I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phúc Trạch là một xã miền núi với diện tích đất lâm nghiệp là khá lớn,
Tổng diện tích đất rừng của xã là 3.487 ha. Với tư cách là một tư liệu sản xuất
thì đất lâm nghiệp có vai trò rất lớn trong việc xóa đói giảm nghèo, cũng như
sự thịnh vượng về nền kinh tế của nông thôn miền núi.
Việc khai thác và sử dụng tài nguyên rừng tại xã Phúc Trạch đã diễn ra
từ rất lâu. Ngoài việc khai thác gỗ người dân ở đây đã khai thác các sản phẩm
lâm sản ngoài gỗ như: song mây, lá nón, măng, các loại nấm…vừa làm thực
phẩm vừa buôn bán để tăng thu nhập. Ngoài ra người dân còn tổ chức săn các
loại động vật như: các loại khỉ, vượn, trăn, rắn, tắc kè, lợn rừng, gà… Khai
thác các cây thuốc chữa các bệnh thông thường và các loài cây làm cảnh như
mưng, sung, các loài lan Việc khai thác một cách không có quản lý từ trước
tới nay của người dân nơi đây đã dẫn tới tình trạng nguồn tài nguyên rừng
ngày càng suy giảm một cách nghiêm trọng.
Cũng chính vì điều đó mà công tác GĐGR trên địa bàn xã đã được chính
quyền và người dân quan tâm. Phần lớn diện tích đã được giao cho hộ, nhóm
hộ, và cộng đồng quản lý. Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ còn
chậm, cộng với tập quán du canh lạc hậu, đời sống kinh tế khó khăn. Mức độ
nhận thức của người dân trong việc bảo vệ tài nguyên rừng là chưa cao vì thế
sau khi được GĐGR do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên mức độ đầu
tư vào phát triển rừng còn thấp. Sau khi được GĐGR thì các hộ gia đình cũng
đầu tư thời gian khá nhiều cho việc trồng rừng và hạn chế bớt việc khai thác
rừng nên thu nhập từ rừng của các gia đình cũng giảm đáng kể. Cũng chính
điều đó đã làm ảnh hưởng khá lớn tới đời sống người dân nơi đây và gây ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn.
Như vậy mục tiêu của chính sách thì chưa thấy mà những bất cập của
chính sách thì đã được thể hiện rất rõ.
Vì vậy tôi đã tiến hành tìm hiểu đề tài “Ảnh hưởng của chính sách
GĐGR đến người dân xã Phúc Trạch - huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình”
để có thể nắm bắt được sự phụ thuộc của người dân vào rừng, biết được
những tác động của chính sách GĐGR tới sinh kế của người dân nơi đây
hoặc nâng cao mức sống hiện tại mà không gây tổn hại đến cơ sở nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Để làm được điều này nó cần có khả năng vượt qua và
hồi phục những áp lực cũng như những cú sốc (ví dụ thảm họa thiên nhiên
hay khủng hoảng kinh tế).
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường
ở cả hiện tại và tương lai.
Ngoài các hoạt động sản xuất nông nghiệp thì hầu như người dân ở đây
sống phụ thuộc vào rừng rất lớn.Tuy nhiên một thực tế là sự suy giảm của tài
nguyên rừng ở đây diễn ra ngày càng nghiêm trọng, với tình trạng như thế
thì liệu sinh kế của người dân ở đây co ổn định được không?có bền vững
không?
Sinh kế và thu nhập không đồng nghĩa nhưng liên quan chặt chẽ: Thành
phần và mức độ thu nhập (của cá nhân hoặc hộ) là kết quả trực tiếp và đo
đếm được của tiến trình sinh kế,thu nhập bao gồm tiền mặt và hiện vật (in-
3
kind/ non-moneytary), còn sinh kế là các hoạt động tạo ra thu nhập.Có sinh
kế thì có thu nhập và thu nhập duy trì và phát triển sinh kế.[7]
3.1.1 Khung sinh kế bền vững
Cũng có nhiều khái niệm khác nhau về khung phân tích sinh kế. Sau đây là
một vài khái niệm của các tổ chức đã từng sử dụng khung phân tích sinh kế.
