nghiệp vụ thanh tra là gì, đặc điểm vai trò của nghiệp vụ thanh tra. vì sao khi tiến hành thanh tra đòi hỏi phải có kỹ năng xác minh, đối thoại, yêu cầu giải trình. theo anh(chị) kỹ năng nào quan trọng nhất - Pdf 13

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
  
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TRA
CHỦ ĐỀ:NGHIỆP VỤ THANH TRA LÀ GÌ, ĐẶC ĐIỂM VAI TRÒ CỦA
NGHIỆP VỤ THANH TRA. VÌ SAO KHI TIẾN HÀNH THANH TRA ĐÒI HỎI
PHẢI CÓ KỸ NĂNG XÁC MINH, ĐỐI THOẠI, YÊU CẦU GIẢI TRÌNH.
THEO ANH(CHỊ) KỸ NĂNG NÀO QUAN TRỌNG NHẤT?
GVHD: Đ/ C. HOÀNG ĐỨC LONG
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 6 KS9TT
TP. Hồ Chí Minh , ngày 12 tháng 10 năm 2011
DANH SÁCH NHÓM 6 KS9TT
1. Nguyễn Tấn Bảo
2. Lê Hồng Công
3. Lê Thị Dung
4. Nguyễn Phú Điền
5. Phan Văn Hải
6. Trịnh Thị Hảo
7. Doãn Văn Huân
8. Châu Thị Ngọc Lam
9. Phan Thị Phượng
10. Nguyễn Văn Thành
11. Võ Thanh Thuận
12. Hồ Thị Thùy
13. Phùng Thị Huyền Trang
14. Ung Thị Minh Trang
15. Trần Văn Trinh
16. Phạm Trung Tiến
17. Bùi Đức Tình
18. Nguyễn Quan Tuyến

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THANH TRA HIỆN NAY 21
3.1. Thực trạng về nghiệp vụ thanh tra 21
3.1.1. Về công tác tổ chức xây dựng lực lượng 21
3.1.2. Xây dựng chương trình, kế hoạch, hướng dẫn chỉ đạo công tác thanh tra 24
3.1.3. Về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và nghiệp vụ thanh tra 27
3.1.4. Hợp tác quốc tế về công tác thanh tra 29
3.2. Thực trạng về kỹ năng xác minh, đối thoại, yêu cầu giải trình 30
3.3. Giải pháp nâng cao nghiệp vụ thanh tra 34
3.4. Giải pháp về kỹ năng xác minh, đối thoại, yêu cầu giải trình 36
3.5. Kiến nghị 38
KẾT LUẬN 39
PHỤ LỤC 1: TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
40
MỞ ĐẦU
Thanh tra là sự xem xét, đánh giá xử lý và kiến nghị cấp có thẩm quyền về
việc thực hiện pháp luật của tổ chức, cá nhân thực hiện theo trình tự pháp luật quy
định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của của nhân dân. Đây là hoạt động quản lý nhà nước hết sức
quan trọng với vai trò thanh tra hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động
cồng vụ. Đảm bảo việc thực hiện đầy đủ chính sách của nhà nước, pháp luật quốc gia,
công bằng xã hội.
Với vị trí vô cùng quan trọng đó hoạt động thanh tra với công tác nghiệp vụ cụ
thể được quy định rất chi tiết tại Luật thanh tra năm 2010. Như vậy ta có thể hiểu
nghiệp vụ thanh tra là những công việc chuyên môn của nghành thanh tra trong đó có
một số công tác kĩ năng như “xác minh, đối thoại, yêu cầu giải trình ”. Qua đó để làm
rõ các vấn đề nghi vấn về đối tượng, kịp thời nhắc nhở chấn chỉnh sai phạm của tổ
chức cá nhân nếu có.
Thực tiến trong hoạt động thanh tra hiện nay đã cho thấy được các kỹ năng
trong hoat động này là vo cùng quan trong góp phần đem lại thành công cho hoạt
động thanh tra.Do đó nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài làm rõ vai trò nghiệp vụ

nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Hoạt
động thanh tra do cơ quan nhà nước thực hiện.
Như vậy theo luật thanh tra 2010 thì thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét,
đánh giá, xử lí theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ
quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra
chuyên ngành.
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40
Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách,
pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành
pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc
ngành, lĩnh vực đó.
1.2. Khái niệm nghiệp vụ thanh tra:
Theo từ điển Tiếng Việt thì “ nghiệp vụ ” được hiểu là công việc chuyên môn
của một nghề.
Hay nghiệp vụ là phương pháp, cách thức thực hiện công việc để đạt mục
đích, yêu cầu đề ra đối với công việc đó.
Bản thân thanh tra là một nghề nên tất yếu cũng phải có chuyên môn và mỗi
cán bộ trong hệ thống thanh tra dù ở cương vị nào cũng phải trau dồi chuyên môn
nghiệp vụ về công việc được giao. Mặc khác, công việc thanh tra là công việc tổng
hợp nên nghiệp vụ thanh tra cũng mang tính tổng hợp, quá trình thanh tra phải biết
vận dụng nghiệp vụ của nhiều ngành khác có liên quan một cách thích hợp.
Từ những phân tích như trên, ta có thể định nghĩa “ nghiệp vụ thanh tra” là
công việc chuyên môn của nghề thanh tra.
2. Đặc điểm:
2.1. Đặc điểm chung về thanh tra:

tố tích cực, phòng ngừa xử lý vi phạm góp phần bảo vệ lợi ích nhà nước, xã hội, các
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì thế, hoạt động thanh ta phải mang tính
khách quan.
Tính khách quan của hoạt động thanh tra được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động
thanh tra điều dựa trên cơ sở pháp luật và tuân theo pháp luật. pháp luật về nguyên
nghĩa là ý chí của giai cấp cầm quyền ( ý chí nhà nước ). Nhà nước đặt ra pháp luật và
pháp luật là công cụ để nhà nước thực hiện quản lý xã hội. Theo đó, mọi hoạt động
của cơ quan nhà nước nói chung và hoạt động thanh ta nói riêng điều phải dựa trên cơ
sở pháp luật, bởi nếu hoạt động thanh tra mà không dựa trên cơ sở pháp luật thì nó sẽ
mất đi tính công minh, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước.
Thứ ba là tính độc lập tương đối:
Tính độc lập tương đối là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra.
Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân của các cơ quan quản lý nhà nước tự
tiến hành, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách.
Vì vậy, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình ngoài việc đảm bảo sự kết hợp
nhịp nhàng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, hoạt động thanh tra còn có
tính độc lập tương đối trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Điều này được thể hiện ở
chỗ, các tổ chức thanh tra được phép tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trên các lĩnh
vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định. Trên cơ sở kết quả
thanh tra, ra các kết luận, kiến nghị, xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh
tra, chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình.
Tính độc lập của thanh tra chỉ là tương đối bởi vì, hoạt động thanh tra ngoài
việc căn cứ vào pháp luật, chính sách hiện hành còn xuất phát từ thực tế cuộc sống,
phải đặt sự vật, hiện tượng trong sự phát triển biện chứng với quan điểm khoa học,
khách quan, lịch sử cụ thể. Tính độc lập của hoạt động thanh tra cũng khác với tính
độc lập trong xét xử của tòa án bởi vì:
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40

