LỜI NÓI ĐẦU
Sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã
mang đến rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho nền kinh tế nói chung và
ngành Ngân hàng nói riêng.
Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng - sản phẩm
của nền kinh tế hàng hoá cũng đã, đang vận động kịp thời để thích nghi với
điều kiện mới. Hoạt động Ngân hàng là một mắt xích quan trọng trong sự vận
động nhịp nhàng của nền kinh tế. trong sự nghiệp đổi mới hệ thống ngân hàng
nói chung và Ngân hàng thương mại nói riêng đã góp phần tích cực vào công
cuộc đổi mới của đất nước, xây dựng hoàn thiện một nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam phát triển bền vững.
Đối với Ngân hàng thương mại thì nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ
yếu, chiếm tỷ trọng lớn và cũng tạo ra lợi nhuận lớn. Song rủi ro từ nghiệp vụ
tín dụng là rất lớn, nó có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, làm sai lệch đảo lộn kết
quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, có thể đưa ngân hàng đến chỗ phá
sản. Sự phá sản của ngân hàng là một cú sốc mạnh không chỉ gây ảnh hưởng
đến hệ thống ngân hàng, mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội. Chính vì vậy đòi hỏi các Ngân hàng phải quan tâm và hiểu rõ
rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Việc đánh giá đúng thực trạng rủi ro tín dụng
để tìm ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro là một yêu cầu cấp thiết,
đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Chính vì lý do trên, với kiến thức lý luận cơ bản tiếp thu được ở nhà
trường, thời gian thực tập tại chi nhánh Ngân hàng TMCP phát triển nhà Thành
phố Hồ Chí Minh chi nhánh Hoàn Kiếm, cộng với sự hướng dẫn nhiệt tình của
các cô, chú trong chi nhánh, em mạnh dạn chọn đề tài " Hạn chế rủi ro tín
dụng tại chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển nhà Thành
phố Hồ Chí Minh chi nhánh Hoàn Kiếm " làm chuyên đề tốt nghiệp.
1
Chuyên đề được trình bày làm 3 chương:
Chương 1: Tín dụng và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP phát triển
hàng và khách hàng:
Lòng tin, sự tín nhiệm được hình thành và tạo dựng trong quá trình hoạt
động, kinh doanh trong các quan hệ Giao dịch, uy tín của doanh nghiệp trên
thị trường, uy tín của người đi vay. Nếu như không có lòng tin và sự tín
nhiệm thì sẽ ko có tín dụng, bởi lòng tin là điệu kiện quyết định để thiết lập
mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Trong nền kinh tế thị
trường hiện nay, tạo dựng được lòng tin, uy tín là yếu tố sức mạnh để doanh
nghiệp có thể đứng vững và phát triển.
1.2.1.2 Quan hệ tín dụng có tính thời hạn:
Vì ngân hàng đóng vai trò trung gian, vừa là người đi vay, vừa là người
cho vay, vì vậy thời hạn cho vay được xác định dựa trên hai yếu tố:
Quá trình luân chuyển vốn của chủ thể vay vốn. Thời hạn cho vay phải
phù hợp với quá trình luân chuyển vốn của người vay vốn để đảm bảo khả
năng thanh toán cho NH khi đến kì hạn thanh toán.
Tính chất nguồn vốn của ngân hàng: Nếu là nguồn vốn ổn định và lâu
dài thì ngân hàng có thể cho vay với kì hạn dài hơn, và ngược lại.
1.2.1.3 Quan hệ tín dụng mang tính hoàn trả:
Xuất phát từ khái niệm tín dụng, vốn dưới dạng tiền hoặc tài sản được
cho vay với một thời hạn nhất địn, hết thời hạn hợp đồng, người đi vay bắt
buộc phải hoàn trả ngân hàng cả phần gốc và lãi. Việc hoàn trả đúng thời hạn
và đầy đủ là nguyên tắc bắt buộc trong hoạt động tín dụng. Nếu như một
khoản vay không được trả đúng thời hạn thì sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến kế
hoạch kinh doanh có tính liên tục của ngân hàng.