Theo UNDP khung sinh kế là một cách để "hệ thống" những vấn đề phức
tạp xung quanh nghèo đói. Nó là một công cụ hữu ích trợ giúp cho công tác phát
triển và giảm đói nghèo. Tuy nhiên nó không phải duy nhất mà có rất nhiều các
khung phân tích khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh nghiên cứu và đối tượng tác
động cụ thể để đưa ra một khung phân tích sinh kế phù hợp nhất.
Theo DFID, khung phân tích sinh kế bền vững (SLA) là một công cụ trực
quan hóa được DFID xây dựng nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế. Mục đích
của nó là giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các loại
hình sinh kế, nhất là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề hay những yếu tố tạo cơ
hội.
-Các cấp chính
quyền
-Dịch cụ nhà
nước, tư nhân
-Luật tục, tập
quán
- chế cộngg
Bối cảnh tổn thương
-Sốc và khủng hoảng
-Những xu hướng
kinh tế-xã hội và môi
trường
-Sự dao động theo
chu kỳ thời vụ
Chiến lược sinh kế
những thay đổi
trong thực trạng
tài sản và chiến
lược sinh kế
Kết quả sinh kế
Thu nhập tốt
hơn
Đời sống nâng
cao
Khả năng tổn
thương giảm
An ninh lương
thực củng cố
Sử dụng tài
nguyên thiên
Ở mức hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất
lượng sẳn có, yếu tố này thay đổi theo số lượng người trong hộ,kỹ năng lao
động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe …
Khi nói tới nguồn lực này của những hộ sống phụ thuộc vào rừng ở đây
thì nghiên cứu chú ý đến nhân khẩu,cơ cấu theo giới, số lao động của hộ,trình
độ lao độngvà trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình…xét các
yếu tố này với các hoạt động sinh kế và các sinh kế của hộ.
Vốn xã hội
6
Vốn xã hội là một nhân tố quan trọng trong việc tiếp cận sinh kế,liên
quan đến mạng lưới xã hội, những mối quan hệ và sự tin cậy…sự gắn kết
trong cộng đồng để phát triển kinh tế giảm nghèo,dân chủ xã hội ngay cả vấn
đề quản lý tài nguyên…Vốn xã hội được xây dựng giữa những cá nhân, trong
cộng đồng và các cấp xã hội thông qua các tổ chức chính thống để tạo ra
những liên kết bền vững, mạng lưới và sự tin cậy lẫn nhau.
Vốn tự nhiên
Là các nguồn lực tự nhiên(của một hộ hoặc của cộng đồng) mà con
người trông cậy vào.
Việc đánh giá vốn tự nhiên cần phải tính đến những loại tài nguyên thiên
nhiên nào có trong khu vực và mức độ khó, dễ mà các nhóm xã hội có thể tiếp
cận với các nguồn tài nguyên đó.
Đồng thời cũng cần xem xét chất lượng của các nguồn tài nguyên thiên
nhiên này và việc chúng thay đổi như thế nào theo thời gian. Khi xem xét vấn
đề sự thay đổi theo thời gian, cần khảo sát các xu hướng lâu dài cũng như sự
thay đổi giữa các mùa
Vốn tài chính
Là các nguồn lực tài chính mà con người có được như nguồn thu nhập tiền
mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt
như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước.
Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi có ý nghĩa quan trọng đối với
mục tiêu nhất định theo hướng mục tiêu tổng thể của đất nước.
Các chính sách thể chế bao gồm các chính sách, luật lệ và những hướng
dẫn của nhà nước, những cơ chế, luật tục và phong tục của cộng đồng, các cơ
quan , tổ chức và dịch vụ nhà nước cũng như tư nhân, có những tác động lên
các tài sản và chiến lược của sinh kế. Đây là một phần quan trọng trong khung
phân tích sinh kế bền vững vì nó ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận với các
nguồn lực sinh kế, những chiến lược sinh kế, lợi ích của người dân khi thực
hiện hoặc đầu tư một số hoạt động sinh kế nhất định. Ngoài ra, đây còn là
những yếu tố tác động lên cả các mối quan hệ để đạt được những điều kiện
sống tốt nhất.