có tính hiệu quả của thanh tra sẽ ngăn chặng được nguy cơ biến dạng, tùy tiện thiếu
kỷ cương trong hoạt động của bộ máy nhà nước.
2.2. Đặc điểm về nghiệp vụ thanh tra:
Thanh tra là một chức năng thiết yếu của hoạt động quản lý nhà nước, là một
giai đoạn trong chu trình quản lý, là công cụ hữu hiệu cho cơ quan nhà nước quản lý
tất cả các mặt đời sống xã hội. Thông qua hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở
trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm
pháp luật, giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật, phát
huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Do đó, để làm tốt
công tác thanh tra, đòi hỏi người cán bộ thanh tra phải có nghiệp vụ thanh tra, nghiệp
vụ thanh tra theo khái niệm ở trên là những công việc chuyên môn của nghề thanh tra.
Đặc điểm nghiệp vụ thanh tra thể hiện trên ba phương diện đó là: nghiệp vụ
thực hiện pháp luật về thanh tra; nghiệp vụ thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo và
nghiệp vụ thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
Các nghiệp vụ trong hoạt động thanh tra mang những đặc điểm riêng biệt và
đậm chất hành chính, chẳng hạn như trong quá trình tiến hành thanh tra thì đòi hỏi kỹ
năng soạn thảo văn bản, viết nhật kí đoàn thanh tra, viết báo cáo, hay trong giải quyết
khiếu nại thì có kỷ năng xử lý, phân loại đơn thư Ngoài ra, nghiệp vụ thanh tra còn
mang một số đặc điểm giống như hoạt động điều tra của công an như khảo sát nắm
bắt tình hình, xác minh, chất vấn đối tượng thanh tra, hay kỹ năng thu thập chứng cứ.
Đồng thời để cho các nghiệp vụ trên phát huy hiệu quả trong hoạt động thanh tra thì
đòi hỏi mỗi cán bộ thanh tra phải nắm vững và tuân thủ các quy trình trong hoạt động
thanh tra theo quy định của và luật, Cũng như áp dụng một cách đúng đắn, hợp lý các
nghiệp vụ trong từng trường hợp cụ thể.
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40
3. Vai trò:
3.1. Vai trò của công tác thanh tra:

Thứ ba: khi xem xét vai trò của thanh tra trong giai đoạn lịch sử cho thấy, vai
trò quan trọng nữa của thanh tra là nhằm thực hiện tham mưu cho các cấp chính
quyền trong giải quyết khiếu nại hành chính, nhất là trong việc thực hiện nhiệm vụ
theo dõi, đôn đốc các cấp, các ngành trong việc tiếp công dân, nhận các khiếu nại, tố
cáo và thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo.
3.2. Vai trò của nghiệp vụ thanh tra:
Thứ nhất: chính nghiệp vụ thanh tra sẽ tạo điều kiện cho quản lý nhà nước về
thanh tra được thống nhất, xuyên suốt, tránh chồng chéo trong hoạt động thanh tra
giữa các cơ quan, các ngành. Thực vậy, chính sự nắm vững các kỹ năng về nghiệp vụ
thanh tra của các cơ quan thanh tra nói chung và cán bộ, công chức làm công tác
thanh tra nói riêng sẽ làm cho các hoạt động thanh tra được diễn ra một cách thuận lợi
và nhanh chóng, hạn chế được chồng chéo trong hoạt động thanh tra giữu các cấp, các
ngành. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra và đáp ứng ngày
càng tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước trong thời kì mới.
Thứ hai: nghiệp vụ thanh tra góp phần giúp cho cơ quan thanh tra và người
làm công tác thanh tra tiến hành thực hiện công tác thanh tra theo đúng trình tự, thủ
tục và các quy định khác của pháp luật.
Thứ ba: Thông qua nghiệp vụ thanh tra các cơ quan nắm được việc chấp hành
các quy định pháp luật của đối tượng thanh tra, kịp thời phát hiện những sơ hở, yếu
kém, từ đó có giải pháp tích cực, hiệu quả, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm và
hiệu quả công tác của các cấp, các ngành.
Thứ tư: kịp thời tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản
để chỉ đạo và chấn chỉnh, khắc phục những sai phạm, thiếu sót, có các biện pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động công tác.
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40
CHƯƠNG II:
NỘI DUNG CÁC KỸ NĂNG CẦN CÓ TRONG THANH TRA
2.1.Tìm hiểu về kỹ năng:
2.1.1.Khái niệm:

có người đã phân loại kỹ năng thành 2 loại cơ bản là Kỹ năng cứng và Kỹ năng mềm.
Kỹ năng cứng là kỹ năng mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà trường hoặc
tự học, đây là kỹ năng có tính nền tảng. Loại thứ 2 là kỹ năng mềm là loại kỹ năng mà
chúng ta có được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế nghề nghiệp. Kỹ năng
mềm là loại kỹ năng cực kỳ phong phú và không kém phần quan trọng như Kỹ năng
cứng. Kỹ năng mềm có thể là: Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng thuyết trình, Kỹ năng đàm
phán… Để thành công trong cuộc sống, chúng ta phải thỏa mãn cả Kỹ năng cứng và
Kỹ năng mềm; phải vận dụng linh hoạt và phù hợp hai loại kỹ năng cơ bản này trong
cuộc sống và công việc.
2.2. Kỹ năng xác minh:
2.2.1. Khái niệm về xác minh :
Xác minh là làm rõ thực chất sự việc với những chứng cứ cụ thể. Đó là quá
trình tìm hiểu, thu thập các thông tin, tài liệu, chứng cứ từ những sự việc, hiện tượng
xảy ra trong thực tế cuộc sống bằng những cách khác nhau để làm sáng tỏ sự thật
khách quan.
Trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham
nhũng, xác minh là một biện pháp nghiệp vụ, được thực hiện nhằm mục đích thu thập
các thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung thanh tra, làm cơ sở cho việc phân
tích, đánh giá và kết luận về một hoặc một số vấn đề phục vụ cho cuộc thanh tra, là
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40
yếu tố quan trọng quyết định chất lượng các cuộc thanh tra, hiệu quả cho việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Hoạt động thanh tra có chất
lượng khi hoạt động xác minh được tiến hành đúng pháp luật, đúng thủ tục, trình tự và
với phương pháp khoa học, hợp lý.
Hoạt động xác minh liên quan trực tiếp đến các chứng cứ, đó là sự thật khách
quan mà dựa vào đó có thể xác định được tính đúng, sai, thật, giả của vấn đề. Xác
minh nhằm mục đích hoàn thiện chứng cứ, làm cơ sở đưa ra các nhận xét chính xác,
khách quan, đúng pháp luật về vụ việc, từ đó mới đề xuất đến cấp có thẩm quyền ra
quyết định giải quyết được chính xác, đủ căn cứ, bảo vệ được lợi ích của Nhà nước,

cứ nếu có hai điều kiện dưới đây:
Một là, thông tin, tài liệu đó phải xác thực, có ý nghĩa là văn bản gốc, không
được tẩy xoá, sửa chữa, nếu là bản sao thì phải có công chứng theo quy định của pháp
luật.
Hai là, thông tin, tài liệu đó phải có giá trị chứng minh, tức là nó phải liên
quan đến nội dung thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng
và nội dung góp phần chứng minh hành vi, việc làm của đối tượng của liên quan đúng
pháp luật hay không đúng pháp luật.
Đây là hai tiêu chí quan trọng mà người có trách nhiệm xác minh có thể căn
cứ vào đó trong quá trình tiến hành nghiên cứu không bị phân tán bởi những thông tin
tài liệu nhiễu loạn, không liên quan trực tiếp đến vụ việc.
Thứ tư là kết thúc xác minh: Sau khi tiến hành các biện pháp xác minh như
trên, giai đoạn kết thúc xác minh yêu cầu phải rút ra được những nhận xét, khẳng định
về từng vấn đề cụ thể cũng như vấn đề chung của việc xác minh là đúng, sai hoặc như
thế nào. Việc thu thập chứng cứ là một vấn đề khó nhưng đánh giá đúng đắn các
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40
chứng cứ đó lại càng khó hơn. Việc đánh giá chứng cứ trong hoạt động thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng là một vấn đề hết sức quan trọng.
Đó là quá trình tác nghiệp có tính logíc cao nhằm xem xét giá trị chứng minh của các
chứng cứ và mối liên quan giữa các chứng cứ với nhau, hay nói cách khác là đánh giá
đúng bản chất của sự vật, hiện tượng.
Do vậy, các chứng cứ thu thập được, xác minh, ban đầu trong quá trình thanh
tra phải được lưu giữ, sử dụng và bảo quản hết sức thận trọng, nghiên cứu kỹ lưỡng
và bảo quản như tài liệu mật. Những chứng cứ quan trọng có tác dụng quyết định đến
nội dung và chất lượng, hiệu quả của cuộc thanh tra phải được trưởng đoàn thanh tra
và cán bộ thanh tra sử dụng, lưu giữ và bảo quản kỹ cho đến khi kết luận cuộc thanh
tra mới có thể cho lưu hành công khai hoặc chỉ công khai theo quy định. Khi kết luận
thanh tra đã được công bố mà đối tượng thanh tra chưa thoả mãn, còn thắc mắc hoặc
cố tình giải trình không đúng thì cần đưa các chứng cứ ra công khai để lý giải cho kết