4
1.2.1.4 Quan hệ tín dụng mang tính pháp lý
Về mặt pháp lý, những văn bản xác dịnh quan hệ tín dụng như hợp đồng tín
dụng, khế ước…đó là những văn bản pháp lý nhằm ràng buộc những trách
nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên cho vay và đi vay.
1.1.3. Các hình thức tín dụng:
1.1.3.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
- Tín dụng khác: Bao gồm các khoản tín dụng chưa được phân loại ở trên
(ví dụ: tín dụng kinh doanh chứng khoán).
1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng:
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng, các tổ chức
tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân. Trong nền kinh tế, Ngân hàng
đóng vai trò là tổ chức trung gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng với doanh
nghiệp và cá nhân, Ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Đối
tượng của Ngân hàng là tiền tệ, vì vậy Ngân hàng khắc phục được những hạn
chế của tín dụng thương mại về quy mô và phương hướng hoạt động. Đối với
nền kinh tế, tín dụng Ngân hàng luôn chiếm một vị trí đặc biệt bởi:
1.1.4.1 Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất và tái sản
xuất phát triển:
Xuất phát từ chức năng tập trung và điều hoà vốn giữa các chủ thể
trong nền kinh tế, Ngân hàng huy động những luồn tiền nhàn rỗi trong xã hội,
đầu tư vào nền kinh tế, từ đó phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế.
Ngân hàng giúp cung cấp vốn kịp thời và ổn định cho nhu cầu sản xuất
kinh doanh và tiêu dùng cho các chủ thể kinh tế khác. Khi các nhà sản xuất
không còn bị quá lệ thuộc vào nguồn vốn tự có, việc mở rộng sản xuất, tìm
kiếm cơ hội đầu tư sẽ trở nên đơn giản hơn. Để sử dụng hiệu quả nguồn vốn
6
này từ NH, bắt buộc doanh nghiệp phải tạo được cho mình một ưu thế riêng.
Doanh nghiệp phải cố gắng để cung cấp cho thị trường những sản phẩm hàng
hoá tốt hơn, phong phú hơn, hấp dẫn hơn các đối thủ cạnh tranh,tạo điều kiện
để nâng cao uy tín và mở rộng thị phần cho mình. Điều này cho thấy tín dụng
ngân hàng đã góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng và
phát triển.
1.1.4.2. Tín dụng ngân hàng là công cụ điều hoà sự lưu thông tiền tệ, qua đó
điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đó là đưa tiền tệ ra lưu thông
mang tính kiểm soát cao bởi lượng tiền đưa ra được tính toán kĩ lưỡng trên cơ
1.2 Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương
mại.
1.2.1 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại.
1.2.1.1 Khái niệm
Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín
dụng cho một khách hàng, hay có thể hiểu là khả năng khách hàng không trả
được nợ theo hợp đồng tín dụng. Xét về khía cạnh của ngân hàng, thi rủi ro
tín dụng đồng nghĩa với thu nhập dự tính của ngân hàng từ các tài sản có sinh
lời không được hoàn trả đày đủ cả về mặt số lượng và thời hạn.
Do quan hệ tín dụng được hiểu theo hai chiều là đi vay và cho vay, vì
vây, cũng cần phải hiểu rủi ro tín dụng theo hai chiều đó là rủi ro trong cho
vay và rủi ro trong hoạt động đi vay.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu cấp thiết về nguồn vốn
đầu tư càng lớn thì mức độ rủi ro tín dụng càng cao. Nguồn thu nhập chính
8
của các NHTM là từ lãi suất mà người vay sẽ thanh toán cho ngân hàng, phần
khác là từ hoạt động trao đổi các món vay hoặc từ việc bảo đảm và cung cấp
các dịch vụ tương tự. Nguồn thu nhập này phụ thuộc chủ yếu vào doanh số
và lãi suất cho vay.
