Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: Đạo Công giáo ở Thanh Hóa 5
1.1. Sự du nhập và phát triển đạo Công giáo ở Thanh Hóa 5
1.1.1. Vài nét về đạo Công giáo và quá trình du nhập đạo Công
giáo ở Việt Nam
5
1.1.2. Quá trình truyền bá và phát triển đạo Công giáo ở Thanh Hóa 15
1.2. Tình hình đạo Công giáo ở Thanh Hóa hiện nay 22
Chơng 2: Đạo đức tín đồ Công giáo ở Thanh Hóa
hiện nay dới ảnh hởng của đạo Công
giáo và những giải pháp chủ yếu nhằm
phát huy những giá trị tích cực, hạn
chế những biểu hiện tiêu cực của nó
35
2.1. Đời sống đạo đức của tín đồ Công giáo ở Thanh Hóa hiện nay 35
2.1.1. Những giá trị tích cực trong đời sống đạo đức của tín đồ
Công giáo ở Thanh Hóa dới ảnh hởng của đaọ Công giáo
hiện nay
35
2.1.2. Một số biểu hiện tiêu cực trong đời sống đạo đức của tín đồ
Công giáo ở tỉnh Thanh Hóa dới ảnh hoửng của đạo Công
giáo hiện nay
44
2.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những giá trị tích
cực và hạn chế những biểu hiện tiêu cực trong đời sống đạo
đức của tín đồ Công giáo ở Thanh Hóa
52
2.2.1. Một số quan điểm chỉ đạo 52
2.2.2. Những giải pháp chủ yếu 54
tiêu cực của đạo đức tín đồ Công giáo trong sự nghiệp đổi mới đất nớc là
một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay ở nớc ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh h-
ởng của các tôn giáo đề cập đến sự ảnh hởng của nó đối với các lĩnh vực
của đời sống xã hội (xem: "Sự thống nhất giữa "Kính chúa" và "Yêu nớc"
trong t tởng Đặng Đức Tuấn. Triết học, số 2 tháng 4/2000.(Đỗ Lan Hiền)"
"Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại" (5.01.01); "Góp phần tìm hiểu đạo
đức trong kinh thánh" (5.01.01); "Vận dụng quan điểm khoa học về tôn
giáo trong công tác đối với Thiên Chúa giáo hiện nay ở Việt Nam"
(5.01.02), "Khía cạnh nhân văn của giáo lý Thiên Chúa giáo và công tác
xây dựng nếp sống mới ở vùng đồng bào Thiên Chúa giáo" (5.01.01);
"Công tác vận động quần chúng theo đạo Thiên Chúa ở miền Bắc nớc ta
hiện nay" (5.03.14); "Một số vấn đề về lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt
Nam" (Đỗ Quang Hng), "Bớc đầu của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam" (Sự
phát triển của t tởng ở Việt Nam) - của Giáo s Trần Văn Giàu; "Đời sống
đạo của ngời dân công giáo ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh" (Nguyễn Hồng Dơng); "Thập giá và lỡi gơm" (Trần Tam Tĩnh); "ảnh
hởng của các hệ t tởng và tôn giáo đối với con ngời Việt Nam hiện nay" (Đề
tài KX.07.03)."Những quan điểm đổi mới và hoàn thiện chính sách tôn
giáo và tín ngỡng của nớc ta hiện nay" (KX.04.13) Và nhiều công trình
nghiên cứu khác của Trung tâm khoa học về Tín ngỡng và Tôn giáo - Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Trung
tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, các trung tâm nghiên cứu của
Giáo hội Công giáo, ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam ). Dới các góc
độ khác nhau, các công trình nghiên cứu đó đã đặt ra và giải quyết nhiều
vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách, góp phần cung cấp cơ sở
4
khoa học cho chủ trơng đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc ta đối
với tôn giáo trong mỗi giai đoạn cách mạng, nhất là trong công cuộc đổi
lọc một số công trình nghiên cứu của nhiều tác giả có liên quan đến nội
dung của luận văn.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Góp phần tìm hiểu về lịch sử đạo Công giáo ở Thanh Hóa, chỉ ra
ảnh hởng của đạo Công giáo đối với đạo đức của tín đồ Công giáo trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Bớc đầu đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực của đạo đức tín đồ Công giáo ở tỉnh Thanh Hóa trong quá
trình đổi mới của địa phơng và đất nớc để góp phần xây dựng nền văn hóa
mới, con ngời mới xã hội chủ nghĩa.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Những vấn đề đặt ra và giải quyết trong luận văn này trớc hết là
phục vụ cho công tác vận động đồng bào Công giáo của địa phơng. Có thế
làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu có nội dung liên quan đến
nội dung của luận văn này và làm tài liệu cho sinh viên các Trờng đại học,
cao đẳng, khi nghiên cứu về ảnh hởng của đạo Công giáo đối với đạo đức
tín đồ ở Thanh Hóa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm có 2 chơng, 4 tiết.