các biện pháp cần thiết thu thập thêm tài liệu, nghiên cứu thân nhân của người đối
thoại, lập kế hoạch cụ thể chi tiết. Hoàn thiệt tất cả các công đoạn này trong bước
chuẩn bị đối thoại sẽ tao nên một thuận lợi cho những người tham gia vào giai đoạn
tiến hành đối thoại. chúng ta cùng chuyển qua bước hai để có cái nhìn rõ nét hơn về
hoạt động đối thoại trong thanh tra.
Thứ hai là tiến hành đối thoại: Tại buổi đối thoại, cán bộ thanh tra phải công
bố báo cáo kết quả thẩm tra xác minh vụ việc, đưa ra những chứng cứ, căn cứ pháp
luật liên quan đến giải quyết vụ việc và thông báo dự kiến giải quyết vụ việc đó. Sau
đó đối tượng thanh tra, người khiếu nại, tố cáo có quyền trình bày thêm về những yêu
cầu, nguyện vọng của mình xem nội dung xác minh đã đầy đủ, chính xác chưa?
Những căn cứ pháp lý, dự kiến hướng xử lý đưa ra có chuẩn xác không và ý kiến của
mình về những dự kiến đó; đồng thời cũng có quyền hỏi, tranh luận về những nội
dung mình chưa nhất trí.
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40
Khi đối thoại, cán bộ thanh tra cần nêu rõ những vấn đề về hướng xử lý mà
các bên chưa nhất trí. Để việc đối thoại đúng kết hoạch, đúng trọng tâm, người chủ trì
phải biết ngắt lời người đang nói một cách có văn hoá, không làm cho người đối thoại
tự ái, cảm thấy bị xúc phạm mà vẫn đạt được mục đích, nội dung của cuộc đối thoại.
Đồng thời, để đối thoại có hiệu quả, cán bộ thanh tra cần thực hiện các biện pháp sau:
Sử dụng phương pháp cảm hóa thuyết phục đặc biệt là công tác dân vận của
người tiếp dân và tiến hành đối thoại như vậy sẽ đem lại hiệu quả cung như lòng tin
của nhân dân giảm bớt gánh nặng cho hoạt động đối thoại trong giải quyết khiếu nại
tố cáo nói riêng, và hoạt động đối thoại nói chung.Mặt khác kết hợp với sử dụng tài
liệu chứng cứ kết hợp với phát hiện những mâu thuẫn của đối tượng đối thoại để tìm
ra nguyên nhân trong mâu thuẫn để có những biện pháp đấu tranh phù hợp và tốt
nhất.Bên cạnh đó là áp dụng kỹ thuật hỏi và kỹ thuật trả lời nhuần nhuyễn trong quá
trình đối thoại tạo sử cởi mở của đối tượng cũng như cán bộ tiến hành đối thoại qua
đó sẽ có những cách giải quyết phù hợp đảm bảo quyền lợi của nhân dân cũng như lợi
ích của nhà nước.

