Châm cứu cổ điển và hiện đại (Phần 1) - Học thuyết kinh lạc
Giáo sư-Bác sĩ Quan Đông Hoa
Nguyên chủ nhiệm khoa Đông Y Đại Học Cần Thơ
III/ Học thuyết kinh lạc
Theo Y học dân tộc kinh lạc và tạng phủ là những thành phần chính trong cơ
thể con người. Giữa Kinh lạc và tạng phủ có mối liên hệ mật thiết: Mỗi tạng hoặc
mỗi phủ đều có mối liên quan với một đường kính, rồi sự liên lạc giữa tạng phủ
với nhau hoặc với tổ chức khác đều phải thông qua Kinh lạc.
Vậy Kinh lạc là gi? Đó là những con đường lưu thông vận hành khí huyết,
đường chính gọi là kinh, đường nhánh gọi là lạc. Kinh lạc chằng chịt khắp cơ
thể, cả trong, ngoài, trên, dưới làm thành một hệ thống liên lạc khắp toàn thân.
Toàn bộ hệ Kinh lạc gồm có:
Phần chính của hệ kinh lạc là 12 kinh chính và 2 mạch Nhâm Đốc gộp lại thường gọi
là 14 kinh.
1/ Đường đi của Kinh lạc
Khí vận chuyển của các đường kinh theo trình tự nhất định. Khí bắt đầu từ trung tâm
đi vào kinh Thủ thái âm phế lần lượt đi qua các kinh, cuối cùng tới kinh Túc quyết âm
can rồi trở về kinh Thủ thái âm phế.
Năm 1978 Nguyễn Xuân Tiến, nhà nghiên cứu châm cứu đã giới thiệu một sơ đố
đường tuần hành khí trong 12 kinh phù hợp với lý thuyết âm dương của Y học dân
tộc.
Trong riêng từng đường kinh cuộc hành trình củ khí cũng theo một quy tắc nhất
định, nhìn tổng quát thì:
3 kinh âm ở tay bắt đầu từ ngực qua phía trong chi tới tay nối tiếp với 3 kinh dương
ở tay.
3 kinh dương ở tay bắt đầu từ vùng bàn tay, đi lên mặt dưới cánh tay tới vùng đầu,
nối với 3 kinh dương ở chân.
3 kinh dương ở chân bắt đầu từ đầu qua thân mình xuống chi dưới tới bàn chân nối
tiếp 3 kinh âm ở chân.
3 kinh âm ở chân từ bàn chân qua mé trong chi dưới đin lên qua bụng tới ngực lại nối
tiếp với 3 kinh âm ở tay.
các huyệt đôi thì Tổng cộng là 670 huyệt.
3/ Tác dụng tổng quát trị bệnh là:
a/ Nơi kinh lạc đi qua trị bệnh tại nơi đó.
b/ Các huyệt phần đầu mặt phần lớn trị bệnh tại cục bộ nhưng có một số huyệt như
Bách Hội, Nhân trung, Tố liêu, Phong phủ trị chứng bệnh tâm thần.
c/ Các huyệt ở thân mình không những trị bệnh tại chỗ mà còn có tác dụng đối với
toàn thân. Như huyệt vùng ngực bụng trị được ba65nh tại chỗ, bệnh nội tạng, bệnh
cấp. Huyệt vùng lưng trị bệnh tại chỗ, bệnh nội tạng, bệnh mãn tính. Các huyệt như
Đản trung, Quan nguyên, Khí hải, Đại chung, Mệnh môn, Thận du còn trị bệnh toàn
thân.
d/ Các kinh dương ở tay chân: Các huyệt ở mu bàn chân, bàn tay đều có thể trị các
chứng bệnh ở đầu mặt, ngũ quan, bệnh sốt và bệnh tâm thần. Các huyệt ở cẳng tay,
cẳng chân đều có thể trị các bệnh tạng phủ bao gồm các bệnh ở ngực, bụng, lưng
mà phần lớn các huyệt của các kinh dương ở bàn tay còn có thể trị được bệnh ở vai
lưng, cổ đầu mặt. Các huyệt ở cánh tay đùi, trị các bệnh tại cục bộ.