Thể chế là các “luật lệ của một trò chơi ”một cách chính thức và không
chính thức. Những luật lệ này bao gồm tính chất sẵn có và rõ ràng về mặt
thông tin, các cơ chế thực thi luật lệ và các thoả thuận nhất trí giữa các bên và
các cơ chế khuyến khích để đem lại kết quả. Các thể chế thay đổi thường
chậm chạp hơn so với các chính sách và có thể giải thích cho các chi phí giao
dịch cao diễn ra dưới dạng kém hiệu quả, thiếu rõ ràng và tham nhũng xẩy ra
8
khi các chính sách mới được thực hiện trong một môi trường thể chế yếu kém.
Thế chế là một hợp phần của chính sách thể chế và tiến trình. Thuật ngữ
thể chế có thể được dùng theo nhiều cách khác nhau. Trong khung chương
trình SLA nó bao trùm hai yếu tố quan trọng sau đây:
Các tổ chức hoặc đơn vị hoạt động trong cả hai khu vực nhà nước và tư
nhân các cơ chế, luật lệ, phong tục mà thông qua đó con người và các tổ chức
tương tác với nhau (ví dụ: qui định của một trò chơi).
Ở nông thôn, chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến sinh kế nói riêng và
đời sống nói chung đặc biệt là các chính sách về nông thôn nông nghiệp. Hiện
nay các chính sách về nông thôn và nông nghiệp đã và đang ngày càng được
hoàn thiện theo hướng tác động tích cực tới việc cải thiện đời sống người dân
nông thôn.
3.1.3.4 Chiến lược sinh kế
hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm và sử dụng bền vững
hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên.[7]
3.2 Thực trạng về sinh kế và tài nguyên rừng
3.2.1 Rừng và sinh kế của người dân
Đối với người dân địa phương, rừng đóng vai trò rất quan trọng. Ngoài
việc cung cấp đất trong trường hợp thiếu đất, rừng cũng là nơi cung cấp cho
họ các nguồn năng lượng, lương thực, thuốc chửa bệnh cũng như các vật liệu
để làm nhà, đóng thuyền cũng như các loại rổ rá(Sato,2000). Sato cho rằng,
người dân sống dựa vào rừng ở hai khía cạch. Thứ nhất là phụ thuộc về thu
nhập, liên quan đến tổng thu nhập và thu nhập họ có được từ bán các sản
phẩm rừng, thứ hai là sự phụ thuộc về sinh kế, được tính toán bằng các loại
sản phẩm rừng sử dụng hằng ngày. Đối với người dân cả nước nói chung và
người dân miền núi nói riêng, rừng là một trong những nguồn thu nhập và
sinh kế của họ.
Rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người
dân. Ví dụ của Raha ( dẫn trong Guha, 1989) cho thấy rằng rừng có ảnh
hưởng lớn đến đời sống tôn giáo và tinh thần.Guha viết (1989 : 29) [10]:
Sự phụ thuộc của người dân vùng núi vào tài nguyên rừng đã được thể
chế hóa thông qua rất nhiều thể chế xã hội và văn hóa. Thông qua tôn giáo,
văn hóa truyền thống, các cộng đồng bản địa đã tạo ra một vành đai bảo vệ
xung quanh rừng.
Tương tự như vậy, Gunawan (2000) cho rằng những hệ thống văn hóa và
tín ngưỡng của người Kasepuhan ở Sumatra, Inđônêxia có quan hệ chặt chẽ
với rừng. Người Kasepuhangawns rừng cũng như các loại cây cối và động vật
10
rừng với các lực lượng siêu nhiên. Khi được tôn trọng và dưới những lễ nghi
phù hợp, các thế lực này sẻ duy trì hòa bình và thịnh vượng cho cộng đồng.
Còn ngược lại sẻ làm các lực lượng siêu nhiên phẫn nộ. Như vậy, rừng là một
nơi linh thiêng, là nơi ở của tổ tiên và thần linh, nơi mà mọi người tìm kiếm
sự chỉ dẩn thần thánh và hướng tới hòa bình,phẩm hạnh và hòa hợp.
