Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
DANH SÁCH NHÓM 5: HỆ SỐ ĐÓNG GÓP
1.Thân Thị Mỹ Nương 9
2. Lê Thị Kiều Oanh 10
3. Lương Vũ Ngọc Phú 10
4. Nguyễn Thị Thanh Phước 9
5. Lê Thị Viên Phương 9
6. Trần Việt Phương 9
7. Nguyễn Thị Hồng Phượng 9
8. Võ Thị Phượng 9
9. Phạm Thị Lệ Quân 9
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 1
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
ĐỀ TÀI 3
Thị trường tài chính phái sinh là gì? Đặc điểm
của các loại chứng khoán phái sinh. Phân biệt
hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai. Liên
hệ các loại chứng khoán phái sinh ở Việt Nam.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 2
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………………5
PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH PHÁI SINH…6
1.1. Khái niệm thị trường tài chính phái sinh …… 6
1.2. Đặc điểm của công cụ tài chính phái sinh 6
1.3. Các loại chứng khoán phái sinh
1.3.1. Hợp đồng kỳ hạn (Forwards) 7
1.3.2. Hợp đồng tương lai (Futures) 8
1.3.3. Hợp đồng quyền chọn (Options) 10
1.3.4. Hợp đồng hoán đổi (Swaps) 14
1.3.5. Quyền mua cổ phần (right) 15
3.3. Hợp đồng hoán đổi ………28
3.4. Hợp đồng quyền chọn 30
3.5. Một số loại chứng khoán phái sinh khác ………34
3.5.1 Thỏa thuận mua lại (Repo) ………34
3.5.2 Giao dịch ký quỹ (Margin) 35
3.5.3 Bán khống (Short sales) ………36
3.6. Công cụ tài chính phái sinh tiền tệ tại các ngân hàng thương mại Việt
Nam……………………………………………………………………………37
3.7. Các thành viên tham gia thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam
…………………………………………………………………………………42
3.7.1 Ngân hàng thương mại 42
3.7.2 Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) 42
3.7.3 Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank)………………43
3.7.4 Công ty chứng khoán…………………………………………… 43
3.7.5 Công ty chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương (VCBS)……… 44
3.7.6 Công ty chứng khoán quốc tế VISecurities……………………….44
3.8. Rào cản của việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh……………………46
KẾT LUẬN……………………………………………………………….49
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 4
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
LỜI MỞ ĐẦU
Xuất hiện trên thị trường Việt Nam từ năm 1998 nhưng đến nay “chứng khoán
phái sinh” chưa được biết đến với tư cách là một công cụ bảo hiểm rủi ro hữu
hiệu cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Việt Nam đã gia nhập WTO, các
doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những khó khăn, những cạnh tranh
trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, những biến động bất thường về nền kinh tế
toàn cầu, những tăng giảm đột ngột của giá xăng, dầu thế giới, những bấp bênh
của tỷ giá đồng USD đang là những vấn đề đáng lo lắng cho những nhà đầu tư,
những doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Vậy phải làm gì để giảm bớt rủi ro? Để tối thiểu tổn thất và tối đa hoá lợi
• Chứng khoán phái sinh được tạo lập dựa trên một chứng khoán gốc. Giá
trị của phái sinh được xác định dựa trên những sự kiện biến động về giá trong
tương lai của chứng khoán cơ sở. Hoạt động của thị trường tài chính tạo cơ sở
cho sự hình thành và phát triển các chứng khoán phái sinh. Các chủ thể tham gia
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 6
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
thị trường tài chính tạo ra các công cụ phái sinh và sử dụng chúng để thực hiện
mục đích kinh doanh hoặc hạn chế rủi ro trong đầu tư.
• Hoạt động của thị trường phái sinh góp phần làm tăng tính thanh khoản
của các loại chứng khoán trên thị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìm
kiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện
mua bán chứng khoán thực tế.
+ Với sự xuất hiện chứng khoán phái sinh làm tăng số lượng hàng hoá trên
thị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua các
giao dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện mua bán chứng khoán thực tế.
+ Giao dịch chứng khoán phái sinh góp phần giảm chi phí giao dịch, hạn
chế rủi ro… Từ đó, tạo nên những lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia,
góp phần ổn định và phát triển thị trường tài chính.Được thực hiện vào một
ngày trong tương lai.
