PHẦN 1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nước ta có khoảng 77% dân số sống bằng nghề nông nghiệp tập trung chủ
yếu ở vùng nông thôn. thì vấn đề phát triển nông nghiệp đóng vai trò rất quan
trọng trong việc phát triển nền kinh tế nông thôn và kinh tế nói chung của đất
nước. Tuy nhiên, thực trạng phát triển nông nghiệp nông thôn luôn chậm chạp và
không đồng đều. Điều này, một phần là do đặc điểm nền kinh tế nông nghiệp
nước ta sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Một phần, là vì người dân không chủ động
được vốn đầu tư tái sản xuất mở rộng quy mô. Từ đó hiệu quả sản xuất nông
nghiệp chưa cao và công cuộc xóa đói giảm nghèo gặp nhiều cản trở.
Không phải là tất cả, nhưng không thể phủ nhận rằng vốn đóng một vai trò
quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế đất nước nói
chung. Nhận thức được vấn đề này, nhiều tổ chức tín dụng và các chương trình
tín dụng như: Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Ngân hàng
Chính sách, NAV, ADB, ICCO,… đã và đang đáp ứng nhu cầu về vốn cho
người dân.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động thì các tổ chức, các chương trình tín
dụng không có hiệu quả như nhau. Thậm chí cùng một tổ chức, cùng một
phương thức cho vay vốn nhưng trên những địa bàn khác nhau, với những đối
tượng khác nhau thì hiệu quả cũng không giống nhau. Điều này sơ lược chúng ta
có thể giải thích rằng những chương trình khác nhau có cơ cấu tổ chức, quy chế
tín dụng, hình thức hoạt động, khác nhau dẫn đế hiệu quả cũng sẽ khác nhau.
Và trong những vùng khác nhau, với những đối tượng khác nhau thì nhu cầu về
lượng vốn, lãi suất, thời gian vay vốn, cách thức trả vốn lãi, là không giống
nhau.
Là một huyện vùng cao của tỉnh Thừa Thiên Huế, với đa số là người dân
tộc Pacô sinh sống. A Lưới có nhiều dự án, tổ chức tín dụng đã và đang hoạt
động như; Ngân hàng Chính sách, Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn, dự án ICCO, Tổ chức bánh mỳ thế giới,… Tuy nhiên thực trạng hoạt động
1
của các tổ chức tín dụng ở Huyện A Lưới cũng giống như thực trạng chung của
2.1.2. Tín dụng dự trữ và tín dụng sử dụng
Trong kinh doanh, tín dụng được coi là nguồn quan trọng để mở rộng quy
mô. Thực tế, tín dụng được sử dụng với hai vai trò là để hình thành tài sản và để
làm một khoản dự trữ.
Sử dụng tín dụng để hình thành tài sản là điều được nhiều người biết đến,
được thừa nhận rộng rãi. Đây chính là khoản tín dụng sử dụng.
Một lượng tín dụng không được dùng trong thực tế nhưng lại có thể được
cung cấp và nó được xem như là một khoản dự trữ chính là tín dụng dự trữ. [2]
3
Như vậy, tổng lượng tín dụng có thể cung cấp gồm tín dụng đã sử dụng để
mua sắm và tín dụng chưa dùng để dự trữ. Chỉ khi tín dụng trong vai trò tín dụng
sử dụng thì chúng mới trở thành món nợ, còn khi tín dụng còn là tín dụng dự trữ
thì chúng vẫn chưa phải là một món nợ.
