LỜI MỞ ĐẦU.
Cơ sở dữ liệu là một trong những ngành được quan tâm nhiều trong
khoa học máy tính, trong công nghệ thông tin. Từ khi có mô hình cơ sở dữ liệu
đầu tiên vào những năm 60 đến nay tuy không là chặng đường dài đối với các
ngành khoa học khác, nhưng với khoa học máy tính và đặc biệt với cơ sở dữ
liệu thì đó là thời gian đáng kể. Cơ sở dữ liệu đã trải qua nhiều thế hệ của hệ
quản trị cơ sở dữ liệu, và đã có nhiều ứng dụng trong khoa học và trong các
nghành kinh tế quốc dân.
Thời đại thông tin ngày nay, bài toán cơ bản và cốt yếu là :Làm thế nào
lưu trữ thông tin an toàn và chắc chắn đồng thời lại truy cập chính xác và dễ
dàng. Theo thời gian, yêu cầu của bài toán ngày càng cao với lượng thông tin
cần lưu trữ, xử lý ngày càng nhiều và đa dạng.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Oracle là một trong những giải pháp tốt nhất,
được công nhận trên thị trường tin học thế giới hiện nay. Oracle đã được
nghiên cứu và phát triển, cho phép người sử dụng khai thác triệt để tiềm năng
của hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu quan hệ một cách ưu việt và mạnh nhất hiện
nay.
Nhu cầu tích lũy và xử lý các dữ liệu đã nảy sinh trong mọi công việc,
trong mọi hoạt động của con người. Một cá nhân hay một tổ chức có thể đã
nhầm có một hệ thống xử lý dữ liệu, dù cơ chế hoạt động của nó là thủ công và
chưa tự động hoá. Một bài toán nhỏ cũng cần đến dữ liệu, nhưng không
nhất thiết phải quản lý các dữ liệu theo các phương pháp khoa học. Do khả
năng tổng hợp của người xử lý, các dữ liệu ấy được lấy ra, được xử lý mà
không vấp phải khó khăn nào. Tuy nhiên khi bài toán có kích thước lớn hẳn và
số lượng dữ liệu cần phải xử lý tăng lên nhanh thì e rằng tầm bao quát của con
người bình thường khó có thể quản lý hết được! Ấy là không kể đến một số
loại dữ liệu đặc biệt; chúng đòi hỏi được quản lý tốt không phải vì kích thước
mà vì sự phức tạp của bản thân chúng tổ chức xử lý dữ liệu một cách khoa học
đòi hỏi con người sử dụng cơ sở dữ liệu.
1
biệt Oracle 8i phiên bản hỗ trợ nhiều tính năng mới và đặc biệt là các ứng
dụng cơ sở dữ liệu Internet.
I.1. ORACLE VÀ CÔNG NGHỆ CLIENT/ SERVER.
Oracle Corporation trở thành một công ty cơ sở dữ liệu nổi tiếng nhờ
tạo ra một hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ kiểu Server với hiệu suất
3
cao và đầy đủ chức năng .Oracle đã vượt qua tầm vóc của một công ty cơ sở
dữ liệu khi bổ sung hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ kiểu Server của nó những
sản phẩm tích hợp cao được thiết kế đặc biệt cho các ứng dụng xử lý dữ liệu
phân tán và công nghệ Client/ Server.
II.CƠ SỞ DỮ LIỆU ORACLE TRONG KIẾN TRÚC
CLIENT/SERVER.
Oracle Corporation đã trở thành người dẫn đầu khi đưa ra công nghệ
Client/Server tiên tiến, định hướng phát triển sản phẩm đặc trưng theo hướng
hỗ trợ thiết kế, cài đặt và quản lý các hệ thống cơ sở dữ liệu Client/Server.
Orcale đã thiết kế các sản phẩm theo một trong ba thành phần chủ yếu của
kiến trúc Client/Server:
Một hệ cơ sở dữ liệu quan hệ server hiệu suất cao, đủ tính năng,
thích ứng cho các chủng loại, từ các máy tính xách tay( laptop, notebook)
cho đến các máy mainframe.
Sự phát triển client và các sản phẩm run-time hỗ trợ nhiều môi
trường GUI
Các phần trung gian kết nối cơ sở dữ liệu cung cấp sự giao tiếp
bảo mật và hiệu quả trên nhiều lọai hình giao thức mạng. Các sản phẩm
Oracle có tính thích ứng cao, cung cấp các giải pháp Client/Server trọn vẹn
cho cho các môi trường ứng dụng từ các nhóm làm việc nhỏ đến các môi
trường công ty
III. HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU QUAN HỆ ORACLE 8
SERVER.
tương tự các stored procedure.