quy định để giải quyết những vấn đề này với những kết quả đạt được ở các
mức độ khác nhau.[10]
3.2.3 Quan điểm của Việt Nam về GĐGR
Ở Việt Nam, đất đai kể cả đất lâm nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, người
dân được giao quyền sử dụng. Vấn đề giao đất lâm nghiệp đã được Đảng và
Nhà nước quan tâm từ những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ 20 như chỉ thị
29-CT/TW ngày 12 tháng 11 năm 1983 của Ban Bí thư, Luật đất đai 1987,
1993, 1998, 2001 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 1991 và 2004. Gần đây,
nhà nước cũng đã chủ trương thực hiện xã hội hóa nghề rừng bằng việc thông
qua Luật Đất đai 2003, Luật Bảo vệ Phát triển rừng 2004 và chiến lược Phát
triển lâm nghiệp đến năm 2020. Việc đẩy mạnh vấn đề GĐGR cho cá nhân,
hộ nông dân, cộng đồng dân cư và các thành phần kinh tế ngoại quốc doanh là
bằng chứng rõ ràng thể hiện quan điểm của Nhà nước. Hiện nay có khoảng 24
triệu người dân sống ở miền núi với rất nhiều thành phần dân tộc khác nhau,
Nhà nước có chủ trương giao đất để góp phần cải thiện sinh kế bằng nghề
rừng, góp phần bảo vệ và phát triển rừng. Gần đây, Chính phủ cũng hoàn
thiện khung pháp lý để cho người nước ngoài, các công ty nước ngoài thuê
rừng để kinh doanh. Như vậy có thể nói quan điểm xã hội hóa lâm nghiệp với
nhiều thành phần tham gia của nhà nước là rõ ràng và khá thông thoáng.[3]
3.2.4 Các chính sách của nhà nước liên quan đến rừng
3.2.4.1 Chính sách giao đất trong giai đoạn những năm 1990 đến nay.
Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng ban hành năm 1991 đã cho phép giao đất
cho các hộ, đồng thời các hộ cũng có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thừa
kế, thế chấp, và chuyển đổi quyền sử dụng diện tích được giao. Nghị định
64/CP ban hành năm 1993, trao cho người dân quyền sử dụng đất lâu dài – 20
năm đối với đất trồng cây hàng năm và 50 năm đối với đất trồng cây lâu năm
và đất rừng, đối với các vùng miền núi còn có một số ưu tiên khác.
Nghị định 02/CP được thông qua vào tháng 1/1994, Nghị định 163/NĐ-
CP (Nghị định sửa đổi của Nghị định 02/CP), cho phép giao đất rừng đến các
hộ ở miền núi trong thời hạn 50 năm. Theo Nghị định 01/CP ban hành tháng
Việc thực hiện các chính sách của Nhà nước cũng mẫu thuẫn với các
cách thức sử dụng tài nguyên truyền thống. Lấy ví dụ tại một số bản vùng
cao, người dân không muốn nhận đất Nhà nước giao vì họ không muốn nhận
đất lâm nghiệp theo chính sách của Nhà nước, do chính sách Nhà nước chỉ
cho phép sử dụng đất vào mục đích lâm nghiệp mà không cho canh tác nương
rẫy.
13
Tại những khu vực này, các thông báo về một chương trình giao đất sắp
được thực hiện đã tạo ra hiện tượng khai thác rừng và đất rừng mạnh mẽ hơn
(Sikor, 1998 trong Poffenberger, 1999). [10]
3.2.4.2. Các chương trình bổ sung liên quan đến rừng.
Ngoài các chính sách và dự án đã nêu trên, Chính phủ còn xây dựng một
số các chương trình khác nhằm bổ sung, hoàn thiện cải cách trong hệ thống
giao đất giao rừng và sử dụng đất. Có hai chương trình ảnh hưởng lớn nhất là:
Chương trình 327 và Chương trình 661 hay Chương trình trồng mới 5 triệu ha
rừng. Tìm hiểu các chương trình này sẽ làm cho việc xem xét các chính sách
và chương trình hỗ trợ phát triển lâm nghiệp ở Việt Nam được hoàn chỉnh.
Chương trình 327
Đây là chương trình hỗ trợ phát triển lâm nghiệp được thành lập theo
Nghị định 327/CT của Hội đồng Bộ trưởng (nên còn được gọi là Chương
trình 327) ban hành vào tháng 9 năm 1992. Mục tiêu của chương trình là
nhằm khuyến khích việc trồng và bảo vệ rừng, cải thiện điều kiện sử dụng
đất, nâng cao mức sống của người dân địa phương (sống dựa vào rừng) và hỗ
trợ chương định cư.