Tuy nhiên không có gi đảm bảo chắc chắn rằng tiền vay và tiền lãi sẽ
được người vay hoàn trả đúng hạn và đầy đủ. Sự mất mát vốn vay và thu nhập
này do nhiều nguyên nhân khác nhau, đó chính là những rủi ro mà ngân hàng
thường gặp khi cho vay. Những rủi ro này là một nhân tố quan trọng có thể
quyết định sự tồn tại của cả một ngân hàng. Vì vậy, mục tiêu chính của các
nhà quản trị rủi ro tín dụng là đảm bảo lợi nhuận tối đa ở các mức rủi ro có
thể chấp nhận được.
1.2.1.2 Các loại rủi ro
- Rủi ro về lãi suất: Rủi ro lãi suất phát sinh khi có chênh lệch về kỳ
hạn tái định giá giữa tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng.
- Rủi ro về tín dụng: Rủi ro tín dụng xuất phát từ các hoạt động tín
Theo quyết định 493/2005/QĐ- NHNN thì : “Nợ quá hạn là khoản nợ
mà một phần hay toàn bộ nợ gốc và lãI đã quá hạn”. Nếu tỷ lệ nợ quá hạn
càng cao thì mức độ RRTD cho ngân hàng càng lớn. Việc nợ quá hạn tăng
chứng tỏ dư nợ khách hàng đang gặp khó khăn trong việc trả nợ cao, do đó
xác suất sau này khách hàng trả nợ cho ngân hàng là rất thấp. Mặt khác, tỷ lệ
nợ quá hạn cao cũng đông nghĩa với việc chi phí của ngân hàng tăng lên : chi
phí thực tế và chi phí cơ hội đều tăng. Với một khoản nợ tốt,ngân hàng sẽ dễ
dàng thu được nợ và tiếp tục những khoản cho vay mới nhưng với một khoản
tín dụng có nguy cơ rủi ro như khách hàng chậm trả nợ gốc, lãi hoặc tình hình
kinh doanh của khách hàng không tốt…thì ngân hàng phải tốn thêm chi phí
10
giám sát với khoản vay, chi phí xử lý tài sản bảo đảm, chi phí pháp lý…và do
đó sẽ làm tăng chi phí thực tế của ngân hàng. Với một khoản vay không tốt
thì cán bộ ngân hàng dồn toàn bộ tâm trí vào việc đòi nợ mà ngaị cho vay mới
và có ít thời gian tìm đối tác mới vì thế làm tăng chi phí cơ hội của ngân hàng.
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng. Chỉ tiêu này
càng thấp càng tốt, nhưng ngược lại không thể đánh giá rằng khi chỉ số này
vượt quá tiêu chuẩn chung của ngành thì là xấu. Để có thể đánh giá được một
cách chính xác hơn về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng ta cần phải đánh
giá kèm theo chỉ tiêu vòng quay của các khoản nợ quá hạn này, khả năng giải
quyết các khoản nợ quá hạn. Bởi vì, tỷ lệ nợ quá hạn cao mà khả năng giải
quyết nợ quá hạn hay vòng quay của các khoản nợ quá hạn cao thì khả năng
ngân hàng gặp rủi ro tín dụng sẽ sất thấp. Và ngược lại, ngân hàng sẽ gặp rủi
ro tín dụng.
- Chỉ tiêu: Nợ khó đòi trên tổng nợ quá hạn
Nợ quá hạn khó đòi
Tổng nợ qua hạn
Tỷ lệ này đánh giá các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, được xác định
là không có khả năng thu hồi. Tỷ lệ này cao chứng tỏ khả năng thu hồi vốn
thấp, nguy cơ mất vồn cao, chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp.
ra những dấu hiệu ban đầu của khoản vay có vấn đề và có hành động cần thiết
để ngăn ngừa, hạn chế, xử lý chúng.
Vậy dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng có thể bao gồm các nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên đến mối quan hệ khách hàng và ngân
hàng.
* Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài
khoản khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số dấu
hiệu quan trọng gồm:
- Khó khăn trong thanh toán lương, sự biến động của số dư các tài
khoản, đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi.
- Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản.
- Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu đông từ nhiều nguồn
khác nhau.
* Các hoạt động cho vay:
12
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, thường xuyên yêu cầu ngân hàng
cho đáo hạn.
- Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi.
- Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến.
