TRƯỜNG ĐH BÁCH KHOA TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÔNG CỤ
ĐỀ TÀI: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÀM LƯỢNG AFLATONXIN
TRONG THỰC PHẨM
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2014
NHẬN XÉT
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
…
…………………………………………………………………………
cũng có thể hiện nguy cơ lớn về việc có thể nhiễm aflatoxin.
ở nước ta với đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, độ ẩm trong không khí thường cao,
thời vụ canh tác, thu hoạch thường rơi vào mùa mưa trong khi các phương tiện thu hoạch phơi
sấy nông sản kém, kho chứ không đảm bảo khô ráo thoáng mát, là điều kiện thuận lợi cho
nấm mốc phát triển gây nhiễm độc tố cho thực phẩm và thức ăn chăn nuôi.
Do đó việc kiểm soát dư lượng aflatoxin là yêu cầu cần thiết và quan trọng. Giới hạn về
mức nhiễm aflatoxin đã là một trong những tiêu chuẩn của an toàn vệ sinh thực phẩm. Để có
cái nhìn tổng quan về aflatoxin, các ảnh hưởng của độc tố này lên cơ thể con người cũng như
các loại động vật và các phương pháp phân tích để phát hiện và phòng tránh việc nhiễm
aflatoxin nên em đã chọn đề tài “ các phương pháp phân tích Aflatoxin trong thực phẩm”
Do kiến thức và thời gian hạn chế, các thông tin trong bài tiểu luận chủ yếu lấy từ các
trang web nên bài tiểu luận này không tránh khỏi những sai sót, mong thầy thông cảm và
đóng góp ý kiến cho bài của em được hoàn thiện hơn.
5
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ AFLATOXIN
1.1. Lịch sử phát hiện Aflatoxin.
Vào năm 1960, nghề nuôi gia cầm ở nước Anh bị tổn thất rất nặng nề, lúc đầu hơn
10.000 gà tây chết vì một bệnh mới gọi là “ bệnh gà tây”. Sau đó các loại gia cầm khác như
vịt, gà lôi cũng bị nhiễm bệnh và tử vong rất nhiều. Qua điều tra, người ta xác định được bệnh
có liên quan đến một loại độc tố do nấm có trong thức ăn sinh ra. Đến năm 1961 người ta đã
tìm ra độc tố hóa học của độc chất này là aflatoxin do vi nấm Aspergillus flavus và
Aspergillus parasiticus. Aflatoxin có 4 dẫn xuất quan trọng là AFB1, AFB2, AFG1, AFG2.
Giữa 4 loại trên thì B1 chiếm nhiều nhất trong nông sản và gây tác hại nhiều nhất, gây ngộ
độc nhanh nhất và phổ biến nhất.
Năm 1961 các công trình nghiên cứu công nhận rằng aflatoxin tạo ra bởi nấm
Aspergillus flavus va có thể là nguyên nhân gây ra khối u ở gan của động vật. Trên động vật
thủy sản, những nghiên cứu đầu tiên về độc tố aflatoxin trên cá hồi được thực hiện bởi Ashley
và các cộng sự.
Từ đó trở đi có nhiều công trình nghiên cứu về độc tố aflatoxin. Các nhà khoa học cũng
đã xác định được công thức phân tử và công thức cấu tạo của Aflatoxin.
Aflatoxin G2 và các Aflatoxin khác thì tỷ lệ khá thấp.
Phân biệt các chủng sinh độc tố và không sinh độc tố qua những đặc điểm hình thái:
chủng sinh độc tố có đầu bào tử đính màu xanh lục, ngay cả các giống cấy lâu ngày( thể bình
hai lớp, cuống bào tử đính với vách có gai). Một chủng sinh độc tố có thể mất khả năng đóqua
nhiều lần cấy truyền liên tiếp trên các môi trường tổng hợp. Thế nhưng chủng độc của chúng
tăng lên khi cấy truyền liên tiếp trên những môi trường tự nhiên thích hợp.