1.3. Các loại chứng khoán phái sinh
1.3.1 Hợp đồng kỳ hạn (Forwards)
- Hợp đồng kỳ hạn là công cụ lâu đời nhất và đơn giản nhất.
- Hợp đồng kỳ hạn là thoả thuận mua hoặc bán một tài sản (hàng hoá hoặc các
tài sản tài chính) tại một thời điểm trong tương lai với một giá đã thoả thuận
ngày hôm nay. Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào, từ nông
sản, các đồng tiền, cho tới các chứng khoán.
- Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai
bên tự thoả thuận với nhau. Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời
điểm giao nhận hàng hoá có thể tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã
ký kết trong hợp đồng. Khi đó, một trong hai bên sẽ bị thiệt hại do đã cam kết
ra một số các tiêu chuẩn cho những hợp đồng này.
- Ngày giao hàng không được xác định một cách chính xác, mà được quy định theo
tháng và khoảng thời gian của tháng phải giao. Người môi giới xác định khối lượng,
chất lượng của hàng hoá giao dịch, cách giao hàng, giá hợp đồng.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 8
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
- Người mua, bán phải trả phí hoa hồng cho người môi giới, và giá tương lai xác định
trên sàn giao dịch chứng khoán.
- Có hai loại thương nhân trên sàn giao dịch: thứ nhất là những người môi giới ăn hoa
hồng, họ sẽ thực hiện mua bán theo lệnh của nhà đầu tư và tính hoa hồng; thứ 2 là
người tự đầu tư.
- Hợp đồng tương lai được tái thanh toán hằng ngày, và được ấn định, ghi nhận trên
thị trường, nên các khoản lời lỗ được nhận biết hằng ngày. Để tránh những rủi ro khi
thực hiện hợp đồng mua bán trong tương lai, do người mua, hoặc người bán tháo lui
khỏi hợp đồng vì sự biến động giá trên thị trường bất lợi cho mình, hoặc do đến thời
điểm thanh toán, người mua không có khả năng tài chính, văn phòng chứng khoán
phảiđưa ra những qui định về yều cầu dự trữ tối thiểu đối với người ký hợp đồng
tương lai với nhà môi giới. Khoản tiền dự trữ này được giữ tại một tài khoản của
người đầu tư mở tại văn phòng chứng khoán.
- Hợp đồng tương lai trên thị trường chứng khoán có hai loại : Hợp đồng dựa
trên các chứng khoán sinh lãi (như trái phiếu Kho bạc, tín phiếu Kho bạc và các
khoản tiền gửi có kỳ hạn), hợp đồng dựa trên các chỉ số thị trường (như
Standard & Poor ‘s 500 và chỉ số Nikkei của Nhật)
-Việc mua bán các thị trường này diễn ra tại nhiều thị trường hang hóa khác
nhau bên cạnh các nông sản truyền thống. Mặc dù các hợp đồng tương lai của
nông dân đã tồn tại từ giữa thế kỉ XIX còn hợp đồng tương lai của tài sản tài
chính chỉ mới xuất hiện 30 năm trước đây nhưng khối lượng giao dịch các loại
hợp đồng này vượt xa so với hợp đồng dựa trên hàng nông sản.
Ví dụ: vào đầu năm 2002, công ty A ký hợp đồng tương lai với công ty B mua
100 tấn gạo với giá 2USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2003. Như vậy
ngày khác nhau
+Ngày hiệu lực: là ngày thực hiện thanh toán giao dịch giao ngay.
+Ngày đáo hạn: là ngày thực hiện thanh toán giao dịch có kỳ hạn.
+Xác định tỷ giá hoán đổi: Một hợp đồng hoán đổi liên quan đến hai loại tỷ giá
giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 10
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
+Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá do ngân hàng niêm yết tại thời điểm giao dịch do hai
bên thỏa thuận.
+Tỷ giá có kỳ hạn: là tỷ giá được tính trên cơ sở tỷ giá giao ngay, chêch lệch lãi
suất giữa VND và ngoại tệ, và số ngày thực tế của hợp đồng.
-Thông thường giao dịch hoán đổi bao gồm các thanh toán lãi, trong một số trường
hợp là thanh toán nợ gốc.
- Có hai loại hợp đồng quyền chọn: Hợp đồng quyền chọn mua (call option) và hợp
đồng quyền chọn bán (put option).
