11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu thẩm mỹ của con
người ngày càng được nâng cao, đặc biệt là thẩm mĩ của gương mặt. Việc làm
đẹp không chỉ giúp làm tăng sự tự tin trong giao tiếp mà còn thể hiện sự tôn
trọng đối với người đối diện. Trong số các yếu tố tạo nên vẻ đẹp của khuôn
mặt, nụ cười là một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng. Người ta luôn có vẻ
hấp dẫn và quyến rũ hơn với một nụ cười đẹp. Ngoài ra, đó cũng là một trong
những cách giao tiếp không lời rất quan trọng của con người. Trong đó, các
răng cửa trên là những răng được nhìn thấy trước tiên khi cười. Chính vì vậy,
hình dạng, kích thước, màu sắc và sự sắp xếp hài hòa của các răng này cần
phải được quan tâm khi muốn tạo một nụ cười đẹp. Giữa các yếu tố này, màu
sắc và hình dạng răng được xem là những yếu tố quan trọng nhất [1]. Trong
lĩnh vực phục hình thẩm mĩ, việc lựa chọn hình dạng, màu sắc đúng và tái tạo
lại những yếu tố này một cách chính xác là một thách thức cho các bác sĩ lâm
sàng, với mục tiêu đảm bảo được sự hài hòa với các răng tự nhiên, giúp phục
hình không bị nhận ra.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới ở các nước như Anh, Mĩ, Tây Ban Nha,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Kosovo, Pakistan và một số nghiên cứu
trong nước đã được tiến hành để xác định màu sắc và hình dạng răng bằng
nhiều phương pháp khác nhau. Đối với xác định màu sắc răng thì đó là
phương pháp so màu răng sử dụng bảng so màu có hướng dẫn hoặc phương
pháp so màu bằng máy (so màu với sự hỗ trợ của máy ảnh hoặc camera trong
miệng, so màu bằng sắc kế và phổ quang kế): [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8],
[9], [10], [11], [12], [13], [14]. Đối với đánh giá hình thể răng thì đó là
phương pháp đánh giá dựa vào mối tương quan giữa các kích thước ngang
của thân răng hoặc phương pháp đối chiếu với răng mẫu: [15], [16], [17],
22
1.1.1.1. Độ sáng :
Độ sáng, xếp theo cấp độ quan trọng, là yếu tố đầu tiên tạo nên sự thành
công về màu sắc của một phục hình răng. Nó được định nghĩa là số lượng
màu trắng có trong một màu nào đó. Bảng so màu 3D của Vita® là bảng so
màu duy nhất được xây dựng để xác định nhanh chóng và đầu tiên răng đang
được quan sát thuộc về nhóm độ sáng nào.
1.1.1.2. Độ bão hòa màu:
Được định nghĩa là số lượng hạt màu thuần có trong một màu sắc nào
đó. Ta có thể làm giảm độ bão hòa của một màu bằng hai cách : hoặc là thêm
vào màu trắng, điều này sẽ làm cho màu gốc sáng ra và cho cảm giác màu bị
nhạt đi ; hoặc là thêm vào màu đen, điều này sẽ làm cho màu gốc bị xỉn đi.
1.1.1.3. Tông màu:
Tông màu được định nghĩa là độ dài bước sóng của ánh sáng được phản
xạ lại của một vật. Nó tương ứng với các màu khác nhau như đỏ, lục, lam hay
vàng. Nó là yếu tố ít quan trọng nhất trong việc tạo nên sự thành công về màu
sắc của răng giả.
44
1.1.2. Phổ màu Munsell: [25],[26],[27],[28]
Năm 1909, Giáo sư Albert H. Munsell đã lần đầu tiên xây dựng một hệ
thống không gian màu ba chiều mà ngày nay vẫn còn được ứng dụng rộng rãi
trong các lĩnh vực khoa học về màu sắc, được gọi là Phổ màu Munsell. Nó
giúp định nghĩa mỗi màu bằng một điểm được định vị trong một không gian
ba chiều mà các thông số chính là ba yếu tố cơ bản của màu sắc: tông màu
(Hue), độ sáng (Value) và độ bão hòa màu (Chrom). Phổ màu có hình khối
lăng trụ tròn. Trục đứng trung tâm của hình lăng trụ mang các giá trị thể hiện
độ sáng (Value) đi từ 0 (cực dưới, tương ứng với màu đen) đến 10 (cực trên,
tương ứng với màu trắng). Bán kính của khối trụ tròn mang các giá trị biểu thị
đổi sắc thái của màu, đi từ xanh lá cây sang đỏ (-a = xanh lá cây; +a = đỏ).