7
1.3.2. Cơ chất và môi trường
Cơ chất là các hạt có dầu, dặc biệt là hạt lạc và các sản phẩm từ lạc. Lượng độc tố chứa
trong lạc cao nhất. Các chủng phân lập từ thịt ôi, bánh mì, các thực phẩm bột sống hay
phomat ô nhiễm tự nhiên thường không có hoặc có rất ít độc tố. Ngược lại gần 1/3 số chủng
phân lập từ các gia vị có khả năng sinh sản Aflatoxin.
Ngay cả trên cùng một cơ chất khả năng sản sinh Aflatoxin của các chủng Aspergillus
flavus cũng khác nhau. Nguyên nhân của hiện tượng này cũng có thể do một số giống lạc có
tính kháng với Aspergillus flavus sinh độc tố Aflatoxin. Các nhà tạo giống đã dựa vào cơ sở
phát hiện trên nhằm tạo ra những giống lạc không bị nhiễm Aflatoxin. Đây là hướng nghiên
cứu của nhiều nhà khoa học sử dụng nhằm loại bỏ Aflatoxin theo một cách có lợi nhất.
Sự hình thành Aflatoxin phụ thuộc vào sinh khối sợi nấm và thời gian phát triển, khối
lượng sợ nấm càng nhiều thì sản sinh độc tố càng nhiều và ngược lại. Thời gian để sản sinh
Aflatoxin cực đại thường từ ngày thứ sáu đến ngày thứ bảy sau đó giảm đi. Lý do của sự giảm
lượng Aflatoxin trong những ngày tiếp theo là do quá trình tự phân giải của chính bản thân
nấm mốc.
Nhiệt độ thích hợp nhất để sản sinh Aflatoxin của các chủng nấm mốc là từ 25
o
C -28
o
C.
Nếu nuôi cấy Aspergillus flavus ở 45
o
C thì khả năng sản sinh Aflatoxin bị hạn chế.
4
Cl hay một muối
amoni khác. Lượng Aflatoxin cao nhất trên môi trường có nấm men hay có pepton hoặc tốt
hơn nữa là có các axit amin. Tiamin và các vitamin nhóm B kích thích sự tổng hợp các
Aflatoxin, riboflavin và piridoxin thì không có tác dụng.
Các ion kim loại: sự có mặt của Zn, Mg hay Fe kích thích khả năng sản sinh Aflatoxin,
Co, Cr, Mn, Ca có ít hiệu lực.
Các chất khác; khi Aspergillus flavus phát triển trên hạt lúa mì, lượng Aflatoxin tạo ra ở
giai đoạn phôi mầm nhiều hơn hẳn giai đoạn phôi nhũ. Ngoài ra người ta còn thấy việc thêm
lipid ( chiết từ mầm lúa mì bằng pentan) vào một cơ chất gồm mầm lúa mì đã loại bỏ lipid có
hiệu quả tốt đến sản sinh Aflatoxin. Ảnh hưởng có lợi của các axit béo đến việc hình thành
độc tố được nhiều người công nhận, làm cho người ta nghĩ rằng chúng có vai trò quan trọng
trong việc sinh tổng hợp các Aflatoxin, việc phân hủy sinh học của chúng đưa đến sự hình
thành các tiền sản phẩm tham gia vào vòng chuyển hóa sinh tổng hợp Aflatoxin. Thêm
Dimetylsunfoxit (DMSO) vào môi trường nuôi cấy sẽ làm nồng độ Aflatoxin hoặc tăng lên
chút ít hoặc giảm sút rất nhiều. Ở đây có le4la2 một tác dộng chuyển hóa qua lại hơn là một
phản ứng hóa học giữa DMSo với các Aflatoxin.
9
1.4. Cấu trúc và các tính chất của Aflatoxin.
1.4.1. cấu trúc hóa học.
Các Aflatoxin thường nhiễm trên các sản phẩm thực vật. Hiện nay người ta đã tìm thấy
khoảng 18 loại Aflatoxin khác nhau, tuy nhiên có 4 loại chính thường gặp nhất gồm 4 hợp
chất của nhóm bis-furanocoumarin, là sản phẩm trao đổi chất bởi nấm Aspergillus flavus và
Aspergillus parasiticus, được đặt tên là B
1
, B
2
, G
1
, G
kém hơn từ 60 đến 100 lần, như vậy chúng sẽ không độc, nếu không có khả năng mất hidrat
chuyển thành Aflatoxin B
1
rất độc.