Chương trình 327 hỗ trợ vốn cho 1.800 dự án của các địa phương (Viên
và cộng sự, 2001). Những dự án này hỗ trợ các hoạt động trồng cây trên đất
cằn, đất cát ven biển và trên loại rừng khác (ví dụ, rừng sản xuất, rừng phòng
hộ và rừng đặc dụng). Nhằm giảm nghèo và thúc đẩy định canh định cư, Nhà
nước đồng thời cũng hỗ trợ các hoạt động sản xuất như chăn nuôi, lương thực và
hoa màu, và cá. Mỗi gia đình trong vùng dự án được giao một khu vực cố định
các khu rừng phòng hộ và đặc dụng gồm từ 40% đến 60% hỗn hợp của cây
địa phương, cây công nghiệp và các loại cây khác hoặc bao gồm các vạt rừng,
cỏ, cây công nghiệp hoặc cây ăn quả và cây lương thực. Tất cả các loại cây
địa phương đều là tài sản của Nhà nước, tuy nhiên người dân vẫn có thể được
hưởng 2/3 tổng sản lượng của các loại cây trồng khác cũng như các sản phẩm
hoa quả được trồng xen dưới tán rừng.
Chương trình 661
Các Quyết định 08/1997/QH10 và 661/QĐ-TTg được ban hành lần lượt
vào tháng 12/1997 và tháng 7/1998 nhằm xây dựng chương trình trồng rừng
quốc gia, thường được gọi là Chương trình 661, hay chương trình trồng 5
triệu ha rừng. Chương trình này thực chất là tiếp nối chương trình 327.
Chương trình có 3 mục tiêu cơ bản: (1) trồng mới 5 triệu ha rừng nhằm
tăng diện tích che phủ của rừng lên 43% trong giai đoạn 1998 đến 2010 (Bộ
NN&PTNT, 1998:9-10). Điều này góp phần vào bảo vệ môi trường, giảm
15
thiên tai, tăng lượng nước, bảo vệ nguồn gien và đa dạng sinh học; (2) sử
dụng đất trống như một công cụ sản xuất để tạo việc làm, góp phần xóa đói
giảm nghèo; định canh định cư; tăng thu nhập của người dân tại các vùng
nông thôn miền núi, đặc biệt là người dân tộc thiểu số và đảm bảo ổn định
chính trị và xã hội, quốc phòng và an ninh, đặc biệt tại khu vực biên giới; và
(3) cung cấp gỗ cho các hoạt động công nghiệp, củi và các sản phẩm rừng
khác cho nhu cầu trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu. Tóm lại, mục tiêu
của chương trình này nhằm biến rừng thành một nguồn đóng góp quan trọng
cho phát triển kinh tế-xã hội miền núi.
Những hướng dẫn thực hiện chương trình để thể hiện được những điểm
tích cực của chương trình và đã được lên kế hoạch cụ thể. Dự kiến diện tích
rừng trồng mới được chia làm 3 loại như sau:
Rừng phòng hộ: Khoảng 1 triệu ha rừng sẽ được khoanh nuôi tái sinh kết
hợp với trồng bổ sung tại các khu vực cần thiết.
Rừng đặc dụng: Khoảng 1 triệu ha rừng mới sẽ được phục vụ cho các
nhau xem xét phản ứng của người dân đối với những chính sách này như thế
nào.[10]
3.2.5 Các chương trình,dự án liên quan đến rừng đã và đang tiến
hành tại xã Phúc Trạch
Các chương trình trồng rừng của chính phủ được tiến hành (327 ; 661) đã
nâng diện tích rừng trồng sản xuất lên 1.810,6 ha (2008). Các chương trình
này đã đưa lại một số thành công nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề còn tồn tại.
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là một chương trình kinh tế - xã hội –
sinh thái trọng điểm của Nhà nước Việt Nam theo đó sẻ trồng mới 5 triệu
hecta rừng và bảo vệ diện tích rừng hiện có trong thời kỳ từ năm 1988 đến
năm 2010 nhằm nâng cao độ che phủ của rừng Việt Nam lên mức 43% vào
năm 2010.