Trục b* thể hiện sự thay đổi sắc thái của màu, đi từ xanh dương sang vàng (-b
= xanh dương; +b = vàng). Không gian màu CIE La*b* cho phép chúng ta lần
đầu tiên mô tả và xác định được màu sắc bằng những con số cụ thể, từ đó có
thể dễ dàng xác định được mức độ khác biệt giữa các màu khác nhau. Ứng
dụng trong nha khoa có thể thấy rõ trong việc đánh giá sự thay đổi màu răng
sau khi sử dụng các sản phẩm làm trắng răng.
66
1.1.3.3. Không gian màu CIE LCh0: [32]
Mặc dù không gian màu CIE La*b* được ứng dụng một cách rất hiệu
quả đối với nhiều người sử dụng, nhưng hệ thống vẫn mang tính hạn chế đối
với một số đối tượng như kĩ thuật viên labo. Các con số được biểu diễn bởi hệ
thống CIE La*b* không giúp ích được nhiều trong việc tái tạo màu sắc răng
tự nhiên. Chính vì vậy, một phiên bản mới của không gian màu CIE La*b* đã
ra đời, dựa trên ba giá trị của phổ màu Munsell cổ điển: Không gian màu CIE
LCh0. Trong đó: L luôn là trục tung, mang các giá trị thể hiện độ sáng từ 0 đến
100; C là giá trị thể hiện độ bão hòa màu, được tính bằng khoảng cách từ trục
L đến vị trí của màu được xác định; h 0 là giá trị tính góc từ trục +a đến vị trí
của màu được xác định, đại diện cho tông màu. So với không gian màu CIE
La*b*, các giá trị từ không gian màu CIE LCh 0 tạo điều kiện hơn cho các kĩ
thuật viên trong việc xác định cũng như tái tạo màu sắc răng vì chúng nêu lên
được ba yếu tố cơ bản của màu sắc.
Hình 1.2: Không gian màu CIE La*b* và CIE LCh0 [29]
77
Type C: Tính chất trong mờ tập trung ở rìa cắn và về phía các mặt bên.
Thông tin về độ trong mờ của răng cần phải được trao đổi với labo để
được tái tạo trên phục hình, tốt nhất nên trao đổi thông qua ảnh kĩ thuật số.
88
Hình 1.3: Phân loại tính trong mờ của Yamamoto (1985) [38]
► Tính ánh sữa:
Tính ánh sữa là một hiệu ứng quang học được miêu tả tương tự trên đá
mắt mèo và có liên quan đến kích thước rất nhỏ của các tinh thể silicium
dioxide. Về mặt phản xạ ánh sáng, màu ngọc mắt mèo thường phản xạ lại các
chùm sáng có bước sóng ngắn, điều này khiến nó có màu phơn phớt xanh.
Kích thước rất nhỏ của các tinh thể hydroxy-apatites (0,05 đến 0,15 μm)
khiến men răng cũng có tính chất tương tự. Hiệu ứng màu phơn phớt xanh
thường được quan sát thấy ở các bờ viền của men răng trên răng người trẻ.
Phân loại của Vanini sau đây cho phép đơn giản hóa việc đánh giá và tái tạo
tính chất này: [37]
-
Type 1: Hiệu ứng ánh sữa tạo nên hình ảnh các núm với hai rãnh;
-
Type 2: Hiệu ứng ánh sữa tạo nên hình ảnh các núm với ba hay bốn
rãnh;
-
huỳnh quang của nó, điều này xảy ra do hiện tượng khoáng hóa quá mức của
ngà răng ở người cao tuổi.
► Hiệu ứng ánh xà cừ:
Hiệu ứng ánh xà cừ hay là một hiệu ứng của bề mặt cản quang có độ
sáng lớn, hơi có ánh kim loại giống như được quan sát thấy trên bề mặt xà cừ.
Hiệu ứng này đôi khi được quan sát thấy ở răng người trẻ, đặc biệt là ở những
góc nhìn nghiêng không trực diện.
► Tình trạng bề mặt:
Tình trạng bề mặt của răng tự nhiên thường rất đa dạng. Nó có ảnh
hưởng đáng kể đến sự tiếp nhận màu sắc vì chúng quyết định lượng ánh sáng
phản xạ lại và lượng ánh sáng được truyền qua răng. Răng ở người trẻ có
thường có bề mặt với nhiều hố trũng và những đường vân tăng trưởng ngang.