Aflatoxin B
1
, B
2
trong sửa bò chuyển hóa và gọi là Aflatoxin M
1
và Aflatoxin M
2
( M là
viết tắt của milk). Aflatoxin M
1
có huỳnh quang xanh màu tím, Aflatoxin M
2
có Rf thấp hơn
và huỳnh quang màu tím. Aflatoxin M
1
là hidroxi-4 Aflatoxin B
1
, và Aflatoxin M
2
là hidroxi –
4 Aflatoxin B
2
.
Trong bốn loại Aflatoxin thì Aflatoxin B
1
1
được thay thế bằng một chuỗi bên etanol, do đó chất này là 6 –
metoxi – 7 – (2 – hidroxictyl) difurocumarin.
1.4.2. Tính chất vật lý.
Các Aflatoxin phát quang mạnh dưới ánh sáng tia cực tím sóng dài. Điều này cho phép
các hợp chất này ở nồng độ cực kì thấp ( 0.5 ng hay thấp hơn trên một vết ở sắc kí bản mỏng).
Nó cung cấp điểm cơ bản về mặt thực hành cho tất cả các phương pháp hóa lý về việc phát
hiện và định lượng. Nồng độ Aflatoxin M
1
0.02mg/l có thể được phát hiện trong sữa lỏng.
Aflatoxin tinh khiết rất bền vững ở nhiệt độ cao lên đến diểm nóng chảy, khi được làm
nóng trong không khí. Tuy nhiên nó tương đối không bền khi để dưới không khí và dưới tia
cực tím ở phía sắc kí bản mỏng, và đặc biệt khi hòa tan ở các dung môi có độ phân cực cao.
Các Aflatoxin trong các dung môi cloroform và benzen bền vững trong nhiều năm nếu đươc
giữ trong chổ tối và lạnh. Các Aflatoxin ít hoặc không bị phá hủy dưới điều kiện nấu bình
thường và làm nóng khi thanh trùng. Tuy nhiên khi có độ ẩm và ở nhiệt độ cao vẫn có thể tiêu
hủy Aflatoxin trong một khoảng thời gian nhất định.
Các Aflatoxin được hòa tan trong các dung môi phân cực nhẹ như cloroform, metanol
và đặc biệt ở dimetylsulfoit ( dung môi thường được sử dụng như phương tiện trong việc áp
11
dụng các Aflatoxin vào các động vật thực nghiệm). Tính tan của Aflatoxin trong nước dao
động từ 10 – 20 mg/l.
1.4.3. Tính chất hóa học.
Sự có mặt của các vòng lacton ở phân tử Aflatoxin làm chúng nhạy cảm với việc thủy
phân trong môi trường kiềm, đặc tính này là quan trọng trong bất kì quá trình chế biến thực
phẩm vì quá trình xử lý kiềm làm giảm hàm lượng Aflatoxin của các sản phẩm, mặc dù sự có
mặt của protein, pH và thời gian xử lý có thể thay đổi các kết quả. Tuy nhiên nếu xử lý kiềm
là nhẹ thì việc axit hóa sẽ làm phản ứng ngược trở lại để tạo aflatoxin ban đầu.
Công
H
14
O
6
314
286 -
289
X
anh
lam
AFlatoxi
n G
1
C
17
H
12
O
7
328
244
-246
X
anh
lục
AFlatoxi
n G
2
C
17
O
7
330 293
X
anh
tím
Bảng: Tính chất hóa lý chủ yếu của các Aflatoxin
ở nhiệt độ cao ( khoảng 100
o
C) sự mở vòng decarboxylation xảy ra và phản ứng có thể
tiến xa hơn, dẫn đến sự mất mát các nhóm methoxy từ vòng thơm.
12
Khi có các axit vô cơ và bổ sung nước, Aflatoxin B
1
và G
1
chuyển hóa thành Aflatoxin
B
2
A và G
2
A. Các sản phẩm cộng hợp tương tự của Aflatoxin B
1
và G
1
cũng được hình thành
với clorua axit formic thionyl, clorua axit axetic và axit thionyl trifluoroacetic.