IV. CÁC SẢN PHẨM KẾT NỐI MẠNG.
Net8: Là một phần mềm kết nối cơ sở dữ liệu dùng để cung cấp
các thông tin cơ sở dữ liệu xác thực, tối ưu trên mọi thủ tục mạng thông
dụng.
Oracle Names: Tạo các liên kết cơ sở dữ liệu chứa các thông tin
nút mạng trên một mạng bằng cách sử dụng từ điển toàn cục chung Oracle
Names.
5
Multi- protocol Interchange: cung cấp một nhu cầu giao tiếp trên
các thủ tục khác biệt bằng cách gửi thông điệp SQL* Net từ thủ tục này
sang thủ tục khác.
Oracle Network Manager: Quản lý cấu hình và quản lý mạng cơ
sở dữ liệu phân tán được thực hiện dễ dàng với Network Manager. Network
Manager được sử dụng không chỉ để quản lý từ điển Oracle Names mà còn
tạo ra các file cấu hình cho các thành phần Client/Server của SQL*Net và
định nghĩa cho các đường kết nối cho các nút Multi-Protocol Interchange.
V. CÁC CÔNG CỤ PHÁT TRIỂN CLIENT/SERVER.
1. Các hệ Server:
Oracle Unisersal Server có các thành phần tùy chọn:
Distributed Option:(Tùy chọn phân tán) cho pháp một số cơ sở dữ
liệu Oracle trên các máy tính khác nhau hoạt động như một cơ sở dữ liệu
logic đơn.
Replication Option(Tùy chọn sao lưu): cho phép một cơ sở dữ liệu
Oracle sao chép sự thay đổi lên một cơ sở dữ liệu khác.
Context Option(Tùy chọn ngữ cảnh): mở rộng khả năng cho phép
người dùng tìm nội dung của một cơ sở dữ liệu Oracle theo các từ khóa và
các chủ đề nhất định.
Khách/chủ không dây:Công nghệ này làm việc trên các mạng nhỏ,
đặc biệt thích hợp với người sử dụng laptop và palmtop. Một dạng hơi tiên
7
tiến khác của công nghệ khách /chủ là Oracle Mobile Agents, sử dụng kiến
trúc clien-agent-server cho phép một client làm việc offline và kết nối định
kỳ với mạng để gửi yêu cầu và nhận kết quả từ server. Thành phần agent
của kiến trúc này hoạt động thay cho client khi nó vắng mặt trên mạng.
Giao diện Internet/ World Wide Web: Web interface Kit của
Oracle được dùng để tích hợp các server World Wide Web với cơ sở dữ liệu
Oracle8.
Multimedia Server: Khi các ứng dụng sử dụng nhiều kiểu dữ liệu
khác nhau, đặc biệt là dữ liệu multimedia, công nghệ server cơ sở dữ liệu
cũng cải thiện để quản lý chúng.
CHƯƠNG II. CẤU TRÚC CỦA ORACLE.
II.1 LỚP VẬT LÝ CỦA ORACLE.
1. Lớp vật lý của Oracle bao gồm: các tập tin dữ liệu(data file), các tập
tin điều khiển( control file) và các tập tin phục hồi( redo log file).
Tập tin dữ liệu: lưu trữ thông tin chứa trong cơ sở dữ liệu. Phụ
thuộc vào kích thước, các bảng và các đối tượng khác có thể nằm trên một
8
hay nhiều tập tin. Các tập tin dữ liệu có kích thước cố định và không bao
giờ tự phát triển lớn hơn kích thước ban đầu tạo ra.
Mỗi cơ sở dữ liệu cần có ít nhất một tập tin điều khiển các tập tin
này ghi tên của cơ sở dữ liệu,vị trí của tập tin dữ liệu, tập tin điều khiển và
thông tin đồng bộ để đảm bảo rằng chúng luôn hoạt động ăn khớp với nhau.
Các tập tin điều khiển cần được bảo vệ.