e/ Các kinh âm ở tay chân: Các huyệt ở lòng bàn tay bàn chân đều trị các bệnh ở
họng, ngực, phổi, bệnh tâm thần nhưng một số huyệt ở các kinh âm ở chân còn trị
bệnh của hệ tiết niệu sinh dục, bệnh can tỳ thận – các huyệt ở cẳng tay cẳng chân trị
bệnh 5 tạng trong đó huyệt của các kinh âm ở tay trị bệnh: tâm phế, tâm bào, huyệt
của các kinh âm ở chân trị bệnh can, tỳ, thận, làm chính. Nói chung các huyệt ở cánh
tay, đùi trị các bệnh tại chỗ.
f/ Các huyệt thuộc tạng phủ ngoài việc điều trị các tạng phủ đó còn có thể trị bệnh
các tạng phủ biểu lý tương ứng.
4/ Thực chất hệ kinh lạc:
Kinh lạc là một vần đề được tranh luận sôi nổi nhất hiện nay trong các buổi sinh hoạt
về châm cứu.
Kinh lạc là vấn đề cơ bản của châm cứu cổ xưa, nay ta nhìn nhận và đánh giá thế
nào? Hệ kinh lạc là một hệ cơ quan riêng biệt mà cho tới nay khoa học chưa khám
phá ra hay nó chính là phản ánh của các Hệ cơ quan đã biết như tuần hoàn thần
kinh? Các nhà khoa học thế giới đang nỗ lực nghiên cứu để giải đáp vấn đề.
+ Thiên âm dương ứng tượng đại luận – Tố vấn – nói: “Tâm sinh huyết”. Vi khi cắt
qua tim bao giờ cũng thấy có máu ở trong.
+ Thiên ngũ tạng sinh thành – Tố vấn – nói: “Tâm trữ huyết là khí của mạch”. Vì
thấy tim nối với các mạch máu lớn.
+ Thiên kinh mạch – Tố vấn – nói: “Kinh mạch không hiện ra rõ, mạch hiện ra rõ là
lạc mạch”. Vì thấy các mạch máu lớn, động mạch đều đi sâu trong cơ bắp, thân thể,
còn tĩnh mạch nông nổi ngay dưới da.
+ Thiên thủ các âm dương lưu trú luận linh khu “12 kinh đều có lạc mạch giống như
sông Trường Giang, Sông Hán có sông Đà, sông Tiền, lạc mạch truyền chạy tới kinh
khác”.
Nhận xét về mạng lưới tuần hoàn:
+ Nạn kinh nạn 1: “Trong 12 kinh đều có mạch động” (động mạch) những nơi động
mạch đi qua nông như động mạch quay (Kinh phế), động mạch khoeo (Kinh bàng
quang), động mạch cánh tay ở hố nách (Kinh Tâm) động mạch chảy sâu trong ống
gót (Kinh thận)…
+ Châm cứu Đại thành kể: “Thời Vương Măng (thế kỷ I sau Công nguyên) bát được
Dịch Nghĩa Đảng, Vương Tôn Khánh sai quan thái y và bọn đồ tể mổ ra cân đo 5
tạng, lấy lạt tre thông đường mạch đề biết nơi tận cùng nơi bắt đầu”.
- Sự lan truyền cảm giác đắc khí phần lớn trùng hợp với hướng đi của dây thần kinh:
Châm Nội quan lan tới ngón tay giữa, châm Bát liêu lan xuống đùi – gót, Châm Cực
tuyền lan xuống mặt trong cánh tay…
- Đã xác định được rằng mỗi lần châm cứu sẽ làm tăng tiết Corticoide của thượng
thận và Endorphine của não…
- Có thể dùng các học thuyết về thần kinh để dịch, và thời sinh học để giải thích
được khá nhiều hiện tượng của châm cứu.
c/ Giá trị của học thuyết Kinh lạc:
Từ gợi ý ban đầu của hệ thống mạch máu, người xưa đã xây dựng nên học thuyết
kinh lạc cách đây hơn 2.500 năm. Dần dần được bổ sung thêm vào các đời sau thành
dạng như chúng ta thấy ngày nay: Huyệt, đường đi, các kinh mạch, hội chứng bệnh,
các thủ thuật điều trị, các phương chọn huyệt…Nhưng nếu muốn tìm cơ sở vật chất