Theo độ tuổi tăng dần, sự mòn răng hóa học hay cơ học xóa mờ dần đi những
10
10
những chỗ lồi lõm trên bề mặt răng. Chính vì vậy, bề mặt răng của người già
thường trở nên trơn bóng.
► Đặc trưng của từng cá nhân:
Đặc tính của từng cá nhân là những đặc điểm màu sắc mang tính khu trú,
mắc phải và mang tính cấu trúc trên răng tự nhiên. Nó có thể là những đốm
trắng đục do sự hủy khoáng, những vết hoặc đám màu trắng do nhiễm màu
fluor, hiệu ứng những đám mây men màu sữa trên bề mặt răng thường được
quan sát thấy trên răng của người trẻ, những vết nứt men răng sáng màu hoặc
đã bị nhiễm màu.
1.1.4.2. Các yếu tố bên ngoài:
Về độ sáng: Nền quan sát tối hơn sẽ làm cho răng trở nên sáng hơn và
-
ngược lại.
Về tông màu: Màu sắc răng được cảm nhận khác nhau khi quan sát trên
các nền có tông màu khác nhau. Azad [40] nghiên cứu ảnh hưởng của tông
màu da đối với màu sắc răng, cho kết luận: Những người có nước da trung
bình đến tối màu thì màu răng sáng hơn, những người da trắng thì răng tối
màu hơn; nam giới có màu răng tối hơn, còn nữ giới có màu răng sáng
-
hơn.
Về độ bão hòa màu: Một nền ít màu sẽ làm cho răng có màu sắc đậm hơn
và ngược lại. Ngoài ra, nền có tông màu và độ bão hòa tương tự răng sẽ
làm cho việc phân biệt màu răng trở nên khó khăn hơn [41].
Người quan sát:
Đánh giá màu sắc răng là quá trình chủ quan vì các cá thể khác nhau có
đáp ứng khác nhau với các kích thích ánh sáng khác nhau, tại các thời điểm
khác nhau [40]. Bên cạnh đó có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng lựa
chọn màu của cá thể.
-
Tuổi: Theo thời gian, giác mạc và thủy tinh thể bị lão hóa và trở nên vàng
răng nhưng lại khác nhau ở ánh sáng ban ngày [43].
Mù màu: Là một bệnh di truyền, những người bị mù màu không thể phát
hiện được màu đỏ, xanh lá cây và màu xanh dương nhưng vẫn còn khả
năng phân biệt độ sáng tối. Nguyên nhân là do sự thiếu hụt hay vắng mặt
của một hoặc hơn một trong ba loại sắc tố cảm quang phát hiện những màu
đó. Do đó, mù màu ảnh hưởng đến việc xác định tông màu, độ sáng, độ
-
bão hòa màu [4].
Thuốc: Một số thuốc có tác dụng phụ lên thị lực, các thuốc gây tăng nhãn
áp, đục thủy tinh thể, mờ giác mạc làm cho việc quan sát màu sắc thiếu
chính xác [4].
1.1.5. Các phương pháp xác định màu sắc răng:
1.1.5.1. Sử dụng bảng so màu có hướng dẫn:
-
Sử dụng bảng so màu có hướng dẫn để so màu răng ngày càng được áp
dụng phổ biến trong nha khoa. Nguyên lí so màu rất đơn giản: So sánh
bằng cách quan sát màu thẻ màu mẫu của bảng so màu với màu của răng
tự nhiên cho đến khi tìm được thẻ có màu gần nhất với màu của răng cần
so màu. Mỗi bảng so màu có cách thức sử dụng khác nhau tùy theo chỉ
định của nhà sản xuất [43].
13
13
Các bảng so màu được phân thành hai loại:
8
9
5
10 11 12
13 14 15 16
Sáng nhất
Tối nhất
Hình 1.5: Bảng so màu Vitapan Classical® [24]
•
Bảng so màu Chromascop® :
Chromascop® là sản phẩm của hãng Ivoclar-Vivadent, được giới thiệu vào
năm 1990, bao gồm 20 thẻ màu, được chia thành 5 nhóm tông màu khác nhau:
14
14
100 (màu sáng), 200 (vàng cam), 300 (nâu), 400 (xám), 500 (nâu sẫm). Mỗi
nhóm tông màu bao gồm 4 mức độ bão hòa màu (10-20-30-40). So với Vitapan
Classical®, bảng so màu Chromascop® đa dạng hơn về độ bão hòa màu.
thẻ màu cũng cho phép việc so màu được chính xác hơn. Chính vì vậy, sự ra
đời của bảng so màu Tooth Guide 3D Master ® có thể được xem như một bước
tiến lớn trong việc so màu răng bằng các bảng so màu có hướng dẫn.