Các tập tin phục hồi lưu giữ thông tin để phục hồi trong trường
hợp hệ thống có sự cố. Các tập tin này ghi lại toàn bộ thay đổi của cơ sở dữ
tin của nó.Tuy nhiên, Oracle lưu một đối tượng schema trong một không gian
bảng của cơ sở dữ liệu về mặt logic. Dữ liệu của mỗi đối tượng được lưu trữ
vật lý bên trong một hay nhiều tập tin của không gian bảng. Đối với một đối
tượng như: table, index, và cluster ta có thể chỉ định lượng không gian đĩa
Oracle định vị cho đối tượng bên trong tập tin dữ liệu của không gian bảng.
3.1 Table
Table là đơn vị lưu trữ dữ liệu trong Oracle. Dữ liệu được lưu trong
các hàng và các cột. Ta định nghĩa một table với một tên bảng và một tập các
cột. Ta gán cho mỗi cột một tên cột, một kiểu dữ liệu một chiều dài hay độ
chính xác và scale. Một hàng là một tập các thông tin cột tương ứng với một
bản ghi đơn.
Ta có thể định nghĩa tuỳ ý các quy tắc đặc thù cho mỗi cột trong bảng.
Những quy tắc này gọi là các ràng buộc toàn vẹn.
3.2 View
Một view là sự hiển thị dữ liệu chứa trong một hay nhiều bảng. Một
view lấy kết xuất của một query và xử lý nó như một bảng. Vì vậy một view có
thể xem như là bảng ảo. Ta có thể sử dụng view hầu như ở mọi chỗ có thể sử
dụng bảng.
3.3. Bộ sinh mã tuần tự.
Bộ sinh mã tuần tự cung cấp một chuỗi số tuần tự. Bộ sinh mã tuần tự
đặc biệt hữu ích trong môi trường nhiều người dùng để tạo ra những số tuần tự
duy nhất mà không phải tốn công truy xuất I/O đĩa hay khoá chuyển tác.Vì
vậy, sẽ giảm sự “chuỗi hoá” mà các lệnh của hai chuyển tác cần phải thực hiện
10
để tạo ra các số tuần tự đồng thời. Nhờ đó, bộ sinh mã tuần tự cải thiện năng
suất chuyển tác và giảm đáng kể thời gian chờ đợi của một user.
Các sequence là các số nguyên Oracle có 38 chữ số được định nghĩa
trong cơ sở dữ liệu. Một định nghĩa sequence sẽ định hướng thông tin tổng
quát: tên sequence, tăng lên hay giảm xuống, bước nhảy giữa các số, và các
đơn giản hoá các lệnh SQL cho người dùng cơ sở dữ liệu
Ta có thê tạo ra cả synonym toàn cục lẫn riêng biệt. Một synonym toàn
cục thuộc quyền một nhóm user đặc biệt tên PUBLIC và mọi USER trong
một cơ sở dữ liệu có thể truy xuất nó. Một synonym riêng nằm trong schema
của một user đặc thù mà kiểm soát tính sẵn dùng của nó cho user khác.
Các synonym rất hữu ích cho cả môi trường cơ sở dữ liệu phân tán và
không phân tán do chúng dấu chỉ danh của đối tượng đang được chỉ định, bao
gồm cả vị trí trong một hệ phân tán. Đây là một ưu điểm vì nếu đối tượng
đang chỉ định cần phải đổi tên hay di chuyển, chỉ cần định nghĩa lại các
synonym và các ứng dụng dựa trên các synonym vẫn tiếp tục hoạt động mà
không cần biến đổi.
3.5 Index.
Index là cấu trúc tuỳ chọn kết hợp với các table và các cluster. Ta có
thể tạo ra các index tường minh để tăng tốc độ thực hiện SQL trên một bảng.
Cũng như các Index trong một cuốn sách giúp ta định vị thông tin nhanh hơn
so với khi không có index, một index Oracle cung cấp một đường truy xuất dữ
liệu của bảng nhanh hơn. Các index là các phương thức chủ yếu giảm
xuất/nhập đĩa khi sử dụng thích hợp.
Sự vắng mặt hay hiện diện của một Index không yêu cầu thay đổi bất kỳ
một lệnh SQL nào. Một index đơn thuần chỉ là một đường truy xuất nhanh đến
dữ liệu, nó chỉ ảnh hưởng đến tốc độ thực hiện. Cho một giá trị dữ liệu đã được
Index, index trỏ trực tiếp vào vị trí của hàng chứa giá trị đó.
Các index độc lập về mặt vật lý và logic với dữ liệu trong bảng kết hợp.