* Phương thức tài chính:
- Sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài
hạn.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, ví dụ: thường xuyên sử
dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải trả.
- Giảm các khoản phải trả, tăng các khoản phải thu.
- Có biểu hiện giảm vốn điều lệ.
Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của
khách hàng
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị và ban điều
hành. Hệ thống quản trị và ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, về công
+ Khả năng tiền mặt giảm.
+ Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp.
+ Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng.
+ Tăng giá trị quảng cáo thông qua việc tính lại tài sản…
Trên đây là những dấu hiệu nhận biết rằng khả năng xảy ra rủi ro tín
dụng, do đó cần phải đặc biệt chú ý trong việc quản lý hoạt động tín dụng.
14
1.3.2 Quy trình quản lý rủi ro tín dụng
Bước 1: Phân hạng danh mục rủi ro tín dụng.
Bước 2: Rà soát xếp hạng danh mục rủi ro.
Bước 3: Danh mục rủi ro tín dụng cần giám sát, nội dung giám sát.
Bước 4: Lập phương pháp giám sát hợp lý.
Bước 5: Quá trình kiểm tra, đánh giá.
Bước 6: Các dấu hiệu cảnh báo về những tài khoản tín dụng có khả
năng có vấn đề.
1.3.3 Các biện pháp quản trị nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng của các NHTM
1.3.3.1 Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro
Đây là điều kiện tiên quyết trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường bién động phức tạp, đòi hỏi mỗi ngân
hàng cần phải có chiến lược rõ ràng trong việc quản trị rủi ro tín dụng, bời vì
đó là “kim chỉ nam” cho hoạt động tín dụng. Một chiến lược rõ ràng, chính
xác trong dự báo đảm bảo cho bản thân các ngân hàng có thể linh hoạt trong
phòng ngừa và xử lý những rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Nó góp phần định
hướng cho các hoạt động tín dụng trong tương lai nhằm đảm bảo mục tiêu an
toàn và lợi nhuận cao.
1.3.3.2. Xây dựng chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của ngân hàng phải thực hiện ba mục tiêu cơ bản:
Lợi nhuận, an toàn và lành mạnh. Một chính sách tín dụng hợp lý phải được
xây dựng dưa trên những căn cứ sau:
trong trường hợp khách hàng không thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp
16
đồng vay vốn về việc thanh toán gốc và lãi khi đến hạn. Tuy nhiên việc thực
hiên hình thức bảo đảm tiền vay nào là phụ thuộc vào tình hình của khách
hàng, và của bản thân ngân hàng cho vay.
1.3.3.5. Thực hiện tốt quy trình giám sát tín dụng
Cán bộ tín dụng phải theo sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng có
đúng mục đích không và để kiểm tra việc bảo quản vật tư hàng hóa hình thành
từ vốn vay, tình hình TSĐB, tiến độ thực hiện dự án… có thực hiện đúng theo
hợp đồng hay không.
Hơn nữa, mục đích của việc giám sát tín dụng là để phát hiện ra những
rủi ro tiềm ẩn, giúp cho ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời những khoản nợ
có vấn đề, qua đó có thể hạn chế được những rủi ro không cần thiết.
1.3.3.6. Xử lý hiệu quả nợ quá hạn.
Để có thể xử lý được nợ quá hạn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi
ro có thể xảy ra đối với ngân hàng, bản thân các ngân hàng cần phải ý thức
được rằng những khoản nợ quá hạn là những khoản nợ vay có vấn đề, cho nên
phải có quyết định kịp thời, hoặc là tiếp tục gia hạn nợ nếu đánh giá người
vay vẫn còn khả năng trả nợ, hoặc là thanh lý, thu hồi khoản nợ trước hạn.
Đây là những quyết định rất quan trọng, nó cho thấy ngân hàng có thể bị rủi
ro hay không.