Hình 1.7: Bảng so màu Tooth Guide 3D Master® [24]
•
Hệ thống so màu Linearguide 3D Master® :
Bảng so màu Linearguide 3D Master® được tạo thành dựa trên nguyên lí
hoàn toàn tương tự Tooth Guide 3D Master ®, nhưng cách sắp xếp các thẻ màu
thì lại hoàn toàn khác với Tooth Guide 3D Master ®. Bảng so màu Linearguide
3D Master® bao gồm 26 thẻ, được sắp xếp không phải trong duy nhất một
bảng màu mà là 6 bảng màu khác nhau. Bảng màu thứ nhất cho phép lựa chọn
độ sáng, 5 bảng màu còn lại (mỗi bảng màu tương ứng với một độ sáng) cho
phép lựa chọn độ bão hòa màu và tông màu. Sự sắp xếp các thẻ màu là khác
nhau, nhưng các bước lựa chọn thẻ màu vẫn được thực hiện tương tự như ở
bảng màu Tooth Guide 3D Master®.
16
16
Hình 1.8: Hệ thống so màu Linearguide 3D Master® [24]
1.1.5.2. So màu bằng máy:
Mặc dù phương pháp so màu răng bằng bảng hướng dẫn so màu được sử
dụng khá phổ biến trong nha khoa phục hồi, nhưng trên thực tế có một số vấn
đề liên quan đến việc so màu, đó là màu răng thật không hoàn toàn phù hợp
với hướng dẫn màu khi được so sánh. Từ những hạn chế của các hướng dẫn
ở đầu của camera. Kinh phí đầu tư cho hệ thống này vẫn rẻ hơn so với hệ
thống sắc kế điện tử và phổ quang kế sẽ được nhắc đến sau đây.
Hình 1.9: Camera trong miệng Sopro 717® [24]
Sắc kế điện tử:
Sắc kế điện tử là thiết bị quang học để đo những bước sóng ánh sáng
phản chiếu đến bộ phận cảm biến [48]. Đây là thiết bị đo màu răng dựa theo
nguyên lí cảm nhận màu sắc của tế bào cảm quang ở hố mắt. Thiết bị này đưa
ra kết quả tương tự với cảm nhận màu sắc của người quan sát tiêu chuẩn,
giảm được sai số do đánh giá chủ quan của đối tượng. Tuy nhiên, đánh giá
màu bằng sắc kế sẽ gặp phải sai số gây ra bởi hiệu ứng mất rìa. Nhược điểm
khác là rất khó để kiểm soát lỗi hệ thống và điều đó có thể ảnh hưởng xấu đến
độ chính xác của máy. Đây là nhược điểm không thể khắc phục được [6].
Phổ quang kế:
Phổ quang kế là dụng cụ đo bước sóng ánh sáng phản xạ từ một vật thể ở
nhiều điểm dọc theo quang phổ khả kiến và các phép đo cho ta dữ liệu về các
phổ màu. Hình ảnh và dữ liệu quang phổ được phân tích, lưu giữ trong bộ nhớ
của máy. Hiện nay, phổ quang kế là dụng cụ đo màu sắc chính xác nhất [49].
Có rất nhiều loại phổ quang kế của các hãng khác nhau như: SpectroShade
Micro®, X-rite®, Shade-X®, Vita Easyshade®, Vita Easyshade Compact®…
18
1,5
18,4
Thân răng
6,5
72,4
1,2
16,2
Rìa cắn
3,9
71,4
0,9
12,8
Bảng 1.3: Kết quả nghiên cứu màu sắc răng cửa giữa của Hasegawa và
cộng sự [7] trên 87 bệnh nhân tuổi 13-84 ở Nhật Bản bằng phổ quang kế:
19
2,0
13,0
Vị trí
20
20
Bảng 1.4: Một số nghiên cứu trên thế giới về màu sắc răng cửa giữa hàm
trên tại vị trí giữa thân răng:
Tác giả
Azad et al.
[6]
Cho et al.
[4]
Douglas
[50]
Gazalo Diaz [8]
Tuncdermir
et al. [9]
Zhu et al.