6
7
Chơng 1
Đạo Công Giáo ở Thanh hóa
Đạo Công giáo là một tôn giáo có đối tợng thờ cúng là Đức chúa
Trời và đấng cứu thế Giêsu, với hệ thống giáo lý đồ sộ và bộ máy hết sức
chặt chẽ.
Với t cách là một tôn giáo thế giới điển hình, đạo Công giáo có mặt
ở nhiều nớc trên thế giới trong đó có Việt Nam. Quá trình hình thành, tồn tại
và phát triển của đạo Công giáo vô cùng phức tạp. Trong phạm vi đề tài này,
Trong bối cảnh đó, một tôn giáo mới, với mong muốn cứu rỗi những ngời
cùng khổ xuất hiện, do Kitô sáng lập nên gọi là đạo Kitô, còn gọi là đạo Cơ
đốc giáo.
Sự hởng ứng của quần chúng theo đạo này đã làm cho bọn thống trị
lo sợ, chúng cấm đoán, đàn áp, tớc đoạt cả tài sản vì chúng coi đây là một
thứ đạo mới chống lại chính quyền. Trong hàng ngũ những ngời Kitô giáo
đầu tiên cũng có những ngời thuộc tầng lớp trên bị phá sản và dần dần họ
cũng đứng trong hàng ngũ giáo sĩ của đạo này. Những ngời này giải thích
sự khốn cùng là do tội lỗi mà ra. Họ làm cho ông Chúa mà quần chúng
mong chờ trớc kia thành ông Chúa xuống trần chuộc tội cho loài ngời ở đời
sau. Họ không chống đối bọn thống trị nữa mà lại thần thánh hóa uy quyền
chúng bằng cách kêu gọi quần chúng hãy tuân theo chính quyền vì chính
quyền là do Thợng đế sinh ra (Kinh thánh của Phao-Lô).
Đến thế kỷ thứ IV, vua Công-stăng- tanh thấy đạo này có lực lợng
và có thể lợi dụng đợc nên không còn cấm đoán mà cho đợc bình đẳng với
tôn giáo của Đế quốc Rôma. Sau đó Kitô giáo đợc nhận là Quốc đạo và bảo
vệ đế quốc Rôma. Từ đó về sau Kitô giáo không còn là tôn giáo của những
ngời nghèo khổ nữa, mà trở thành công cụ bảo vệ chế độ ngời bóc lột ngời,
9
dựa vào bọn thống trị để mu lợi và có lúc đã mu đồ nắm cả bọn vua chúa
thế tục ở Châu Âu; điển hình là Công giáo tự coi mình là chính thống giáo
của Kitô, có tòa thánh Vaticăng ở Rôma do giáo Hoàng đứng đầu, là ngời
thay mặt Chúa trời để chăn dắt con chiên, tín đồ của Chúa.
Hiện nay đạo Công giáo có mặt ở nhiều nớc trên thế giới với gần
một tỷ tín đồ với một hệ thống giáo lý, giáo luật đồ sộ. Đây là một tôn giáo
điển hình có hệ thống tổ chức đợc hình thành sớm, chặt chẽ, từ trên xuống
dới. Có ảnh hởng to lớn trong đời sống xã hội của nhiều quốc gia, dân tộc,
trong đó có Việt Nam. Bởi Giáo hội coi việc truyền giáo là một sứ mệnh tự
thân đi mở nớc Chúa, cũng nh thực hiện lời dạy của Chúa "Các con hãy đi
dạy đạo và rửa tội cho mọi quốc gia nhân danh Cha, và Con, và các Thánh
ở Đàng ngoài và hai vạn ở Đàng trong nhng cha có linh mục ngời Việt
Nam. Đây cũng là giai đoạn Công giáo muốn phát triển trên toàn thế giới.