Trong kinh doanh, các chủ thể sản xuất đều phải duy trì một mức tín dụng
dự trữ nhất định. Chỉ khi vay tới một giới hạn với tất cả các nguồn có thể có thì
mới không còn tín dụng dự trữ. [1]
2.1.3. Tín dụng nông thôn
Tổ chức tín dụng: là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của
Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh
doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền
gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.[3]
Các tổ chức tín dụng nước ta gồm: Tổ chức tín dụng nhà nước; Tổ chức tín
dụng cổ phần của nhà nước và tư nhân; tổ chức tín dụng hợp tác.[3]
Chương trình tín dụng: Trong kinh tế quốc tế, ngoài tín dụng thanh
toán và đầu tư ở tầm vi mô giữa các doanh nghiệp khác nước với nhau, còn có
các chương trình tín dụng vĩ mô giữa các chính phủ, các chương trình tín dụng
vi mô của các tổ chức phi chính phủ. Trong nội bộ từng quốc gia, tùy theo mục
tiêu chiến lược kinh tế cụ thể mà có các chương trình tín dụng riêng biệt đặc thù
trong từng lĩnh vực trong một thời kỳ nhất định. Đối với các tổ chức phi chính
phủ có hoạt động tài chính vi mô cần phân biệt hai loại:
Đối với các nước kinh tế thị trường phát triển và theo đuổi chính sách
tự do hoá tài chính (financial liberalization), lãi suất được hình thành trên cơ
sở thị trường, tức là do quan hệ giữa cung và cầu về vốn trên thị trường
quyết định. Tại những nước này, lãi suất đã trở thành một trong những chỉ
tiêu quan trọng được quan tâm theo dõi một cách chặt chẽ nhất. Trái lại,
trong các nước theo đuổi chính sách tài chính kiềm chế (financial repression)
và đặc biệt là các nước có nền kinh tế được tổ chức theo cơ chế kế hoạch hoá
tập trung, vai trò của lãi suất không được nhìn nhận một cách đúng đắn: lãi
suất mạng nặng tính chất bao cấp về hành chính trong toàn bộ khu vực kinh
5
tế quốc doanh và đảm bảo cho yêu cầu về “giới hạn ngân sách mềm” (soft
budget constraints) trong các hoạt động chi tiêu của chính phủ. Hậu quả đối
với các nước này là những mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu vốn
đầu tư, không thể kiểm soát được lạm phát và sự biến động của tỷ giá hối
đoái, tình trạng thiếu vốn trầm trọng do không có khả năng huy động vốn và
sử dụng vốn một cách hiệu quả, hệ thống thị trường tài chính bị chia cắt
manh mún không thể kiểm soát nổi và đày rẩy rủi ro (thị trường tài chính bị
phân đoạn) nên không thể góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các
nước này. [6]
Lãi suất càng cao thì cầu về mức vay có xu hướng giảm, cung về mức
vay có xu hướng tăng và ngược lại, lãi suất càng thấp thì cầu về mức vay có
xu hướng càng tăng và cung giảm. Theo lý thuyết kinh tế học của Paul
Samuelson thì: “Với lãi suất cao hơn và của cải ít hơn, những chi tiêu nhạy
cảm với lãi suất - đặc biệt là đầu tư có xu hướng giảm đi. Sự kết hợp giữa lãi
suất có xu hướng tăng lên, tín dụng thắt chặt hơn sẽ có xu hướng ít khuyến
khích đầu tư và chi tiêu, tiêu dùng”. Có thể nói việc kích thích hoặc hạn chế
đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn chịu ảnh hưởng của qui luật
cung cầu về tiền tệ như đã dẫn ra ở trên. Mức lãi suất cho vay càng cao càng
làm tăng chi phí sử dụng vốn của người sản xuất trong nông nghiệp lên càng
lớn và đương nhiên càng làm giảm lợi ích của họ và hệ quả là người sản xuất
không thể loại bỏ. Giá trị món vay luôn đòi hỏi phải được đảm bảo trên cơ sở
các văn bản có tính pháp lý và ràng buộc về trách nhiệm dân sự giữa người
đi vay và người cho vay. Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo tính pháp lý cao
nhưng thủ tục phải đơn giản ở mức cần thiết, cần phải cập nhật, phổ cập hoá
để mọi người dân có thể dễ dàng tiếp cận và chấp nhận tham gia vay vốn đầu
tư được thuận lợi nhất.
2.1.4.3. Thời gian cho vay
Thời hạn cho vay là một khoản thời gian được tính từ khi khách hàng
bắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã
7
được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách
hàng.[2]
Thời hạn vay liên quan trực tiếp đến độ thoả dụng của người vay vốn.
Thoả dụng ở đây là thoả mãn về thời gian mà người vay có quyền sử dụng
vốn phục vụ cho mục đích chi tiêu và đầu tư cho mình. Mỗi một đối tượng
vay vốn đều có nhu cầu về thời gian sử dụng vốn khác nhau, điều đó được
quy định bởi đặc điểm của hoạt động đầu tư và tiêu dùng như: loại hình
ngành nghề, đặc điểm sản phẩm và chu kỳ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm,
Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, dịch vụ nói chung hay trong
hoạt động sản xuất phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng thì tuỳ thuộc vào
đối tượng, mục đích nhu cầu về vốn được sử dụng để làm gì mà tổ chức tín
dụng có căn cứ xác định thời hạn cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn ha dài
hạn.[7]
Cho vay trung hạn, dài hạn đối với khách hàng cho vay vốn trung hạn,
dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, đời sống. Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu
hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn
vốn cho vay của tổ chức tín dụng (12 tháng đến 5 năm).[7]
Nhu cầu vay vốn ngắn hạn dùng cho đầu tư mua sắm các tư liệu sản xuất
trực tiếp như: giống, thức ăn, phân bón, trả công lao động hoặc các chi phí
của người đi vay và thu hồi vốn của tổ chức tín dụng.[3] Việc sử dụng vốn
vay không đúng mục đích sẽ phát sinh nhiều rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát
của cả người vay vốn lẫn tổ chức tín dụng, dễ dẫn đến những kết quả không
mong muốn trong công tác quản lý tín dụng.