+ Hợp đồng quyền chọn mua (Call options): Là một thỏa thuận giao dịch một
lượng tài sản cơ sở nhất định, trong đó người mua call options (A) sẽ trả cho
người bán call options (B) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí
quyền chọn (options premium) và A sẽ có quyền được mua nhưng không bắt
buộc phải mua một lượng tài sản cơ sở đó theo một mức giá đã được thoả thuận
trước vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai. B nhận
được tiền từ A nên B có trách nhiệm phải bán lượng tài sản cơ sở đó với giá
thực hiện đã thỏa thuận vào ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Châu Âu)
hoặc bất kì ngày nào trong khoảng thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày đáo
hạn (nếu là quyền chọn kiểu Mỹ), khi A muốn thực hiện quyền mua của mình.
- Vào ngày thực hiện quyền (thường cũng là ngày kết thúc hợp đồng), sau khi
xem xét với mức giá giao ngay của tài sản cơ sở ở ngày này, nếu thấy có lợi cho
mình, tức giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện, A có thể thực hiện quyền của
mình để được mua lượng tài sản cơ sở đó ở mức giá thực hiện, rồi ra thị trường
bán lại với giá cao hơn để thu một khoản lợi nhuận. Nếu thấy giá của tài sản cơ
thì nhà đầu tư phải bỏ ra 100.000đ để mua nó.
Giả sử sau một thời gian giá cổ phiếu không như dự báo, giảm xuống còn
60.000đ thì nhà đầu tư lỗ 40.000.000đ. Để giảm thiểu rủi ro mà vẫn thực hiện
theo dự báo, nhà đầu tư mua quyền chọn mua: mua 1000 cổ phiếu của AB với
giá 100.000đ/cổ phiếu, trong thời gian 3 tháng với mức phí quyền chọn là
20.000đ/cổ phiếu x 1000 cổ phiếu = 20.000.000đ. Trong thời gian 3 tháng trên
nếu giá cổ phiếu AB tăng như dự báo lên mức 200.000đ/cổ phiếu thì nhà đầu tư
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 12
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
sẽ thu được: 1000cổ phiếu x 200.000đ = 200.000.000 đ tức là nhà đầu tư lãi
100.000.000đ - 20.000.000đ phí mua quyền chọn = 80.000.000đ. Trong trường
hợp giá cổ phiếu không tăng mà liên tục giảm cho đến hết thời gian 3 tháng thì
nhà đầu tư có quyền không thực hiện việc mua của mình và chỉ chịu mất
20.000.000 đồng tiền phía quyền chọn mua.
Giá trị của một hợp đồng quyền chọn
- Giá trị của một hợp đồng quyền chọn gồm có hai phần: giá trị nội tại và giá trị
thời gian
+Giá trị nội tại: đây là thuật ngữ dùng để chỉ giá của tài sản cơ sở trừ đi giá
thực hiện(đối với hợp đồng call option) và bằng giá của tài sản cơ sở cộng giá
thực hiện (đối với hợp đồng put option). Về lý thuyết, phải sử dụng tỷ giá
forward để tính toán thay vì giá giao ngay nhưng theo thông lệ thị trường thì giá
giao ngay được dùng để tính toán.
Giá trị nội tại = Giá giao ngay – Giá thực hiện (nếu là call options)
Giá trị nội tại = Giá thực hiện - Giá giao ngay (nếu là put options)
+Giá trị thời gian: Nói một cách đơn giản, giá trị thời gian của một hợp đồng
quyền chọn là khoản giá trị mà tại đó giá trị của hợp đồng quyền chọn lớn hơn
giá trị nội tại. Sự biến động của tài sản cơ sở có một mối liên hệ quan trọng với
giá trị thời gian. Giá trị thời gian tăng khi biến động tăng. Như đã đề cập trước
đây, lợi nhuận của việc nắm giữ hợp đồng quyền chọn là vô hạn trong khi lỗ chỉ
giới hạn trong phần phí quyền chọn. Do đó, một hợp đồng quyền chọn trên tài
thường phổ biến là: Cổ phiếu ưu đãi; Trái phiếu.
+Hoán đổi hàng hóa: là hợp đồng giữa hai bên nhằm thỏa thuận về việc trao
đổi với nhau giá trị thanh toán của một lượng hàng hóa nhất định theo các mức
giá thả nổi hoặc cố định trong một khoảng thời gian nhất định được xác định tại
thời điểm ký kết hợp đồng.