1.3.3.7. Phân tán rủi ro tín dụng.
Đây là động tác mà mỗi ngân hàng bắt buộc phải duy trì trong suốt cả
quá trình quản lý tín dụng. Yêu cầu các ngân hàng phải tôn trọng các giới hạn
trong cho vay, dựa trên những đánh giá về TSĐB, thực hiện đồng bộ với chỉ
tiêu an toàn vốn tối thiểu trong hoạt động kinh doanh và yêu cầu khách hàng
phải mua bảo hiểm cho các tài sản hình thành từ vốn vay và TSĐB. Không
nên tập trung cho vay quá nhiều vào một loại đối tượng, một ngành, một địa
bàn, cần phải đa dạng hoá danh mục cho vay nhằm mục đích đa dạng hoá rủi
17
tới khả năng trả nợ ngân hàng.
- Xuất phát từ ảnh hưởng của văn hoá xã hội.
Đó là ảnh hưởng của việc thay đổi tập quán tiêu dùng trong xã hội, nhất
là trong giai đoạn chuyển giao của nền kinh tế nước ta. Đó là sự thay đổi cách
suy nghĩ của cả một xã hội về thói quen tiêu dùng, nếu doanh nghiệp nào
không có sự nắm bắt kịp thời mức độ thay đổi đó sẽ gặp khó khăn trong hoạt
động kinh doanh của mình, thậm chí có thể dẫn tới phá sản, điều đó sẽ trực
tiếp, hoặc gián tiếp gây khó khăn cho ngân hàng trong hoạt động cho vay.
- Ảnh hưởng của nhân tố công nghệ.
Yếu tố công nghệ hiện nay đang là yếu tố rất quan trọng quyết định
đến sức cạnh tranh trên thị trường cuả mỗi ngân hàng. Trên thực tế, sự thay
đổi của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh
của ngân hàng và tới cả quá trình cấp tín dụng. Qua đó nhằm khai thác triệt để
“vốn thời gian”, kéo dài cánh tay hoạt động của ngân hàng và luôn giữ vị trí
của mình trong nền kinh tế quốc dân. Góp phần làm hạn chế rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
- Ảnh hưởng của môi trường chính trị pháp luật
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh chịu sự
giám sát chặt chẽ của luật pháp. Môi trường pháp lý sẽ mang đén cho ngân
hàng một loạt các cơ hội mới cũng như thách thức mới. Điều này được thể
hiện rõ trong hoạt động tín dụng, như việc rỡ bỏ các hạn chế trong cho vay
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, còn sự nới lỏng trong quản lý của luật
pháp cũng có thể đặt ngân hàng trước những nguy cơ cạnh tranh mới, như
việc cho phép thành lập các ngân hàng nước ngoài sẽ đặt các ngân hàng của
19
nước đó vào tình thế cạnh tranh gay gắt hơn và chính sách đầu tư, tiết kiệm
của Chính phủ trong từng thời kỳ.
Môi trường chính trị pháp luật này không chỉ bó gọn trong phạm vi
Luật các tổ chức tín dụng, mà còn liên quan tới Luật dân sự, Luật Doanh
nghiệp… và cũng không chỉ bó gọn trong phạm vi một quốc gia mà còn mở
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh xảy ra do tính khả thi của dự án còn
thấp, không khoa học, không tiếp cận được thị trường. Do chưa đánh giá được
chính xác nhu cầu thị trường, hay đánh giá sai lầm về khả năng tiêu thụ của
thị trường. Dẫn đến tình trạng sản phẩm tồn kho quá nhiều so với nhu cầu.
+ Doanh nghiệp bị thiệt hại trên thị trường đầu vào. Do không có kế hoạch
trước những biến động của thị trường như tình trạng tăng giá nguyên vật liệu
không thể kiểm soát, trực tiếp sẽ làm tăng giá thành sản phẩm. Nếu doanh
nghiệp tăng giá sản phẩm lên thì sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩm chậm lại,
tình hình luân chuyển vốn chậm, ảnh hưởng tơi khả năng thanh toán nợ ngân
hàng của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu doanh nghiệp giữ nguyên giá hoặc
không tăng giá thì sẽ làm giảm lợi nhuận và khả năng tái sản xuất của doanh
nghiệp trong tương lai, thậm chí có thể bị thua lỗ.
