu đào tạo
YHCT
Định lợng
Định tính
Bộ câu hỏi
Hoạt động giám sát
của tuyến trên
Định lợng
Định tính
Bộ câu hỏi
chữa bằng thuốc YHCT
Định lợng Bộ câu hỏi