Nhiều tác nhân oxy hóa, chẳng hạn như hypochlorite natri, thuốc tím, chlorine,
hydrogen peroxide, ozone và peborat natri phản ứng với aflatoxin và thay đổi các phân tử
Aflatoxin, một số phản ứng làm mất huỳnh quang.
và M
2
. Một lượng rất ít Aflatoxin đó đã được phát hiện trong các giống nuôi cấy
Aspergillus flavus trên lạc và trên nhiều cơ thể khác. Để chắc chắn rằng các Aflatoxin M
trong sữa là những sản phẩm chuyển hóa của Aflatoxin ăn vào, người ta cho chuột cái đang
cho con bú uống Aflatoxin B
1
và đã tìm thấy Aflatoxin M trong sữa. Aflatoxin M
1
còn được
tìm thấy trong sữa dê, mật chuột, gan chuột, phân và nước tiểu bò cái và cừu, máu, nước tiểu,
mật, thận thỏ con, trong nước tiểu người ăn bơ dầu lạc có nhiễm khuẩn.
Việc chuyển hóa các Aflatoxin diễn ra rất nhanh. Nếu cho bò cái ăn một lượng duy nhất
( 0.5 mg/kg) hỗn hợp các Aflatoxin B
1
: 44%, G
1
:44%, B
2
:2% và phân tích đều đặn sữa, người
ta thấy 85% lượng Aflatoxin phát hiện trong sữa và nước tiểu được bài tiết ra trong vòng 48
giờ, 4 ngày sau trong sữa và 6 ngày sau trong nước tiểu, phân không phát hiện một vết bào
nào nữa. Trong sữa chỉ có Aflatoxin M
1
và lượng chất này chỉ chiếm 0.35% lượng Aflatoxin
B
1
ăn phải. Mặt khác, nếu cho 67 đến 200mg Aflatoxin B
1
vào khẩu phần hàng tuần của bò
nghiêm trọng nhất và nguy hiểm nhất là khả năng gây xơ gan và ung thư gan.
14
CHƯƠNG 2 : NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA AFLATOXIN
2.1. Cơ chế tác động của Aflatoxin
Aflatoxin B
1
là phân tử ái lực mạnh với thành ruột, có trọng lượng phân tử thấp nên dễ
dàng được hấp thu hoàn toàn sau khi ăn.
Khi đến ruột non, Aflatoxin B
1
sẽ nhanh chóng được hấp thu vào tĩnh mạch vào ruột
non tá tràng.
Từ ống tiêu hóa, theo tĩnh mạch cửa, Aflatoxin tập trung vào gan nhiều nhất( chiếm
khoảng 17% lượng Aflatoxin của cơ thể) tiếp theo là ở thận, cơ, mô mỡ, tụy, lách và 80% bị
bài tiết ra ngoài trong khoảng một tuần và đáng chú ý là nó còn bài tiết qua tuyến sữa gây
bệnh cho thai nhi đang bú sữa mẹ. Chu kì bán rã trong huyết tương là 36.5 phút, lượng phân
phối là 14 % trọng lượng cơ thể, giải phóng khỏi cơ thể là 1.25 Aflatoxin M
1
chủ
yếu bài tiết trong vòng 48 giờ.
Cho đến nay, các luận chứng khoa học đã công nhận khả năng tác động lên tế bào gan
của Aflatoxin trải qua 5 giai đoạn sau:
- ức chế các men polymerase mà chúng có vai trò tổng hợp DNA và RNA.
- Làm chậm hoặc ngừng hẳn sự tổng hợp DNA.
- Ngăn cản cơ chế sinh tổng hợp RNA truyền tin.
- Biến đổi hình dạng nhân tế bào.
- Hạn chế quá trình sinh tổng hợp protein.
→ Hậu quả là gây ưng thư biểu mô tế bào gan.
Do cấu trúc hóa học có vòng dihydro-furan nên Aflatoxin B
1
, 2-
dihydrodiol.
Enzym cytochrome P450 IIIA4 vừa kích hoạt vừa giải độc AFB
1
qua quá trình trao đổi
chất, các sản phẩm tạo thành bao gồm chất chuyển hóa độc hại (epoxit) từ epoxidation và chất
15
chuyển hóa ít độc hại từ hydroxy và demethylation. Chỉ có 8,9 – exo epoxide gây đột biến còn
những sản phẩm khác đều là những sản phẩm giải độc.