Ta có thể tạo ra hay xoá một index bất cứ lúc nào mà không ảnh hưởng đến
bảng gốc hay các index khác. Nếu ta bỏ một index, tất cả các ứng dụng vẫn
tiếp tục làm việc; tuy nhiên, sự truy xuất đến dữ liệu đã được truy xuất trước
12
đây có thể chậm hơn. Các index là một cấu trúc độc lập yêu cầu không gian lưu
trữ .
toàn logic. Các key tương ứng với một đặc trưng khác của Oracle gọi là ràng
buộc toàn vẹn.
Các ràng buộc toàn vẹn hỗ trợ các quy luật hoạt động. Do Oracle sử
dụng Index để hỗ trợ một số ràng buộc toàn vẹn, thuật ngữ index và key
thường dùng thay thế cho nhau.
3.6 Cluster.
Cluster là một phương pháp tùy chọn để lưu trữ dữ liệu bảng. Một
cluster là một nhóm các bảng có cùng các khối dữ liệu do chúng có các cột
chung và thường sử dụng chung với nhau.
Do các cluster lưu trữ các hàng liên quan của hai bảng khác nhau trong
cùng một khối dữ liệu, sử dụng cluster một cách thích hợp sẽ có hai lợi điểm
sau:
Việc xuất nhập đĩa giảm và cải thiện thời gian truy cập nhờ nối
các bảng cluster
Trong một cluster, một giá trị key cluster đối với mỗi hàng. Mỗi
giá trị key cluster được lưu trữ chỉ một lần trong cluster và trong index
cluster, không cần biết có bao nhiêu hàng của các bảng khác nhau chứa giá
trị đó.
Vì vậy, không gian lưu trữ các bảng liên hệ và dữ liệu index trong một
cluster luôn hơn khi không cluster.
Cluster có thể làm giảm hiệu năng của lệnh INSERT so với việc lưu trữ
các bảng tách riêng với index của nó. Khuyết điểm này liên quan đến việc sử
dụng không gian và sơ đồ khối dữ liệu cần phải xem để quét một bảng. Do
nhiều bảng có dữ liệu trong mỗi khối, lưu trữ một bảng có cluster cần sử dụng
nhiều khối hơn là bảng không cluster.
Để các định dữ liệu thích hợp lưu trữ ở dạng cluster hay là không
cluster, hãy tìm các bảng liên quan đến các ràng buộc toàn vẹn tham chiếu và
các bảng thường được truy xuất với nhau thông qua việc sử dụng một kết nối.
Nếu ta thực hiện cluster các bảng trên các cột sử dụng để nối dữ liệu
bảng, ta giảm số khối dữ liệu cần truy xuất để xử lý query; tất cả các hàng cần
thể hiện chấm dứt. Mỗi thể hiện có vùng SGA riêng của nó.
15
Các user đang nối vào một Oracle server chia sẻ dữ liệu trong SGA. Để
đạt hiệu năng tối ưu , toàn bộ SGA càng lớn càng tốt để trữ dữ liệu trong bộ
nhớ càng nhiều càng tốt giảm truy xuất đĩa. Thông tin lưu trữ trong SGA được
chia thành vài loại cấu trúc bộ nhớ: các bộ đệm buffer cơ sở dữ liệu, các bộ
đệm redo log, các vùng chia sẽ. Những vùng này có kích thước cố định và
được tạo ra khi thể hiện setup.
Bộ đệm cơ sở dữ liệu
Bộ đệm cơ sở dữ liệu của SGA lưu trữ những khối dữ liệu thường được
sử dụng nhất; tập hợp các bộ đệm cơ sở dữ liệu trong một thể hiện gọi là
database buffer cache. Buffer cache chứa các khối đã biến đổi. Do những dữ
liệu thường được dùng nhất lưu trong bộ nhớ, việc xuất nhập đĩa giảm đi và
hiệu năng được cải thiện.
Bộ đệm redo log
Redo log buffer của SGA lưu trữ các mục redo-quá trình các thay đổi
của cơ sở dữ liệu. Các mục redo log lưu trong các redo log buffer được ghi
vào trong một tập tin redo log online, sẽ được sử dụng khi cần khôi phục cơ sở
dữ liệu. Kích thước của nó không đổi.
Vùng chia sẻ
Share pool là một phần của SGA chứa các cấu trúc bộ nhớ dùng chung
như các vùng SQL dùng chung. Một vùng SQL dùng chung được dùng để xử
lý mọi lệnh SQL xác định đưa tới cơ sở dữ lịêu. Một vùng SQL dùng chung
chứa thông tin như cây cú pháp và kế hoạch thực hiện tương ứng. Một vùng
SQL dùng chung được sử dụng bởi nhiều ứng dụng phát cùng lệnh, để nhiều
vùng nhớ chia sẻ hơn cho các user khác.