2.4.1. Khái niệm:
Theo Từ điển Tiếng Việt, giải trình là giải thích cặn kẽ, thuyết minh rõ ràng,
hợp lý một vấn đề cần trình bày.
Trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham
nhũng, việc yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình được thực hiện trong hai trường
hợp:
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40
Thứ nhất, những sự việc, tài liệu phản ánh chưa rõ, chưa đủ cơ sở kết luận thì
đoàn thanh tra chuẩn bị chi tiết nội dung yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình.
Thứ hai, trước khi ký kết luận thanh tra, nếu xét thấy cần thiết, người ra quyết
định thanh tra (hoặc uỷ quyền cho Trưởng đoàn thanh tra) có thể tổ chức làm việc với
đối tượng thanh tra về dự thảo kết luận thanh tra hoặc gửi dự thảo kết luận thanh tra
cho đối tượng thanh tra. Đối tượng thanh tra có quyền giải trình bằng văn bản về
những nội dung chưa nhất trí với dự thảo kết luận thanh tra và có các chứng cứ chứng
minh cho giải trình của mình.
Như vậy, yêu cầu đối tượng giải trình trong hoạt động thanh tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng là việc yêu cầu đối tượng trình bày mà
vấn đề cán bộ thanh tra đang quan tâm và đồng thời, đó là cơ hội để đối tượng thanh
tra giải thích những nội dung chưa rõ ràng bằng cách đặt ra những câu hỏi, những vấn
đề cần làm rõ nhằm tạo điều kiện cho đối tượng giải trình cung cấp những chứng cứ,
tài liệu có liên quan chứng minh tính trung thực của nội dung giải trình.
2.4.2.Mục đích của việc yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình:
Việc yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình không phải là để khai báo theo thủ
tục hành chính đơn thuần mà đó là kĩ thuật chất vấn nhằm thăm dò và thu thập tài
liệu, là căn cứ để đối chứng tìm ra mâu thuẫn. Giải trình vừa là quyền của đối tượng
thanh tra được pháp luật đảm bảo, song cũng là điều kiện để cán bộ chất vấn, động
viên đối tượng thanh tra tự giác bộc lộ những sai phạm của mình. Cho đối tượng
thanh tra giải trình bằng miệng hay viết biên bản giải trình cũng không phải là một sự
buông lỏng để lấp chỗ trống về thời gian trong quá trình chấp vấn, mà đó là cơ hội để

tra, xác minh để kết luận từng sự việc…Tổng hợp các sự việc đối chiếu với nội dung
GVDH : Đ/C HOÀNG ĐỨC LONG PC. TT. TP HỒ CHÍ MINH
40
cần thanh tra để kết luận chính xác. Lời giải trình của đối tượng thanh tra chỉ có thể
được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của nội dung thanh tra.
Không được dùng lời trình bày của đối tượng thanh tra làm cơ sở duy nhất để kết
luận, kiến nghị và quyết định xử lý.
Tóm lại, trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống
tham nhũng, hoạt động xác minh, đối thoại, yêu cầu đối tượng giải trình nhằm thu
thập, trao đổi thông tin giữa cán bộ thanh tra và đối tượng thanh tra, người đi khiếu
nại, tố cáo. Trên cơ sở đó, cán bộ thanh tra mới nắm bắt được những vấn đề nảy sinh
trong công việc nhằm vào đâu và cần xem xét đối tượng nào.
Trong giao tiếp, cán bộ thanh tra cần theo dõi sự diễn biến tâm lý của đối
tượng để phán đoán ra tâm tư, tình cảm của đối tượng giao tiếp.Trong giao tiếp cần
giữ các nguyên tắc sau:
• Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp
• Lắng nghe nhiều hơn nói
• Dân chủ, có lý, có tình
• Thông cảm với đối tượng giao tiếp
• Kiên nhẫn chờ đợi
• Biết cách chấp nhận cá tính của đối tượng giao tiếp
• Ứng xử theo pháp luật và phong tục, tập quán truyền thống.
2.5. Nhận xét về các kỹ năng:
Như chúng ta đã biết trong quy trình nhiệp vụ thanh tra có tổng hợp 9 kỹ năng
như kỹ năng thu thập chứng cứ, kỹ năng xác minh, kỹ nẵng đối thoại, kỹ năng yêu cầu
giải trình…. Tất cả các kỹ năng này tạo thành một thể thống nhất trong quy trình do
đó mỗi kỹ năng đều có vai trò và vị trí của mình.
Vì vậy có thể nói tất cả các kỹ năng đều quan trọng như nhau, đều là những
mảnh gép nhỏ trong toàn bức tranh kỹ năng nói chung và kỹ năng trong quy trình
nghiệp vụ thanh tra nói riêng điều này được thể hiện như.

Trích đoạn Xây dựng chương trình, kế hoạch, hướng dẫn chỉ đạo công tác thanh tra Giải pháp về kỹ năng xác minh, đối thoại, yêu cầu giải trình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status