2.1.4.4. Mức cho vay
Đối với hình thức cho vay có thế chấp, giá trị món vay luôn được xác
định trên cơ sở tài sản thế chấp, do vậy đề cập đến mức vay ở trường hợp
này không phải là mục đích cần xem xét
9
Đối với các hình thức cho vay tín chấp, mức cho vay là số tiền tối đa mà
các tổ chức tín dụng có thể cho người cần vốn vay. Vì người đi vay không
phải thế chấp tài sản cho giá trị của món vay nên các tổ chức tín dụng
thường ấn định ra một số mức vay tối đa nào đó tương ứng với khả dĩ có thể
trên thực tế nhằm giảm thiểu các rủi ro về tín dụng có thể xảy ra. Mức cho
vay là một khái niệm luôn luôn gắn liền với hình thức cho vay không có tài
sản bảo đảm tiền vay.[1]
Việc các tổ chức tín dụng cho vay theo hình thức tín chấp là một cơ hội
tiếp cận tốt đối với các đối tượng không có tài sản thế chấp. Tuy nhiên việc
khống chế ấn định mức cho vay của các tổ chức tín dụng đối với các đối
tượng không có thế chấp đã có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu lượng vốn vay,
các tổ chức tín dụng phải nâng cao nhưng lại bị cản bởi rào cản rủi ro tín
dụng, do vậy việc loại bỏ mức cho vay là không thể, nó là nguyên tắc cần
thiết có tính chất bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng trong hình thức cho
vay theo tín chấp.
2.1.4.5. Thời gian và hình thức thu hồi vốn vay
Kỳ hạn trả nợ là các khoản thời gian trong thời hạn cho vay được thoả
thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian
đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ số tiền vay cho tổ chức tín
dụng.
Thời gian thu hồi vốn vay được hiểu là thời gian bắt đầu từ khi người
trên, nên chúng ta chỉ quan tâm đến cách thu và thời gian thu hồi lãi và vốn
vay.
Việc thu lãi riêng, vốn riêng, một lần hoặc chia nhiều lần theo chu kỳ
hoặc gộp chung cả vốn lẫn lãi đều có tác động đến thái độ của người vay
theo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích vay và đặc điểm của loại
hình đầu tư. Người đi vay có thể chấp nhận kiểu trả tiền đều đặn theo kỳ
11
hoặc trả một lần vào ngày đến hạn nếu vốn vay cho ngành đầu tư có thể cho
ra nhiều vòng đời sản phẩm trong thời gian vay vốn. Nhưng cũng chính họ
khó chấp nhận kiểu trả tiền hàng tháng, quý nếu vốn vay để đầu tư vào
ngành sản xuất chỉ cho ra một vòng đời sản phẩm ở cuối kỳ vay.[1]
2.1.4.6. Chính sách cho vay kết hợp hỗ trợ các biện pháp khác
Đây là chính sách khuyến mại vay vốn của Nhà nước và các tổ chức tín
dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay để đạt được mục tiêu tăng
khả năng thu hồi nợ vay.