Với ý đồ đó, các nhà truyền giáo tìm mọi cách để truyền đạo. Mặc dù đạo
Công giáo, với t cách là một tôn giáo thế giới, với tính chất nhất thể chế, lại
là một sự cỡng bức văn hóa. Đó chính là điểm yếu của Công giáo, mãi
nhiều thập kỷ Giáo hội Rôma mới khắc phục đợc. Đặc biệt ở phơng Đông
là nơi có nhiều tín ngỡng tôn giáo, giàu truyền thống văn hóa nên cũng là
một cản trở lớn đối với Công giáo. Ngay từ buổi đầu đối với các dân tộc ph-
ơng Đông nói chung, Việt Nam nói riêng thì đó là sự phản ứng về văn hóa,
sự phản ứng về tôn giáo, nhất là phản ứng của Tam giáo đồng nguyên, phản
ứng của tập tục thờ cúng Tổ tiên, mà Công giáo vấp phải. Điều đó buộc
Giáo hội Công giáo có một sự thỏa hiệp nhất định. Trải qua một thời gian
khá lâu, Giáo hội Công giáo buộc phải có sự "nhợng bộ" nhất định. Đặc
biệt là trớc khi họ trở thành tín đồ Công giáo thì họ là ngời Việt Nam, nên
tín ngỡng tôn giáo, truyền thống văn hóa, đạo đức, lối sống đã thấm sâu
trong t tởng họ. Dẫn đến có sự đấu tranh t tởng gay gắt và quyết liệt khi
theo đạo Công giáo, bên cạnh đó có sự ngăn cấm của chính quyền phong
11
kiến đối với Công giáo khi vào Việt Nam. (Mãi đến năm 1937, Tòa thánh
Vatican mới có sắc chỉ cho phép đợc thờ cúng Tổ tiên với những quy định
cụ thể). Nh lời nhận xét của Linh mục Léopold Cadiere "Tôi nghiên cứu tín
ngỡng, các thực hành nghi lễ tôn giáo, phong tục, tập quán của họ và phải
thừa nhận rằng, ngời dân Việt Nam rất sâu sắc về tôn giáo, tín ngỡng của họ
trong sáng và khi họ cầu cứu đến trời, tế tự trời cũng có thể họ cũng đến với
một đấng Toàn năng mà chính tôi đang thờ kính và gọi bằng Chúa" [38.13].
Cho đến 1658-1945 là giai đoạn của Giáo hội Pháp thông qua Hội
truyền giáo nớc ngoài FARI (MEP), ở Việt Nam. Đây là giai đoạn công
cuộc truyền đạo phải trả bằng máu, vì đây không chỉ là sự đụng độ giữa hai
nền văn minh Đông Tây, mà chủ yếu còn là sự đụng độ giữa tinh thần yêu
nớc chống xâm lợc của nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc thực dân
năm 1850 cả nớc có 500.000 ngời theo Công giáo [ 43.98 ]; năm 1668 có
ngời Việt Nam đầu tiên đợc phong linh mục. Đến năm 1799 Việt Nam có
70 linh mục và đến năm 1884 các giáo phận đã tăng lên 8 giáo phận trong
đó Đàng ngoài có 5 giáo phận và Đàng trong có 3 giáo phận.