Dưới sự xúc tác của enzym glutathione-S-transferase, liên hợp của epoxit và glutathione
(GSh, một tripetide nội sinh được tổng hợp từ tế bào bằng 3 amin: cysteine, glutamic và
glycine, gắn kết với các độc chất trong gan, chuyển hóa chúng và đào thải ra ngoài) được tạo
thành, làm giảm sự biến đổi DNA do epoxit gây ra, con người có ít glutathione-S-transferase
hoạt động đối với liên kết 8,9-epoxit hơn so với chuột, vì thế con người ít có khả năng giải
độc chất chuyển hóa quan trọng này.
Các epoxit AFB
1
có thể phản ứng với nito hạt nhân, các nguyên tử khác có thành phần
oxy và lưu huỳnh trong tế bào ( Guengeerich và các cộng sự 1996). Chất hoạt động mạnh này
cco1 thể kết hợp với các thành phần của DNA cụ thể là guanine để tạo ra sự biến đổi trong
DNA ( Hendrickse 1991). Đây có thể là sản phẩm quan trọng nhất gây bệnh ung thư.
Các đồng phân exo của Aflatoxin B
1
(AFB
1
) 8,9-epoxit gây đột biến bằng cách xen giữa
DNA vì hình thành một sản phẩm cộng hợp với guanine do phản ứng với các nguyên tử
7
N
của guanine. Mặc dù các epoxit thủy phân nhanh trong H
Đối với các cơ quan khác trong cơ thể, Aflatoxin ảnh hưởng đến các chuỗi vận chuyển
điện tử can thiệp vào hệ thống cytochrome- làm giảm ATP, ức chế ATP và ngăn cản sản xuất
năng lượng tế bào.
Ngoài ra, việc tăng AFB
1
– 8,9 epoxit làm tăng đáng kể lượng lipid peroxide. Peoroxy
hóa lipid màng tế bào làm mất tính trọn vẹn của màng tế bào, giới hạn hoạt động của enzym
và lý giải màng tế bào.
AFM
1
và AFG
1
hình thành glucoronide hoặc liên hợp sulphate được bài tiết trong nước
tiểu. Sản phẩm cộng hợp với DNA và Afb
1
-N7-guanine cũng được bài tiết trong nước tiểu,
Aflatoxin M
1
và M
2
được bài tiết trong sữa. Liên hợp AFB
1
-glutathione được bài tiết chủ yếu
qua mật.
Aflatoxin B
1
có độc tính gần tương đương Aflatoxin M
1
. Aflatoxin M
2
1
ức chế sự tổng hợp α-amilaza và lipaza do axit giberelic đưa vào trong các
hạt đại mạch và hạt bông đang nảy mầm.
17
2.3. Ảnh hưởng của các Aflatoxin lên động vật.
2.3.1. Tác dụng cấp tính.
Nhiễm độc cấp tính thường biểu hiện bằng cái chết của động vật với những triệu chứng
thường gặp là hoại tử nhu mo gan, chảy máu ở gan và viêm cầu thận cấp.
Dấu hiệu nhiễm độc đặc trưng nhất chỉ xuất hiện vài ngày trước khi chết. Các con vật
buồn bã, lảo đảo, một số có triệu chứng thần kinh: co giật cơ, động tác thiếu phối hợp và thân
ưỡn ngửa. Lúc chết con vật duỗi thẳng chân.
Những phá hủy có tính chất cấp tính ở gan thường là do Aflatoxin B
1
, B
2
, G
1
, G
2
, trong
đó độc tính mạnh nhất là B
1
, sau đó đến G
1
, rồi đến B
2
và sau cùng là G
2
. Bên cạnh gan, các
cơ quan khác như phổi, thận, mạc treo, túi mật…cũng bị tổn thương ít nhiều.
gan, tăng sinh biểu mô, sau đó là xâm nhiễm tế bào lympho để nhằm chống đỡ tạm thời, rồi
tiến đến sơ gan, nếu thời gian kéo dài sẽ gây ung thư gan. Nhưng bản chất của Aflatoxin
không gây ung thư mà do nó gắn vào một enzym dẫn đến ung thư, khả năng này phụ thuộc
vào sự tồn tại của nhân dihydrofuran phần 5 lacton chứa nó, do đó phần nối đôi tận cùng
difuran quan trọng trong tính độc và gây độc. chính vì vậy mà Aflatoxin B
1
bao giờ cũng gây
ung thư mạnh hơn B
2
và G
2
( do B
2
không có nối đôi nên kém độc hơn).