Hỗ trợ ở đây không chỉ là kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, nghề nghiệp
dịch vụ, mà còn bao hàm nhiều vấn đề khác có liên quan đến việc sử dụng có
hiệu quả vốn vay, như là kỹ năng quản lý vốn vay, năng lực tiếp cận thị
trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường cung ứng các yếu tố đầu vào cho sản
xuất, hội thảo cộng đồng vay vốn về các vấn đề phát sinh trong quá trình vay
vốn…nhằm tạo ra một môi trường đồng bộ có tính tích cực, xử lý những vấn
đề tồn tại, hỗ trợ cho mục đích chính là sử dụng có hiệu quả vốn vay và tính
khả thi trong việc thu hồi vốn và lãi suất cao.[2]
Các đối tượng tham gia vay vốn ở nông thôn phần lớn là các hộ nông
dân sản xuất nông nghiệp nghèo khó neo đơn, kinh nghiệm và khả năng rất
hạn chế, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng còn khó khăn, kỹ năng quản lý
vốn hầu như chưa có kinh nghiệm…Vì vậy, việc áp dụng chính sách cho vay
kết hợp hỗ trợ các biện pháp kỹ thuật đồng bộ đi kèm như: tập huấn kỹ thuật
trồng trọt, chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, tập huấn và đào tạo kỹ năng sử
dụng vốn vay cho người vay vốn có tác dụng rất lớn trong việc khuyến khích
sản xuất được liên tục, tính tự chủ trong sản xuất nông nghiệp của các cơ sở sản
xuất củng được mở rộng. Ngoài việc bù đắp các khoản thiếu hụt vốn tín dụng
còn giúp người sản xuất có thể mua sắm máy móc, mở rộng qui mô sản xuất, đầu
tư thâm canh để nâng cao chất lượng, khối lượng sản phẩm, tiết kiệm lao động,
đem lại thu nhập cao hơn.[2]
Thứ tư, tín dụng góp phần thực hiện điều chỉnh kinh doanh.
13
Trong nền kinh tế thị trượng hiện nay, yêu cầu về hàng hóa của các khách
hàng thường xuyên có sự biến đổi. Chính sự thay đổi của thị trường buộc các
nhà sản xuất phải có sự điều chính trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình cho phù hợp. Trong hoàn cảnh đó, tín dụng chính là nguồn quan trọng để
các cơ sở sản xuất thực hiện điều chỉnh sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.
Nguồn vốn tín dụng họ có thể đầu tư mua giống mới để có sản phẩm chất lượng
cao hơn hoặc mua dây chuyền mới để tạo ra nhiều loại sản phẩm, mẩu mã đa
dạng.[2]
Thứ năm, tín dụng góp phần giải quyết các biến dạng và hạn chế các
rủi ro trong sản xuất kinh doanh.
Những biến động về giá cả của các yếu tố đầu vào thường có tác động rất
mạnh đến người sản xuất. Lúc này các khoản tín dụng sẽ giúp khắc phục các khó
khăn về vốn, đảm bảo được các hoạt động sản xuất theo dự định. Hơn thế, các cơ
sở sản xuất có thể sử dụng vốn vay để mua một số yếu tố đầu vào dự trữ cho các
hoạt động sản xuất.
Ngoài những ảnh hưởng về giá sản xuất nông nghiệp còn chịu ảnh hưởng
rất lớn về điều kiện tự nhiên như thời tiết, dịch bệnh,…Tín dụng được coi là yếu
tố góp phần ngăn ngừa những yếu tố bất lợi trong kinh doanh, chống lại hoặc
hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.[2]
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tín dụng nông thôn ở một số nước trên thế giới
* Tín dụng nông nghiệp nông thôn ở Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản khuyến khích phát triển nông nghiệp bằng cách thành
trong nước thông qua chế độ ưu đãi về lãi suất, kết hợp với thu hút nguồn viện
trợ của Mỹ nhập khẩu thiết bị, kỹ thuật, khôi phục các cơ sở sản xuất công –
nông nghiệp. Chính phủ tập trung kiểm soát khu vực tài chính tiền tệ thông qua
các biện pháp:
15
-Nhà nước xác lập quyền sở hữu đại bộ phận các Ngân hàng, khống chế các
tổ chức Ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán nhằm hạn
chế cạnh tranh giữa hệ thống Ngân hàng trong nước và nước ngoài. Mức lãi suất
tiết kiệm vẫn do Chính phủ đặt ra.
- Chính phủ khuyến khích đầu tư tư nhân ra nước ngoài, nhằm khai thác mở
rộng thị trường, từ năm 1987 đã nới lỏng quyền kiểm soát ngoại hối cho phép
công dân Đài Loan có thể chuyển 5 triệu USD/năm ra nước ngoài và công dân
nước ngoài có thể chuyển vào đài Loan 200.000 USD/năm. Thông qua chính
sách đầu tư ra nước ngoài, Đài Loan đã phá vỡ hàng rào bảo hộ mậu dịch của
Mỹ, Nhật Bản và các nước phương tây, tiếp thu khoa học công nghệ mới ở nước
đầu tư. Mở quỹ cho vay ngoại hối với số vốn 5 tỷ USD tập trung vào thị trường
mà Đài Loan đang quan tâm.