Từ năm 1885-1945 là thời kỳ Việt Nam bị thực dân Pháp xâm
chiếm và trở thành thuộc địa của Pháp. Thực dân Pháp trao cho giáo sĩ
nhiều đặc quyền, đặc lợi. Vai trò của giáo hội đợc đề cao, thế lực của các
giáo sĩ trong xã hội ngày càng lớn, số lợng tín đồ tăng nhanh, các cơ sở thờ
tự đợc triển khai xây dựng ngày một nhiều. Trong khi đó nội bộ giáo hội có
sự phân biệt đối xử giữa ngời nớc ngoài và ngời bản xứ, các giáo sĩ Việt
Nam không muốn lệ thuộc giáo sĩ nớc ngoài. Năm 1933 mới có giám mục
ngời Việt Nam đầu tiên là Nguyễn Bá Tòng. Đây là cột mốc đánh dấu sự
phát triển thắng lợi của Công giáo ở Việt Nam. Kết quả có 1,5 triệu tín đồ,
chiếm 7% dân số cả nớc, đợc chia thành 11 giáo phận, gần 1000 linh mục,
gần 4000 nữ tu, mở gần 1000 trờng học thu hút khoảng 70.000 học sinh, uy
thế công giáo lên cao, các xứ đạo, các cơ sở thờ tự, tu hành đợc mở mang
13
sửa chữa, chiếm hữu nhiều ruộng đất, đồn điền và nhà cửa kinh doanh,
Thu hút đợc nhiều tân tòng làm cho việc đi mở rộng nớc Chúa không còn
gặp trở ngại gì [43.155]. Đến năm 1942-1945 có xấp xỉ 2 triệu tín đồ, đợc
phân chia thành Giáo hội cả nớc, giáo hội tỉnh, giáo phận và giáo xứ. Giáo
hội luôn luôn rao giảng cho tín đồ sống thiện, tránh xa điều ác, về Thiên đ-
ờng địa ngục Nhng thực tế, đợc sự dung túng của thực dân Pháp họ lại
làm những điều phi đạo đức, gắn chặt với chủ nghĩa thực dân về mục đích
chính trị, kinh tế. Đến năm 1945-1975 là giai đoạn Bác Hồ và Đảng cộng
sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành đợc chính quyền, đánh
đuổi thực dân Pháp, trong nội bộ Công giáo hết sức phức tạp, diễn ra sự
đụng độ và phân rẽ. Nhất là từ 1945- 1954 là thời kỳ có sự đụng độ giữa
giáo hội và cộng sản, Thực chất là sự đụng độ giữa bọn thực dân Pháp và
giáo hội với cuộc đấu tranh chống xâm lợc của nhân dân Việt Nam do Đảng
có tới 50 vạn ngời Công giáo, làm cho ở miền Nam chiếm 2/3 giáo dân toàn
quốc. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã dùng giáo dân tạo ra một vành đai
chiến lợc ở các vùng trọng yếu chống cộng nh ở Hố Nai, Biên Hòa để bảo
vệ chế độ thực dân mới của Mỹ - Diệm. Chính quyền của Ngô Đình Diệm
có tham vọng Công giáo hóa miền Nam. Điều này không phải không có cơ
sở, ngay từ thời vua Tự Đức, ngời Pháp định đa Hồng Bảo là ngời Công
giáo lên làm Vua (Hồng Bảo là anh em với Tự Đức), nhng Tự Đức phát hiện
ra và đã bóp chết mu đồ đó (1876). Đến thời Bảo Đại thực dân Pháp cũng
nuôi dỡng mối tình của ông với Nam Phơng Hoàng hậu vì bà ta là ngời
Công giáo, Bảo Đại đã phá lệ của triều Nguyễn, kết hôn với Nam Phơng
Hoàng hậu. Bởi vì nhà Nguyễn cấm vua không đợc lấy vợ là ngời Công
giáo hoặc nếu lấy chỉ đợc làm Phi. Khi Mỹ hất cẳng Pháp, đa Ngô Đình
Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ lên làm Tổng thống miền Nam cộng hòa,
Công giáo lên ngôi, chế độ gia đình trị của Diệm dựa vào Công giáo để
15
củng cố quyền lực. Trong quân đội, cấp bậc từ đại úy trở lên phải là ngời
Công giáo. Trong hệ thống chính quyền, hầu hết các vị trí chủ chốt đều là
ngời Công giáo. Điều đó trớc mắt có lợi cho Mỹ - Diệm, nhng lại làm cho
Giáo hội Công giáo ở miền Nam uy tín bị tổn thơng, vì nó đi ngợc lại
truyền thống yêu nớc, chống xâm lợc của nhân dân Việt Nam. Chủ trơng
Công giáo hóa của Mỹ - Diệm cuối cùng cũng bị thất bại. ở miền Bắc, một
bộ phận tín đồ Công giáo bị t tởng chống cộng của giáo hội đầu độc cũng tỏ
thái độ tiêu cực với công cuộc kháng chiến chống Mỹ và bảo vệ, xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Nhng thông qua công tác vận động quần chúng của Đảng,
cũng nh đợc sự ủng hộ của nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình, trong đó
có nhân dân Mỹ và các tổ chức Công giáo Mỹ đối với cuộc kháng chiến
chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, làm cho giáo dân giác ngộ, khắc phục
đợc thái độ tiêu cực của một bộ phận giáo dân. Giáo hội Việt Nam vẫn phụ
thuộc vào Rôma. Mãi đến năm 1960 Giáo hội Rôma mới chấm dứt thời kỳ
Tông tòa ở Việt Nam, nâng lên tầng chính thức hàng giáo phẩm Việt Nam.