+ Do doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình sản xuất như tình hình
năng suất lao động giảm sút, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ tay nghề
của công nhân còn thấp kém. Do cơ cấu chi phí cố định chiếm tỷ trọng lớn,
gây ra hiện tượng lãng phí ứ đọng vốn. Cũng có thể là do trình độ quản lý
doanh nghiệp của ban giám đốc còn yếu, không hiệu quả, không động viên
được đội ngũ nhân viên hoạt động hăng say, không có chế độ lương bổng
khuyến khích, chính sách quản lý thiếu chiều sâu.
21
+ Rủi ro tín dụng cũng có thể xảy ra khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong
tình hình tài chính. Do doanh nghiệp có hệ số nợ cao đó là kết quả của quá
trình tăng trưởng quá nóng hoặc quá chậm, do doanh nghiệp bị chiếm dụng
vốn trong thời gian dài, không có biện pháp thu hồi nợ, làm hạn chế khả năng
quay vòng của các khoản phải thu.
+ Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng có thể gặp rủi ro trên thị trường đầu ra.
Do khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường còn thấp, chất lượng
kém, mẫu mã không bắt mắt. Và áp lực của cạnh tranh bắt buộc doanh nghiệp
phải hạ thấp giá thành một cách đồng loạt, điều nảy ảnh hưởng đến thu nhâp
của doanh nghiệp.
trong quá trình giải quyết, đó là mở rộng tín dụng để tăng lợi nhuận, đồng thời
hạn chế rủi ro tín dụng. Nhiều ngân hàng ra sức tăng mức dư nợ tín dụng mà
bỏ qua hoặc hạ thấp những tiêu chuẩn cho vay. Hay nói một cách khác là
ngân hàng chỉ chạy theo số lượng tín dụng mà không coi trọng chất lượng tín
dụng, do đó rất nguy hiểm đối với công tác tín dụng của ngân hàng.
+ Một yếu tố luôn ảnh hưởng tới khâu thẩm định của cán bộ tín dụng đó là
chất lượng và số lượng thông tin. Bởi vì bản thân hoạt động ngân hàng luôn
trong tình trạng thông tin không cân xứng, cho nên đòi hỏi công tác thẩm định
phải sàng lọc thông tin một cách kỹ càng, chính xác, tránh bỏ sót những dự án
hiệu quả cao và tránh nhận những dự án không có hiệu quả hay hiệu quả thấp.
Trong nhiều trường hợp ngân hàng không nắm được đầy đủ thông tin về quan
hệ tín dụng của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác nên có thể phán
quyết sai lầm khi cho vay.
23
+ Do ngân hàng không thực hiên tốt công tác giám sát tín dụng. Bởi vì,
trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng hạn chế, thiếu thực tế, chỉ dựa trên
giấy tờ, số liệu báo cáo của khách hàng. Thiếu tinh thần trách nhiệm trong
công tác nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát lấy lệ, hời hợt, chỉ mang tính hình
thức, không phản ánh đúng sự thật do chịu áp lực từ cấp trên, từ chính quyền
địa phương.
+ Ngoài các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trên, Ngân hàng cũng có
thể gặp rủi ro tín dụng do cho vay quá tập trung vào một đối tượng, một khu
vực, một ngành cho nên đã hạn chế sự linh hoạt của ngân hàng trước những
biến động của thị trường cạnh tranh, gây ra tổn thất cho ngân hàng. Có thể do
công tác thiết kế sản phẩm tín dụng không phù hợp với nhu cầu và đặc điểm
của người vay, hoặc do vẫn còn nặng tính chất quan liêu, quan cách trong
hoạt động giao dịch với khách hàng, hoặc có thể do cán bộ ngân hàng vi phạm
đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với khách hàng, nhận hối lộ, cố tình làm sai
nguyên tắc.
1.3.1.4 Nguyên nhân rủi ro tín dụng từ phía các TSBĐ tín dụng.
vực phá sản nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời.
1.3.2.2 Tác động đến nền kinh tế xã hội
Bắt nguồn từ chức năng và bản chất của ngân hàng là một tổ chức trung
gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ
chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do đó thực chất quyền
sở hữu những khoản cho vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân
hàng. Bở vậy khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt
hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Khi một ngân hàng
gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng
25