-Chính phủ thực hiện các chính sách tiết kiệm chi tiêu, tăng thu và cân bằng
ngân sách, có cơ chế thuế hợp lý.
-Cho phép các Ngân hàng nước ngoài góp vốn liên doanh với các doanh
nghiệp trong nước, mức đóng góp không quá 40%.
-Chính phủ thực hiện chính sách ngoại thương năng động, luôn gắn chặt với
luật đầu tư và chuyển giao khoa học công nghệ từ nước ngoài vào, đồng thời
thực hiện đầu tư và chuyển giao khoa học công nghệ từ nước ngoài vào, đồng
thời thực hiện đầu tư và chuyển giao khoa học công nghệ sang các nước chậm
phát triển từ đó mà xây dựng được các khu chế xuất có hiệu quả cao.
-Trong lĩnh vực nông nghiệp ưu tiên phát triển nông nghiệp làm cơ sở tiền
đề phát triển công nghiệp. Nông dân được vay vốn với lãi suất thấp. Nhà nước
chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn: xây dựng đường sá, khu chế biến
nông sản tại chỗ, các quan hệ thị trường xây dựng trên nguyên tắc cạnh tranh tự
kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tự hạch toán, đảm bảo thu hồi vốn, tăng trưởng
17
vốn, cho vay với lãi suất ưu đãi hơn là đầu tư vào các ngành khác, đồng thời huy
động nguồn vốn dư thừa, tiết kiện trong dân cư để làm nguồn vốn cho vay chủ
yếu của các tổ chức tín dụng.
Sử dụng các phương thức cấp vốn đa dạng.
sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng biệt so với ngành sản xuất
khác và hộ nông dân cũng có những đặc điểm riêng về trình độ, nhu cầu vay vốn,
cách sử dụng vốn vay…vì vậy áp dụng phương thức cấp tín dụng trực tiếp hay
gián tiếp, bằng tiền hay bằng hiện vật, trả lãi và vốn một lần hay nhiều lần…phải
phù hợp với đối tượng vay, với từng loại sản phẩm và từng vùng khác nhau.
Tín dụng ưu đãi là cần thiết cho nông nghiệp, nông thôn ở các nước đang
phát triển.
Ở các nước đang phát triển, đời sống nông dân khó khăn, chính trị xã hội ở
nông thôn không ổn định. Người nông dân thiếu vốn sản xuất, tỷ lệ hộ nghèo đói
cao, việc cung cấp tín dụng ưu đãi cho nông dân là nhu cầu bức thiết, các Chính
phủ cần tăng cường nguồn vốn cho chương trình tín dụng ưu đãi vì chỉ có nó mới
giúp cho hộ nông dân nghèo vay vốn để sản xuất. Đó cũng là điều kiện để xoá
đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn.[2]
18
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những tổ chức tín dụng đã và đang hoạt động tại Huyện A Lưới
từ năm 2001 đến nay.
Nghiên cứu những hộ có tham gia vay vốn tín dụng từ năm 2001 đến nay
3.2. Phạm vi nghiên cứu
• Nghiên cứu sẽ được tiến hành tại hai xã: Phú Vinh, Hồng Vân của huyện
A Lưới.
• Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ ngày 15/02/ 2007 đến ngày
20
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1. Vị trí địa lý
A Lưới là một huyện miền núi nằm về phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế,
cách thành phố huế khoảng 70 km. Được giới hạn trong toạ độ địa lý từ 16
0
vĩ độ
Bắc và 107
0
kinh Đông. Với tổng diện tích là 122,901.8 ha, huyện A Lưới chiếm
1/4 diện tích của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là huyện có đường biên giới dài nhất
tỉnh và giáp với nhiều lãnh thổ khác nhau:
- Phía Bắc giáp với huyện Phong Điền và Hương Trà
- Phía Đông giáp huyện Hương Thủy
- Phía Tây Nam, Tây Bắc giáp nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và
huyện Dakrông (Quảng Trị)
- Phía nam giáp huyện Hiên (Quảng Nam)
Là huyện biên giới của tỉnh với gần 85km chiều dài biên giới quốc gia nên
địa bàn huyện A Lưới được xem là địa bàn xung yếu về công tác biên phòng của
tỉnh.
Ngoài đường 14 chạy xuyên suốt từ Bắc đến Nam nối liền tỉnh Quảng Trị
và đi Khe Sanh –Lao Bảo qua nước Lào, còn có tuyến quốc lộ 79 nối Huế với 75
km, tạo điều kiện cho A Lưới có khả năng giao lưu với bên ngoài. Dự án mở cửa
khẩu qua A Lưới sẽ tạo ra khả năng rất lớn trong mối quan hệ giữa Thừa Thiên
Huế và Salavan của Lào và sẽ phát triển A Lưới thành một đô thị năng động
vùng biên giới.
Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên tương đối phức tạp, phân bố ở độ cao
500m so với mực nước biển và bị chia cắt mạnh nên giao thông đi lại và sản xuất
lưu thông gặp nhiều khó khăn. Huyện hiện có 20 xã và 1 thị trấn; địa hình giữa
Về địa hình: Khu vực A Lưới thuộc kiểu địa hình uốn nếp nâng trung bình,
có quá trình bào mòn, xâm thực và phân cách mạnh. Độ cao trung bình của lãnh
thổ A Lưới là 500-1,000 m, trong quá trình đó có một số đỉnh cao vượt trên
1,400m như: Động Ngại (177m), động A So (91,528m), động A Nô (1,485m).
Do kết quả vận động kiến tạo mà hình thành nên ở đây một thung lũng sụt lún A
22
So–A Lưới, chiều dài 25-30km. chiều rộng 2-4km và chạy theo hướng Tây Bắc-
Đông Nam. Đây là khu vực tập trung dân cư sinh sống chủ yếu của các dân tộc
A Lưới.
Qua các tài liệu nghiên cứu có 3 dạng phức hệ địa hình chủ yếu là phức hệ
địa hình núi, phức hệ địa hình đồi và phức hệ địa hình thung lũng với diện tích
địa hình được trình bày như bảng 1 :
Qua bảng cho thấy lãnh thổ A Lưới núi trung bình thấp (750-1400m)
chiếm đến 46,61 % diện tích lãnh thổ và hiện nay trên hầu hết diện tích này có
thảm thực vật rừng tự nhiên bao phủ. Nét đặc trưng của vùng A Lưới là mức độ
chia cắt sâu lớn (300-4,000m) và mức độ cắt ngang tương đối rõ nét. Các bậc độ
cao trên 1,000m nối liền chạy thành một dãy chạy gần về phía đông tạo nên
đường phân thủy của vùng. Bề mặt 800-900m chiếm phần lớn diện tích phần Tây
Bắc là dấu vết của bề mặt san bằng cổ. Thung lũng A So –A Lưới nằm ở độ cao
500-600m, có địa hình tương đối bằng phẳng dạng bãi bồi hay bậc thềm, tuy
diện tích không lớn nhưng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và
phát triển kinh tế huyện
Bảng 1: Diện tích các nhóm kiểu địa hình
Stt Nhóm kiểu địa hình Diện tích (ha) Tỷ lệ (5%)
1 Tổng số 122,901.80 100.00
2 Núi trung bình cao 15,940.36 12.97
3 Núi trung bình thấp 57,284.53 46.61
4 Núi thấp 13,126.78 10.71
5 Đồi cao 15,940.36 12.97
6 Thung lũng 2,573.76 16.74
con người và sản xuất ở đây.
4.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội
a) Đặc điểm dân số và lao động
A Lưới là Huyện miền núi có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, dân tộc
Kinh; Tà ôi; K Tu chiếm đa số, còn lại các dân tộc khác như Tày, Mường, Thái,
Nùng, Bru, Vân Kiều, Lào, … chiếm tỷ lệ thấp. Dân số của Huyện tính đến cuối
năm 1999 là 34.686 người.
Số nữ của Huyện là 17,419 người chiếm tỷ lệ 50.2% dân số, nam là 17,267
người chiếm 49.8% dân số của Huyện.
Dân số nông thôn của Huyện là 29,736 người chiếm tỷ lệ 86.2% dân số,
thành thị là 4,950 người chiếm tỷ lệ 13.8% dân số của Huyện.
24
Số người trong độ tuổi lao động là14,645 người chiếm 42.6% dân số
Huyện.
Mật độ dân số Huyện là 28 người/km
2
so với mật độ dân số tỉnh là 207
người/km
2
thì mật độ dân số Huyện là rất thấp. Tuy vậy mật độ dân số trên địa
bàn Huyện phân bố không đều giữa các đơn vị hành chính xã, tập trung cao nhất
vào thị trấn A Lưới với mật độ dân số 396 người/km
2
, và xã Hồng Quảng 336
người/km
2
, xã A Ngo 275 người/km
2
, trong khi đó mật độ dân số một số xã lại
rất thấp như xã Hương Nguyên, Hương Phong 5 người/km