Địa phận Bùi Chu.
Nh vậy, có thể nói rằng hiện nay khoảng 6-7% dân số ngời Việt
Nam theo đạo Công giáo. Đạo Công giáo nằm rải rác ở hầu hết các địa ph-
ơng trong cả nớc, trong đó có Thanh Hóa, đã và đang có ảnh hởng đến
nhiều mặt của đời sống xã hội, nhất là đạo đức của tín đồ Công giáo trong
tình hình hiện nay. Để đánh giá đúng tình hình của đạo Công giáo ở Thanh
Hóa hiện nay, trớc hết chúng ta cần lợc qua quá trình du nhập và phát triển
đạo Công giáo ở địa phơng này.
1.1.2. Quá trình truyền bá và phát triển đạo Công giáo ở
Thanh Hóa
17
Thanh Hóa là một tỉnh lớn, có một vị trí chiến lợc rất quan trọng, là
nơi giao hòa trên nhiều phơng diện giữa đồng bằng Bắc bộ và Trung bộ.
Bắc tỉnh Thanh Hóa giáp ba tỉnh của Bắc bộ là Hòa Bình, Sơn La và
Ninh Bình với đờng ranh giới dài 175 km. Phía Tây, tỉnh Thanh Hóa nối
liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn của nớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Phía Nam và phía Tây Nam giáp tỉnh Nghệ An làm thành vùng Thanh - Nghệ
truyền thống với chiều dài ranh giới là 160 km. Phía Đông, Thanh Hóa mở
rộng ra phần giữa của vịnh Bắc bộ thuộc biển Đông, có bờ biển dài trên 102
km. Phần đất liền của Thanh Hóa chạy dài theo chiều từ Tây Bắc xuống
Đông Nam. Diện tích tự nhiên 11.168 km
2
. Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ
XVII dân số Thanh Hóa có 7.660 hộ gia đình với 67.071 ngời, gồm có tám
dân tộc: Kinh, Mờng, Thổ, Thái, Dao, Hoa, Khơ mú và Hmông [22.324].
Có thể nói, Thanh Hóa rừng núi bao bọc cả ba phía Tây, Nam, Bắc
và Biển bao bọc phía Đông. Đờng từ Bắc vào Nam phải vợt qua dãy núi
Tam Điệp và dãy núi Thắng, rừng Hoàng Mai. Các dấu vết đờng cổ xa hiện
nay vẫn còn hình dung đợc, ngoài con đờng Thiên lý Bắc Nam, còn có con
đờng thợng đạo xuyên rừng vợt núi, qua các khúc sông thuộc hệ thống sông
nhân dân hết sức khó khăn, chủ yếu là sống tự cung tự cấp, lại bị thiên tai,
lũ lụt triền miên, ốm đau bệnh tật nhiều. Đầu thế kỷ XVII, Trịnh - Nguyễn
phân tranh làm cho đời sống nhân dân vốn đã khó khăn lại càng khó khăn
hơn cả về vật chất lẫn tinh thần. Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ chiếm
đại đa số, trong nhân dân còn nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị
đoan, làm cho con ngời nhiều khi bất lực, sợ hãi trớc tự nhiên và cuộc sống.
Đó chính là những điều kiện thuận lợi để cho đạo Công giáo xâm nhập vào
Thanh Hóa.