Ở Phúc Trạch chương trình này đã kết thúc vào năm 2006 sau khi lâm
trường Bố Trạch giao hết diện tích đất sản xuất cho UBND xã. Nhưng sau khi
nhận đất xã đã tiến hành đo đạc lại toàn bộ diện tích được giao thì diện tích đó
đã tăng lên 686,03 ha.
Phúc Trạch là một xã nằm trong chương trình 135 của chính phủ là một
trong những chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam do Nhà nước Việt
Nam triển khai từ năm 1998. Hằng năm xã vẫn nhận được nguồn vốn đầu tư
từ chương trình 135 để phục vụ cho phát triển kinh tế và xã hội của xã.
Ngày 22-2-2008, Chương trình lương thực vì sự tiến bộ của Quảng Bình
và tổ chức Counterpart ( là một tổ chức phi chính phủ của Hoa Kỳ hoạt động
17
ở Việt Nam từ năm 1996) tại Việt Nam cùng đối tác là UBND huyện Bố
Trạch đã mở tuyến du lịch cộng đồng tại thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch
(thông qua gói tài trợ 97.000 USD của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ).Tuyến du
lịch này được quản lý và thực hiện do người dân địa phương, trước mắt là tại
một số hộ gia đình ở thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch.
Được bắt đầu nghiên cứu từ tháng 3 đến tháng 7-2008, đến cuối năm
2008 tuyến du lịch đã đi vào hoạt động. Dự án tuyến sinh thái nước Moọc
internet.
- Các báo cáo của địa phương: Thông qua cuộc gặp với cán bộ xã lấy các
báo cáo vê tình hình kinh tế - xã hội: Báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết
HĐND xã năm 2010 và phương hướng, nhiệm vụ phát triện kinh tế năm
2011. Báo cáo hiện trạng diện tích các loại đất loại rừng. Báo cáo kết quả thực
hiện quỷ đất năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất năm 2011…
4.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn người am hiểu : Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm, cán bộ lâm
trường, cán bộ địa chính của vùng để lấy những thông tin liên quan đến nguồn
tài nguyên rừng ở đây,mức độ quản lý và khai thác rừng nhằm biết được thực
trạng về rừng ở đây, tìm hiểu rõ mức độ khai thác và suy giảm tài nguyên
rừng.
19
- Phỏng vấn hộ : Sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc để phỏng vấn 30 hộ nói
trên nhằm mục đích thu thập những thông tin về các hoạt động sinh kế, về
việc khai thác rừng của các hộ, mức độ sống phụ thuộc vào rừng của các hộ.
- Thảo luận nhóm: Tiến hành thảo luận nhóm hai lần, nhằm tìm hiểu thực
trạng khai thác các sản phẩm rừng ở xã, tìm ra những ảnh hưởng của chính
sách tới đời sống của người dân nơi đây.
- phỏng vấn sâu: phỏng vấn những người có nguồn thu nhập chủ yếu từ rừng,
thu thập thông tin về các sản phẩm từ rừng được khai thác, nguồn thu nhập từ
rừng.
4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Tất cả các số liệu điều tra được mã hoá, nhập và xử lý thông kê bằng các
phép tính trên phần mềm Excel.
Nghiên cứu này sử dụng hai phương pháp phân tích: Phân tích định tính và
phân tích định lượng nhằm phân tích thực trạng và sự tác động của các yếu tố.
20
V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1 Điều kiện tự nhiên
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là rất ít (741ha) so với tổng diện tích
đất tự nhiên của xã hiện có. Và sản xuất lúa nước không phải là mặt mạnh của
khu vực.
Bên cạnh đó ta nhận thấy rằng xu hướng diện tích trồng ngô, đậu lạc tăng
hằng năm và diện tích trồng sắn giảm một cách rõ rệt,trong những năm gần
đây hầu như không còn thu nhập từ việc trồng sắn. Sở dĩ có hiện tượng này là
do thị trường tiêu thụ ngô và đậu lạc trong những năm gần đây ổn định và sự
thu mua không ổn định của Nhà máy sản xuất tinh bột Quảng Bình dẫn đến
người dân không còn hào hứng với việc sản xuất sắn như ngày đầu mới thành
lập nhà máy.