Các cán lệnh
Một currsor là một cán bộ nhớ kết hợp với một lệnh xác định. Mặc dù
hầu hết các user Oracle dựa vào sự quản lý tự động các currsor của các tiện
user kết hợp.
Oracle có thể cấu hình để thích nghi với một số các quá trình user trên
một quá trình server. Trong một cấu hình server chuyên dùng, một quá trình
server quản lý các yêu cầu cho một quá trình user đơn lẻ. Cấu hình server đa
luồng cho phép nhiều quá trình user chia sẻ một số nhỏ các quá trình server,
17
giảm thiểu số quá trình server và tối ưu hoá giảm thiểu tài nguyên hệ thống có
sẵn.
Trong một số hệ thống, các quá trình user và server được tách biệt
riêng, trong khi các hệ thống khác chúng được kết hợp thành một tuyến trình
đơn. Nếu một hệ thống sử dụng Server đa luồng hay nếu các quá trình user và
server chạy trên các máy khác nhau, chúng cần phải tách riêng. Các hệ thống
client/server tách riêng các quá trình user và server và thực hiện chúng trên các
máy khác nhau.
Các quá trình Background.
Oracle tạo ra một tập các quá trình background cho mỗi thể hiện. Chúng
hợp nhất các chức năng mà lẻ ra sẽ được quản lý bởi nhiều chương trình Oracle
chạy cho mỗi quá trình user. Các quá trình background đồng bộ hoá việc thực
hiện xuất nhập và giám sát các quá trình Oracle khác để cung cấp cơ chế song
hành nhằm cải thiện hiệu năng và độ tin cậy.
Một SGA và một tập các quá trình background tạo nên một thể hiện
Oracle. Mỗi thể hiện Oracle có thể sử dụng một vài quá trình background.
Giao diện chương trình.
Giao diện chương trình là cơ chế giao tiếp của một quá trình server và
user. Nó cung cấp một phương thức giao tiếp chuẩn giữa một công cụ hay một
ứng dụng client bất kỳ (như Oracle forms) và phần mềm Oracle. Nó có chức
năng:
•hoạt động như một cơ chế giao tiếp bằng cách định dạng yêu cầu
dữ liệu, truyền dữ liệu, bẩy và trả về lỗi.
Shutdown thể hiện của Oracle server.
II.5 BẢO MẬT CƠ SỞ DỮ LIỆU.
Các hệ thống cơ sở dữ liệu nhiều user như Oracle luôn bao gồm các đặc
trưng bảo mật kiểm soát được truy xuất và sử dụng cơ sở dữ liệu. Các cơ chế
bảo mật gồm:
Ngăn cản sự truy xuất dữ liệu trái phép.
Ngăn cản sự truy xuất trái phép các đối tượng schema.
Điều khiển việc sử dụng đĩa.
19
Điều khiển việc sử dụng các tài nguyên hệ thống.
Giám sát các hành động của user.
Theo mặc định,mỗi user tạo ra và có quyền đối với tất cả các đối tượng
trong schema tương ứng.
Tính bảo mật cơ sở dữ liệu có thể phân làm hai loại riêng biệt: bảo mật
hệ thống và bảo mật dữ liệu.
Bảo mật hệ thống gồm các cơ chế điều khiển việc truy xuất và sử dụng
cơ sở dữ liệu ở mức hệ thống. Ví dụ bảo mật hệ thống bao gồm:
Sự kết hợp hợp lệ username/password.
Lượng không gian đĩa sẵn có cho mỗi đối tượng schema của user.
Giới hạn về tài nguyên cấp cho user.
Cơ chế bảo mật hệ thống kiểm tra:
User có quyền truy xuất vào cơ sở dữ liệu hay không?
Sự giám sát dữ liệu có hoạt động hay không?
Các tác vụ hệ thống nào user có thể thực hiện?