Sự du nhập và phát triển đạo Công giáo ở Thanh Hóa là một quá
trình đầy khó khăn gian khổ, với nhiều nét riêng biệt của nó. Theo Tòa
19
giám mục Thanh Hóa, ngời ta tìm thấy cuốn gia phả "Đỗ tộc gia phả" ở
Bồng Trung, Kẻ Bền, giáo phận Thanh Hóa (nay là thôn bồng Trung, xã
Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Theo tài liệu này, Cụ Đỗ Hng Viễn ng-
ời con thứ hai của cụ Đỗ Biểu, một vị quan lớn của triều đình thời Lê An
Tôn (1556-1573), đã tiếp xúc với con buôn tàu Hòa Lan và theo đạo Hòa
Lan. Cũng theo tài liệu trên, ông trởng chi trong dòng họ Đỗ tộc là Đỗ
Cảnh, là một tớng công triều đình. Con trai trởng của cụ là Đỗ Viên Mãn
(khoảng 1627-1643), cũng theo đạo Hòa Lan, khi tàu buôn ngoại quốc dạt
vào cửa Bạng (Ba Làng). Nh vậy, có thể ông Đỗ Hng Viễn là tín hữu đầu
tiên của Việt Nam. Theo tài liệu của giáo phận Thanh Hóa, vào ngày 19
Tháng 3 năm 1627, một thuyền buôn ngời nớc ngoài dạt vào Lạch Bạng (Xã
Hải Thanh, Huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa bây giờ). Trên thuyền có một giáo
sĩ tên là Alexandre de Rhodes, lập lều, đóng cây thánh giá ở núi Du Xuyên
để đi truyền đạo. Ông giúp ngời nghèo chữa bệnh, bảo vệ ngời dân khi quan
lại ức hiếp, khuyên giải họ làm điều thiện, tránh xa điều ác. Bởi thế, mỗi
khi ông giảng đạo đợc rất nhiều ngời dân xung quanh núi Du Xuyên đến
nghe. Nhng trong số đó chỉ có ba ngời ở địa phơng này chịu phép rửa tội.
Ông tiếp tục đi ra Bắc. Vì chỉ có ba ngời nên đạo Công giáo không phát
triển đợc, lại bị đạo Phật lúc bấy giờ lấn át. ở Đàng ngoài ngày 18 tháng 6
Ninh Bình và Thanh Hóa, làm thành địa phận Thanh. Đến năm 1924, địa
phận Thanh đổi tên là địa phận Phát Diệm. Lúc này đức cha Alexandre
Marcou là giám mục tiền khởi của địa phận Thanh (Thanh Hóa và Ninh
Bình). Ngài quyết tâm thực hiện ý muốn của Tòa thánh để có những giám
mục Việt Nam trông coi những giáo phận Việt Nam. Ngài đã chuẩn bị các
điều kiện để giáo phận Phát Diệm tách làm hai, giáo phận này chỉ còn lại
trong tỉnh Ninh Bình, còn Thanh Hóa và Châu Lao (một tỉnh Hủa Phăn của
Lào bây giờ) làm thành giáo phận mới, có Tòa giám mục tại Thanh Hóa,
nên gọi là giáo phận Thanh Hóa. Mãi cho đến ngày 7/ 05/ 1932 Tòa thánh
21
mới ký sắc lệnh thành lập giáo phận, Đức cha Louis de Cooman Giám mục
phó Phát Diệm đợc cử làm giám mục tiền khởi của giáo phận Thanh Hóa và
ngày 12/9/1932 Đức cha đã đến nhận giáo phận Thanh Hóa. Theo số liệu
của Tòa giám mục Thanh Hóa lúc đó đã có 26 Cha thừa sai, 48 linh mục
Việt Nam, 82 Thầy giảng và 18 giáo xứ gồm Thanh Hóa, Ba Làng, Phúc
Lãng, Liên Nghĩa, Nhân Lộ, Phong ý, Mỹ Điện, Thái Yên, Mục Sơn, Dơng
Giáo, Kẻ Bền, Ngọc Cao, Vân Lung, Kẻ Láng, Kẻ Rừa, Tam Tổng, Điền Hộ
và Tân Hải, với số lợng Giáo dân khoảng 45000 ngời. Trong đó có 5000 ng-
ời là ngời dân tộc thiểu số chủ yếu là ngời Mờng, trên tổng số dân lúc bấy
giờ là 1500.000 ngời. Về cơ sở có một chính tòa, một Tòa giám mục (Nhà
chung), một trờng tiểu chủng viện đào tạo linh mục cho Châu Lào tại Mục
sơn (Hữu lễ), xây năm 1918, một trờng tập ở Ba Làng huyện Tĩnh Gia trở
thành tiểu chủng viện, và 4 dòng: dòng Kín, dòng Mến thánh giá, dòng Đức
Bà truyền giáo và dòng Phanxicô. Ngoài ra địa phận mới cũng có những cơ
sở làm công tác từ thiện, nhân đạo nh trại phong, một nhà thơng và một nhà
Dục Anh. Sau này có thêm Trờng trung học nhà chung, trớc khi có cơ sở
mới và lấy tên là trờng Vĩnh Ký. Bảy năm sau, đến năm 1939 đây vẫn là
thời kỳ Thanh Hóa cũng nh bao địa phơng khác, vẫn nằm dới sự thống trị
của thực dân Pháp. Tuy lúc này Việt Minh ở địa phơng đang hoạt động
mạnh, có nhiều chi bộ ra đời, làm cho công cuộc truyền giáo gặp rất nhiều
với 18.500 giáo dân. Giáo phận Thanh Hóa chỉ còn lại có 27 linh mục, 15
đại chủng sinh, 70 tiểu chủng sinh, 50 nữ dòng Mến thánh giá Thanh Hóa
và khoảng 47.000 giáo dân.