- Và cũng giống như hợp đồng kỳ hạn, các hoán đổi cũng gánh chịu những rủi
ro nếu một bên bị vỡ nợ. Hoán đổi được xem như là kết hợp giữa các hợp đồng
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 14
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
kỳ hạn. Nó là cải tiến tài chính mới nhất nhưng về thực chất không phức tạp
hơn một danh mục các hợp đồng kỳ hạn và rủi ro tín dụng hiện diện trong hoán
đổi cũng có phần thấp hơn so với rủi ro tín dụng của hợp đồng kỳ hạn có cùng
kỳ hạn.
Các hợp đồng Swap thường được giao dịch bên ngoài các thị trường giao dịch
tập trung, hay nói cách khác nó là một loại công cụ tài chính phái
sinh OTC (Over the counter). Hợp đồng Swap không thể được mua bán trao đổi
như là các loại chứng khoán hay hợp đồng tương lai, mà chúng thực sự là những
hợp đồng cá biệt giữa hai bên xác định. Do đó, cách duy nhất để thoát ra khỏi
hợp đồng này là bằng thoả thuận song phương với phía đối tác để huỷ hợp
đồng, hoặc bằng cách chuyển nhượng nó cho bên thứ ba với điều kiện có sự
đồng ý của phía đối tác.
Ví dụ: Một bên đối tác đang nhận được một dòng tiền từ một khoản đầu tư,
nhưng lại thích một loại đầu tư khác với dòng tiền mà mình đang thụ hưởng.
Bên đối tác này sẽ liên lạc với mét môi giới hoán đổi, thường là một công ty
hoạt động trên OTC, và họ sẽ thực hiện vị thế đối nghịch trong giao dịch. Tuỳ
thuộc vào lãi suất hay giá sau đó như thế nào mà 1 bên sẽ thu được lợi nhuận
hay là bị lỗ. Lãi của bên này chính là lỗ của bên kia.
1.3.5. Quyền mua cổ phần (right)
- Quyền mua cổ phần (Right) là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành
kèm theo đợt phát hành cổ phiếu thường bổ sung nhằm dành quyền ưu tiên mua
đi kèm.
- Với tư cách là người sở hữu chứng quyền, nhà đầu tư không có quyền cổ đông
trong công ty, không nhận cổ tức avf không có quyền biểu quyết. Các điều kiện
của chứng quyền được ghi rõ trên tờ chứng chỉ: số cổ phiếu được mua theo mỗi
chứng quyền (thường là 1:1); giá thực hiện cho mỗi cổ phiếu; tại thời điểm
chứng quyền được phát hành, giá này bao giờ cũng cao hơn giá thị trường của
cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định, có thể được tăng lên định kỳ; và thời
hạn của quyền, đa số trường hợp là 5 đến 10 năm.
Có hai loại chứng quyền.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 16
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
+“Chứng quyền mua” có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ được mua
một tài sản cơ sở với mức giá được định trước vào ngày hôm trước ngày đáo
hạn.
+“Chứng quyền bán” có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ được bán một
tài sản cơ sở với mức giá được định trước vào hoặc trước ngày đáo hạn.
Khi một cơ quan Nhà nước phát hành Séc mà lại không có khả năng trả bằng
tiền mặt (do thiếu tiền mặt), nhưng cơ quan đó lại có thể được trong tương lai
cùng với một mức lãi suất nhất định, thì loại Séc như thế cũng được gọi là
chứng quyền
Phân biệt Quyền mua Cổ phiếu và Chứng quyền
Quyền mua cổ phần Chứng quyền
Công ty phát hành cổ phiếu đưa ra
Công ty phát hành cổ phiếu ưu đãi, trái
phiếu đưa ra
Thời hạn lưu hành vài tháng Thời hạn lưu hành vài năm
Giá đặc quyền so với cổ phiếu thấp hơn.Giá đặc quyền so với cổ phiếu cao hơn.
Thời hạn nộp tiền mua ngắn Thời hạn nộp tiền mua dài
Mục đích để bảo vệ quyền lợi của cổ
đông hiện hữu.
- Thị trường phi tập trung là thị trường bao gồm tập hợp những người giao dịch
dựa vào một hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương
lượng thông qua sự trợ giúp của các phương tiện thông tin: mạng điện thoại,máy
tính,internet,các thiết bị đầu cuối….
- Trong thị trường này các tổ chức tài chính thường đóng vai trò người tạo lập
thị trường để các công cụ tài chính được giao dịch dễ dàng hơn.