Bảo mật dữ liệu bao gồm các cơ chế điều khiển sự truy xuất và sử dụng
cơ sở dữ liệu ở mức đối tượng schema. Ví dụ bảo mật dữ liệu bao gồm:
Xác định quyền của user với một đối tượng schema xác định và
những tác vụ nhất định mà user có thể thực hiện trên đối tượng của schema
đó( ví dụ, user SCOTT có thể phát sinh lệnh SELECT và INSERT nhưng
ứng dụng ACCTS_REC
Đặc quyền
ứng dụng
User
PAY_CLERK Role
MANAGER
Role
REC_CLERK Role
Role
User
ACCTS_PAY Role ACCTS_REC Role Role ứng
dụng
DOMAIN SECURIY(bảo mật vùng).
Mỗi user có một domain security- là một tập các tính chất xác định
những điều như:
Các hoạt động(privilege và role) sẵn có cho user.
Các quote tables( không gian đĩa có sẵn) cho user.
Giới hạn tài nguyên hệ thống( ví dụ, thời gian xử lý cho CPU)
cho user.
PRIVILEGE (Đặc quyền)
Một privilege là quyền thực hiện một lọai lệnh SQL đặc biệt. Một số
privilege như:
Quyền kết nối vào cơ sở dữ liệu( tạo ra một session)
Quyền tạo bảng trong schema của mình.
Quyền chọn các hàng từ bảng của User khác.
Quyền thực hiện các store procedure của user khác.
Các privilege của một cơ sở dữ liệu Oracle có thể chia thành hai lọai
riêng biệt: privilege hệ thống và privilege của các đối tượng schema.
PRIVILEGE hệ thống.
Privilege hệ thống cho phép user thực hiện một hành động mức hệ
privilege cho nhiều user, người quản trị cơ sở dữ liệu có thể gán các
privilege cho một role, sau đó người quản trị cơ sở dữ liệu có thể gán role
cho các thành viên của nhóm.
Quản lý privilege động- Khi các privilege của một nhóm cần thay
đổi, chỉ cần biến đổi privilege của role cần biến đổi. Domain bảo mật của tất
cả các user được cấp role của một nhóm tự động phản ánh thay đổi được
thực hiện trong role.
Tính sẵn có chọn lọc của privilege- Các role được cấp cho một
user có thể cho phép, sẵn dùng, hay không cho phép, không sẵn dùng, một
cách chọn lọc. Điều này cho phép điều khiển đặc quyền của một user trong
tình huống đã cho.
23
Hỗ trợ ứng dụng- một ứng dụng cơ sở dữ liệu có thể thiết kế cho
phép hay không cho phép một cách chọn lọc các role một cách tự động khi
các user sử dụng ứng dụng.
Người quản trị mạng thường tạo ra các role cho một ứng dụng cơ sở
dữ liệu. Data Base Aministrator(DBA) cấp cho role của một ứng dụng tất cả
các privilege cần thiết để chạy ứng dụng. DBA sau đó cấp role ứng dụng cho
các role khác hay user. Một ứng dụng có thể có một số role khác nhau, mỗi cái
được cấp một tập các privilege mà cho phép truy xuất sử dụng ứng dụng cơ sở
dữ liệu.
DBA có thể tạo ra một role có password để ngăn cản sự sử dụng trái
phép các privilege cấp cho role. Thông thường, một ứng dụng được thiết kế sao
cho khi khởi động nó cho phép một role thích hợp. Do đó, user sử dụng ứng
dụng không cần biết password của một role của ứng dụng.
CÁC XÁC LẬP LƯU TRỮ QUOTA.
Oracle cung cấp các biện pháp để định hướng và giới hạn việc sử dụng
không gian của cơ sở dữ liệu trên từng User, bao gồm các tablespace,
tablespace mặc định, tablespace tạm thời và các quota tablespace.
Lượng thời gian kết nối cho phép của một session của user.
Các giới hạn password:
Khóa account sau nhiều lần cố gắng login thất bại.
Sự hết hạn của password và chu kỳ gia hạn
Sự sử dụng lại password và các hạn chế phức tạp.
SỰ KIỂM TRA
Oracle cho phép kiểm tra chọn lọc( giám sát có đăng ký) các hành động
của user nhằm điều tra các sử dụng cơ sở dữ liệu không rõ ràng. Sự giám sát có
thể được thực hiện ở ba mức: kiểm tra lệnh, kiểm tra đặc quyền, kiểm tra các
đối tượng schema.
Kiểm tra lệnh: sự kiểm tra các lệnh SQL xác định mà không quan tâm
đến tên các đối tượng schema. Sự kiểm tra lệnh có thể mở rộng và kiểm tra tất
cả các user của hệ thống hay chỉ tập trung kiểm tra các user có lựa chọn hệ
thống
25