Đến thời kỳ chống Mỹ cứu nớc, với đờng lối đúng đắn, sáng tạo,
Đảng đã tổ chức, động viên nhân dân ở cả hai miền Nam Bắc tiến hành
cuộc kháng chiến thần thánh đấu tranh giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Tinh thần yêu nớc, chống Mỹ của nhân
23
dân đợc phát động trong cả nớc cũng nh ở Thanh Hóa; không chỉ đồng bào
lơng mà cả đồng bào Công giáo cũng tích cực tham gia kháng chiến theo
tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Đế quốc Mỹ đã tiến hành chiến tranh
phá hoại ra miền Bắc. Chúng bắn phá cả trờng học, nhà thờ, tu viện. Tòa
giám mục Thanh Hóa cũng bị máy bay Mỹ oanh tạc, nhiều nhà thờ Công
giáo trên địa bàn Thanh Hóa bị phá hoại, gây bao khó khăn, mất mát cho
cuộc sống cả đạo lẫn đời. Năm 1975 nớc nhà hoàn toàn giải phóng, cả nớc
đi lên chủ nghĩa xã hội, nhng hậu quả chiến tranh còn nặng nề. Cho đến khi
Đảng khởi xớng công cuộc đổi mới đất nớc, đổi mới chính sách tôn giáo thì
Công giáo lại có chiều hớng phát triển. Nhiều tín đồ nhạt đạo, khô đạo, bỏ
đạo hoặc không tham gia hoạt động lễ nghi do nhà thờ tổ chức đã trở lại
hoạt động; các cơ sở thờ tự đợc sửa chữa lại khang trang, quy mô hơn.
Trong bối cảnh ấy nhà thờ cũng đa ra nhiều yêu sách với chính quyền đòi
lại các nhà nguyện, các cơ sở vật chất trớc chiến tranh, tranh giành quần
chúng với các đoàn thể của ta. Dới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ và
chính quyền tỉnh Thanh Hóa, với sự tham mu của các ban ngành chức năng,
chúng ta đã giải quyết ổn thỏa nhiều vấn đề cụ thể. Mặt khác, các hình thức
sinh hoạt của đạo Công giáo cũng đang dần dần thay đổi, điều chỉnh làm
cho đạo gần đời hơn và sống phúc âm trong lòng dân tộc.
Qua sự trình bày trên chúng tôi có một số nhận xét sau:
Với địa bàn tỉnh Thanh Hóa, từ điều kiện địa lý tự nhiên cho đến
kinh tế- văn hóa xã hội và con ngời vào đầu thế kỷ XVII nh vậy là điều
riêng năm 2000 ớc đạt 7,9% (theo kế hoạch 6,6%). GDP đầu ngời tăng từ
172 USD năm 1991 lên 286,4 USD năm 2000. Dự kiến tổng GDP năm 2000
tăng gấp 1,93 lần so với năm 1990 trong đó nông nghiệp tăng 1,43 lần,
công nghiệp tăng 2,87 lần, dịch vụ tăng 2,21 lần.
25