Diện tích đất rừng của xã có 3.487ha, trong đó có 1.156ha là rừng đặc
dụng (diện tích thuộc VQG Phong Nha-Kẻ Bàng quản lý), 2.331ha là đất rừng
sản xuất. Theo thống kê 2008 thì diện tích rừng phòng hộ là 377ha nhưng tới
2010 thì diện tích rừng phong hộ đã không còn. Với con số hơn 2.331ha đất
rừng sản xuất tưởng chừng như có thể đáp ứng cho nhu cầu trồng rừng của
người dân. Tuy nhiên thực tế lại không như vậy vì trong đó đã có tới hơn
700ha là núi đá không có cây, hơn 200ha đang trong tình trạng tranh chấp với
xã Liên Trạch cùng với đất đai ở khu vực hầu hết thuộc vào nhóm nghèo chất
22
dinh dưỡng thì diện tích đất sản xuất không đáp ứng được nhu cầu của người
dân là một điều tât yếu.
Toàn xã có 12 thôn với 2.123 hộ, trung bình mỗi hộ có 4,8 nhân khẩu.
Trong một hộ thường có từ 2-3 thế hệ cá biệt có những hộ có đến 4 thế hệ
cùng chung sống (do việc kết hôn và sinh con sớm).
Dân số: Theo số liệu cuối năm 2009 Phúc Trạch có 10.328 người, trong
đó tổng số nữ: 4.995 người. Mật độ dân số cao: 171,5 người/km
2
gấp 2,05 lần
so với mật độ trung bình của toàn huyện Bố Trạch (83,6 người/km
2
nhập từ nó cũng không đáng kể.
Kết quả điều tra 30 hộ cho ta biết cả 30 hộ đều có thu nhập từ trồng
trọt, 24 hộ có nguồn thu nhập từ chăn nuôi. Một số hộ còn có nguồn thu từ
buôn bán, làm thuê, đánh bắt thủy hải sản…và một số nghành khác. Rõ ràng
nền kinh tế của xã là nền kinh tế thuần nông nghiệp.
Trong nông nghiệp thì có sự phát triển hơn về lĩnh vực chăn nuôi và
sản xuất các sản phẩm cây trồng mang tính chất vùng đồi như: lạc, ngô,
chuối…so với sản xuất lúa nước. Diện tích đất sản xuất Nông nghiệp theo đầu
người của xã là 0.073(ha). Với tổng diện tích canh tác lúa nước của xã chỉ
66.02(ha) trong đó hầu hết là diện tích sản xuất một vụ (vụ Đông-Xuân) vụ
còn lại không có nước nên không thể canh tác. Vì đất nghèo chất dinh dưỡng,
năng suất lúa không cao nên thủy lợi không được đầu tư. Chính vì điều này
mà sản lượng bình quân theo đầu người hằng năm của xã Phúc Trạch tương
đối thấp.
Trong lâm nghiệp thì rừng được các hộ khai thác chủ yếu là rừng sản
xuất, các sản phẩm được khai thác chủ yếu là gỗ, ngoài ra các hộ còn khai
thác các loại động vật và lâm sản ngoại gỗ. Thu nhập từ rừng đóng vai trò rất
lớn trong tổng thu nhập của hộ.
Mặc dù đóng góp gần 25% tổng thu nhập của xã nhưng nghành dịch vụ
của xã phát triển không đồng đều mà chỉ tập trung ở khu vực chợ Troóc chủ
yếu là buôn bán và sửa chửa xe máy và các loại máy móc, một số khác tham
gia vào dịch vụ du lịch mà chủ yếu nhất là chở khách đi thuyền vào động.
VI. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG RỪNG VÀ CHÍNH
SÁCH GIAO ĐẤT GIAO RỪNG TẠI XÃ.
6.1 Thực trạng quản lý và sử dụng rừng
Theo UBND thì có khoảng 1400 hộ gia đình trong xã có tham gia vào
khai thác gỗ. Cán bộ xã xác nhận không thể đánh giá được nguồn thu nhập
của người dân vào khai thác rừng tuy nhiên họ có thể nắm được con số lao
động có tham gia vào khai thác rừng nên con số này là tương đối chính xác.
24
khai thác hầu hết là để bán. Các sản phẩm gỗ được khai thác chủ yếu là lim,
sến, gọ, trắc, chua…các loại gỗ này là mục tiêu chính của các đối tượng khai
thác chuyên nghiệp tìm đến để khai thác. Phương pháp khai thác không có gì
25