Tính thanh khoản của các loại chứng khoán trên thị trường OTC thường thấp
hơn thị trường giao dịch tập trung, chứa đựng nhiều rủi ro hơn, song cũng có thể
đem lại nhiều lợi nhuận hơn.
1.4.2.Thị trường tập trung
-Sở giao dịch phái sinh là nơi nhưng cá nhân giao dịch những bản hợp đồng
được tiêu chuẩn hóa xác định bở sở giao dịch.
-Sở giao dịch đóng vai trò là trung gian thực hiện các giao dịch và hưởng
phí,đồng thời bắt các nhà đầu tư có một khoản kí quỹ ban đầu để đảm bảo.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 18
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
So sánh thị trường tập trung và phi tập trung (OTC)
Thị trường OTC Thị trường tập trung
Không có địa điểm giao dịch cụ thể Có địa điểm giao dịch cụ thể
Giao dịch: Cơ chế thương lượng và thỏa
thuận là chủ yếu
Giao dịch: đấu giá tập trung
Có nhiều mức giá đối với một chứng
khoán trong cùng một thời điểm
Có một mức giá đối với một chứng
khoán trong cùng một thời điểm
Chứng khoán có độ rủi ro cao Chứng khoán có độ rủi ro thấp
Sử dụng hệ thống mạng máy tính diện
rộng để giao dịch
Có thể sử dụng mạng diện rộng hoặc
giá bất lợi cho họ.
2.1.2.3 Những nhà đầu cơ (Speculators)
Là những người chấp nhận rủi ro cao để tìm kiếm lợi nhuận cao từ sự giao
động giá giao ngay và giá tương lai
2.2. Khác nhau
2.2.1 Hợp đồng tương lai
2.2.1.1 Hợp đồng được tiêu chuẩn hóa
Để đảm bảo các hoạt động mua bán được diễn ra với tốc độ cao, với số lượng
lớn và đảm bảo an toàn, các Sàn giao dịch tương lai luôn đặt ra các quy định để
tiêu chuẩn hoá một cách tối đa các điều khoản trong hợp đồng.
- Quy mô hợp đồng: là số lượng của mỗi loại đồng tiền trong một hợp đồng trên
mỗi sàn giao dịch là cố định. Đây cũng là một điểm hạn chế của hợp đồng
tương lai vì số lượng đồng tiền/ mỗi hợp đồng là cố định mà khi khách hàng
muốn giao dich 1 lượng tiền lớn thì có nghĩa là phải mua nhiều hợp đồng hay
khi số tiền giao dịch bị lẻ thì phải kết hợp với hợp đồng kỳ hạn.
- Đồng tiền được giao dịch: Hầu hết chỉ các đồng tiền chính của các nước đang
phát triển như Euro, Dola, Yên Nhật Việc quy định về đồng tiền được giao
dịch trên sàn giao dịch khiến cho việc quản lý giao dịch dễ dàng hơn nhưng lại
là hạn chế cho các nhà đầu tư muốn sử dụng nhiều loại đồng tiền khác trong
giao dịch.
- Ngày đáo hạn của hợp đồng : Những ngày được tiêu chuẩn hóa. Thông thường
vào ngày thứ 4 của tuần tứ 3 tháng thứ 3;6;9;12. Hạn chế về ngày đáo hạn của
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 20
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
hợp đồng tương lai cũng làm cho hợp đồng tương lai không được sử dụng nhiều
do khi người bảo hộ rủi ro nếu cần ngay 1 khoản tiền vào những ngày khác
trong tuần thì sẽ gặp khó khăn.
2.2.1.2 Được thực hiện thông qua trung tâm giao dịch
- Các giao dịch Hợp đồng tương lai chịu sự quản lý của Sàn giao dịch theo
những nguyên tắc và quy định nhất định. Mọi giao dịch dù bằng hệ thống điện
phải thông qua một sự thoả thuận nào bằng cách thực hiện nghiệp vụ thanh toán
bù trừ là lập một hợp đồng ngược lại vị thế mà mình đã có. Cứ như thế, các bên
có thể mua đi bán lại nhiều lần một loại hàng hóa vào một tháng giao hàng nhất
định trong tương lai. Đến ngày giao hàng, nếu các bên không muốn giao hàng
thực sự thì Clearing House sẽ thanh toán bù trừ các loại hợp đồng đó và nghĩa
vụ giao hàng cũng như nhận hàng của họ được chuyển giao cho người khác.