[10]
Zhao – Zhu
[11]
Phương
pháp
18-
62,29
1,33
8,65
35
5,45
1,34
3,44
57,8
-1,0
6,7
3,5
0,9
3,1
54,76
kế
Sắc kế
Phổ
quang
kế
Phổ
quang
kế
Thổ Nhĩ
Kì
Trung
Quốc
Trung
Quốc
125
163
70
73,3
7,7
4,7 2,3
18,8
4,9
5,65
18-
51,4
0,62
0,15
70
8,02
0,14
0,02
21
21
1.1.6.2. Một số nghiên cứu màu sắc răng ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu màu sắc răng bình thường trong
cộng đồng còn ít. Sau đây là một số nghiên cứu trên các nhóm răng bình
thường và nhóm răng bị nhiễm sắc:
Võ Thị Phương Linh [2] nhận xét màu sắc nhóm răng phía trước trên 90
đối tượng đưa ra các chỉ số màu của nhóm răng cửa hàm trên: Vita 2D (4,6
3,7), C (19,9
80,8 5,7
0,3 2,0
31,1 5,0
Thân răng
60
80,1 5,8
1,1 2,0
27,8 4,3
Rìa cắn
60
71,9 6,8
0,7 1,7
23,0 4,8
22
22
Mặt ngoài:
• Có dạng hình thang, đáy lớn ở phía cắn
• Điểm lồi tối đa thường ở một phần ba cắn
• Đường viền gần khá thẳng, đường viền xa hơi cong
• Góc gần của rìa cắn vuông, góc xa tròn
• Lồi nhiều ở một phần ba cổ răng; một phần ba giữa và một phần ba
cắn nhìn chung nhẵn
Mặt trong hay mặt lưỡi thường có hình xẻng
Đường cổ răng là một cung tròn đều đặn lồi về phía chóp
1.2.1.3. Răng cửa bên hàm trên: [56]
-
Răng cửa bên hàm trên trông gần giống răng cửa giữa hàm trên vì nó bổ
sung chức năng và hình thái thẩm mĩ cho răng cửa giữa; các kích thước
-
đều nhỏ hơn răng cửa giữa
Mặt ngoài:
23
23
•
•
Nhỏ hơn răng cửa giữa theo chiều gần xa và chiều nhai nướu
Hình dạng tương tự răng cửa giữa nhưng rìa cắn tròn hơn, góc gần
nó cũng trùng với hình thái cung răng. [57]
Năm 1913 Leon William nghiên cứu nhân trắc học hơn 1.000 hộp sọ tại
trường Đại học Georgia ông đã tìm thấy có ba hình dạng của răng cửa giữa
24
24
hàm trên đó là: hình vuông, hình trứng và hình tam giác. Ông quan sát thấy
rằng những phác thảo của khuôn mặt, khi đảo ngược, có thể tương ứng với hàm
răng cửa giữa hàm trên, kết quả trong thẩm mỹ mong muốn. Vì vậy được gọi là
“lý thuyết hình thái học” về sự phù hợp dạng của khuôn mặt và các hình dạng
thân răng cửa giữa hàm trên. Lý thuyết này mặc nhiên công nhận và phổ biến
nhất cho sự lựa chọn răng giả khi làm phục hình. Nó được đề cập ở hầu hết các
sách giáo khoa phục hình răng giả trên thế giới. Nhiều tác giả đồng ý với lý
thuyết này, nhưng một số nghiên cứu vẫn không chấp thuận [16].
Hình 1.11: Ba hình dạng thân răng theo Leon William [17]
Năm 1980, Mavroskoufis và G. M. Ritchie [58] ở trường Nha khoa Luân
Đôn đã nghiên cứu trên 70 mẫu hàm thạch cao của sinh viên, đa số là da
trắng, về mối tương quan giữa hình thể răng cửa giữa hàm trên và hình dạng
khuôn mặt. Các tác giả đã nhận thấy rằng chỉ có 31,3% trường hợp có sự
đồng dạng giữa hình thể răng cửa giữa hàm trên và hình dạng khuôn mặt. Họ
đã kết luận rằng không có mối liên quan mật thiết nào giữa hình thể răng cửa
giữa hàm trên và hình dạng khuôn mặt, và do vậy việc lựa chọn răng giả trên
cơ sở giả thiết Luật hài hòa là không có giá trị.
Năm 1988 Philip Sellen và Daryll Jagger [59] đã nghiên cứu trên 50 đối
tượng người da trắng ở độ tuổi từ 20 đến 31 để đánh giá 5 yếu tố thẩm mỹ là:
Hình dạng khuôn mặt, hình thể răng cửa giữa, hình dạng cung răng, hình dạng
vòm miệng và sự sắp xếp các răng hàm trên. Kết quả của Philip và Daryll cho
hài hòa của Williams. Kết quả cũng chỉ cho thấy 43,5% ở phương pháp đo
lường trực tiếp và 41,1% ở phương pháp đo sử dụng máy ảnh về mức độ