Ngoài ra, theo những nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học, Aflatoxin B
1
hay HBV
(viết tắt của hepatitis B virus- virut loại B) có khả năng liên kết lại với nhau, gây ung thư gan
60 lần cao hơn HBV riêng lẻ. HBV cản trở tế bào gan chuyển hóa độc tố Aflatoxin. Phức hợp
Aflatoxin M – DNA ở lâu trong gan lại làm tăng khả năng hủy hoại gen ức chế khối u, như
p53. Chính vì thế việc đồng phơi nhiễm HBV trong thời kì tiếp xúc với Aflatoxin sẽ làm nguy
cơ mắc bệnh ung thư gan tăng lên rất nhiều.
19
CHƯƠNG III: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
AFLATOXIN
3.1. Phát hiện bằng con đường lý – hóa học.
Ta có thẩ nhận biết sự có mặt Aflatoxin một cách dễ dàng nhờ một số tính chất của
chúng:
- Khử nitrat bạc amoniac, molipdat và natri tungstat.
- Trong môi trường pecloric, tạo với cacbonzon thành hợp chất cộng có màu tím
Với hệ thống 2, việc làm bão hòa và chạy sắc ký thực hiện với cùng một pha và
lần lượt kéo dài 1 giờ và 3 giờ 30 phút. Hệ thống dung môi này được sử dụng
nhiều.
Dù là hệ thống nào người ta cũng sấy ở 100
0
C trong vòng 20 phút.
20
Sắc ký cột : phương pháp cột mini nhằm xác định nhanh Aflatoxin có trong
mẫu. phương pháp này đơn giản, ít tốn kém chỉ xác định định tính. Kĩ thuật nhồi
cột mini bằng thủy tinh hay chất dẻo có kích thước khoảng 3-6mm chiều rộng và
20cm chiều dài. Loại sắc ký này thường được sử dụng. Tùy theo trường hợp mà
người ta dùng:
- Cột alumin
- Cột gel silic với chất tách là cloroform và 5% hỗn hợp metanol – cloroform.
- Cột axit silixic với chất tách là hỗn hợp cloroform : etanol (99:1).
- Cột xenluloza với chất tách là hỗn hợp hexan: cloroform (1:1)
Sắc ký lớp mỏng : đây là là phương pháp được dùng thường xuyên nhất. có thể
triển khai trong nhiều hỗn hợp khác nhau, thông thường nhất là:
- Cloroform: metanol (99:1), (98: 2), (97 : 3), (95 : 5), (93 : 7)
- Cloroform : axeton ( 90 : 10), ( 85 : 15).
- Cloroform : axeton : etanol ( 89 : 10 : 1).
- Metanol : nước : ete ( 3 : 1: 96)
- Benzen : etanol : nước (46 : 35 :19).
Thời gian triển khai thay đổi từ 45 phút hay 2 đến 3 giờ. Người ta thường khuyên nên
hoạt hóa bằng nhiệt vì việc chuyển dịch dung môi ở nhiệt độ thấp chậm hơn. Rỏ ràng là Rf
của các Aflatoxin khác nhau biến đổi tùy theo điều kiện làm sắc ký.
Đối với sắc ký lớp mỏng, người ta thường dùng alumin, bột xenluloza hoặc gel poliamit
làm giả.