Cơ chế thanh toán bù trừ (Clearing)
Là cơ chế vận hành chính của thị trường tương lai, dưới sự điều hành của
Phòng thanh toán bù trừ của mỗi sàn giao dịch (Clearing House). Trong trường
hợp người tham gia thực hiện giao dịch thanh toán bù trừ thì trung tâm thanh
toán bù trừ (Clearing House) sẽ cân đối, bù trừ vào tài khoản của các nhà đầu
tư; còn trong trường hợp các bên muốn được thi hành hợp đồng thì Clearing
House sẽ là cầu nối, yêu cầu bên bán và bên mua giao nhận hàng tại kho hoặc
nơi do Clearing House chỉ định.
Ưu điểm của hợp đồng tương lai
- Tính thanh khoản của hợp đồng rất cao do thực hiện qua Sàn giao dịch, rủi ro
không thực hiện được giao dịch gần như không có.
- Có thể thanh lý hợp đồng trước ngày đáo hạn để chốt mức lãi, hay lỗ của
mình.
Nhược điểm của hợp đồng tương lai
- Số tiền quy định khắt khe.
- Thủ tục phức tạp,khó tham gia vào thị trường.
- Giới hạn số ngày giao dịch trong năm.
2.2.2 Hợp đồng kỳ hạn
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 22
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
2.2.2.1 Hợp đồng không tiêu chuẩn hóa
Để đảm bảo cho tất cả mọi người có nhu cầu ngoại tệ dù ít hay nhiều có thể
tham gia thị trường tương lai hợp đông kỳ hạn đã xuất hiện và ngày nay nó đã
phát triển hơn so với người anh của nó do một số điểm nổi trội mà hợp đồng
- Tỷ giá: tỷ giá trong hợp đồng kỳ hạn là tỷ giá không thay đổi được trong suốt
thời hạn của hợp đồng. Tỷ giá này được các ngân hàng yết giá theo kỳ hạn
thường là công bội của 30 ngày và được tính theo tỷ giá giao ngay và lãi suất 2
đồng tiền giao dịch.
- Các hợp đồng kỳ hạn được ký kết và giao dịch giữa các ngân hàng và khách
hàng thường là các công ty xuất, nhập khẩu; giữa các ngân hàng với nhau. Được
liên kết với nhau bằng điện thoại, telex, vi tính…
- Khoản đặt cọc: Khi tham gia hợp đồng tương lai khách hàng phải duy trì số
dư tối thiểu để đảm bảo cho tính thanh khoản của hợp đồng, số tiền này sẽ do 2
bên thỏa thuận với nhau để không quá lớn đối với khách hàng và không quá nhỏ
cho rủi ro của ngân hàng. Khoản tiền này sẽ được giữ ở ngân hàng và tính lãi
theo lãi suất không kỳ hạn.
Ví dụ: Một hợp đồng kỳ hạn quy định: để thuận lợi cho việc giao dịch bên
NH sẽ mở 1 tài khoản không kỳ hạn cho khách hàng để khách hàng chuyển
khoản tiền đặt cọc. Khoản tiền này sẽ được trả lãi với lãi suất không kỳ hạn
trong khoảng thời gian hợp đồng có hiệu lực. Số tiền này sẽ được hoàn trả khi
bên khách hàng thực hiện hợp đồng.
2.2.2.3 Thời điểm đáo hạn của hợp đồng kỳ hạn
- Ngày đáo hạn: Là một ngày cố định, vào bất cứ ngày làm việc nào nếu đã
được thỏa thuận giữa người mua và người bán.
- Đây là 1 ưu điểm của hợp đồng kỳ hạn, mang tính linh hoạt hơn nhiều so với
hợp đồng tương lai
Không như hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn được giao dịch không có
bên thứ 3 đảm bảo nên hợp đồng kỳ hạn không có trạng thái “đóng” hợp đồng
GVHD: Phan Trọng Nghĩa Trang 24
Thị Trường Tài Chính Nhóm 5
như hợp đồng tương lai. Nó bắt buộc 2 bên giam gia hợp đồng chỉ được thực
hiện hợp đồng tại thời điểm đáo hạn với tỷ giá đã xác định từ trước bất chấp tỷ
giá giao ngay trên thị trường lúc đó như thế nào, điểu này có mặt lợi là có thể
bảo hiểm được rủi ro ngoại hối nhưng đồng thời cũng đánh mất đi cơ hội kinh