Một điểm rất quan trọng nữa là các lớp mỏng phải thật sự bão hòa trước trong bình, nơi
sắc ký sẽ triển khai. Sự bão hòa này phải đủ lâu để được hoàn toàn, nhưng không được kéo
định sai lệch. Phương pháp khẳng dịnh sự có mặt của Aflatoxin trực tiếp thực hiện trên bản
sắc ký. Dựa vào sự biến đổi của Aflatoxin thành các đồng phân có màu huỳnh quang khác so
với huỳnh quang ban đầu cả Aflatoxin chuẩn và Aflatoxin có trong mẫu phân tích đều chuyển
sang cùng một đồng phân. Thử nghiệm khẳng định sự có mặt của Aflatoxin trong mẫu phân
tích được phát hiện bởi Przybylski (1975) và Verhulsdonk (1977) và được hội phân tích hóa
học Hoa Kì (A.O.A.C) công nhận.
Aflatoxin B
1
được axit hóa để trở thành đồng phân Aflatoxin B
2
. Đồng phân này có màu
huỳnh quang màu xanh và có độ dài R
f
thấp hơn so với độ chuyển thành Aflatoxin B
2
nhờ axit
Tryloacetic (TFA) phun trực tiếp lên các bản mỏng trước khi chạy trên dung môi chạy. axit
sunfuric làm thay đổi màu huỳnh quang xanhda trời của Aflatoxin B
1
thành màu vàng. Thử
nghiệm này nhằm khẳng định sự không có mặt của Aflatoxin nếu vết nghi ngờ không chuyển
thành màu vàng.
3.2. các phương pháp định lượng.
Mặc dù các quy trình luôn luôn thay đổi, nhưng các bước cơ bản vẫn giữ nguyên, bao
gồm: chiết xuất, loại trừ mỡ, làm sạch, phân tích và định lượng.
sự phối hợp các kĩ thuật chiết xuất lỏng và dẫn đến phương pháp được sử dụng rộng
rãi nhất ngày nay là phương pháp CB ( contamination branch) của Epp;ey. Phương pháp BF
(best food) nhanh và kinh tế hơn, nhưng làm sạch kém hơn cũng đã được triển khai. Việc định
22
tính và định lượng các Aflatoxin có thể thực hiện bằng kĩ thuật sắc ký bản mỏng, sắc ký lỏng
, G
1
, G
2
ở nồng độ 5pg.
Davis (1980) cũng sử dụng pha phản để xác định huỳnh quang của đồng phân iot của
Aflatoxin B
1
. Kết quả phát triển phương pháp đồng phân cột.
23
3.3. Xét nghiệm ở người.
Hiện tại có 2 phương pháp thường được sử dụng để phát hiện mức độ nhiễm Aflatoxin
ở người. Phương pháp đầu tiên là tính lượng phức AFB
1
-guanine trong nước tiểu. sự có mặc
của các phân tử nhỏ hơn chỉ ra rằng có sự tồn tại Aflatoxin trong vòng 24 giờ. Tuy nhiên
phương pháp này dựa trên thời gian bán hủy của sự chuyển hóa, mức độ AFB
1
-guanine tính
được có thể thay đổi theo từng ngày, vì vậy nó chắc chắn không phải là phương pháp tốt để
xác định hàm lượng Aflatoxin đối với sự phơi nhiễm trong thời gian dài. Một phương pháp
khác là tính lượng phức AFB
1
-alumin trong huyết thanh. Cách tiếp cận này tính được lượng
Aflatoxin phơi nhiễm sau thời gian vài tuần đến vài tháng.
KẾT LUẬN
Aflatoxin là độc tố do nấm mốc sinh ra. Tron đó có họ Aflatoxin thì có độc tố Aflatoxin
B
1
, B
nông sản thực phẩm.
ở nước ta quy định về hàm lượng Aflatoxin tối đa cho phép ở thực phẩm cho người là
5ng/g (ppb) đối với Aflatoxin B
1
và 10ng/g đối với Aflatoxin tổng số
đối với trẻ em không được phép có Aflatoxin.
ở việt nam các phương pháp phân tích độc tố Aflatoxin đã được sử dụng rộng rãi như
phương pháp bản mỏng, phương pháp sắc kí lỏng cao áp…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Moreau Claude, Đặng Hồng Miên(dịch), “ Nấm Mốc Độc Trong Thực Phẩm” NXB khoa
học kỹ thuật, 1980.
[2]. Viện công nghệ sinh học và thực phẩm- Trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí
minh,” An Toàn Và Vệ Sinh Thực Phẩm” NXB đại học công nghiệp tp. HCM, 2008.
25