class="bi x0 y0 w1 h1"
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
XÃ HỘI DÂN SỰ VỚI TƯ CÁCH LÀ KHÔNG GIAN
XÃ HỘI CHO SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số : 62.22.03.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Phạm Văn Đức
HÀ NỘI, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Các kết luận khoa học
của luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Tuấn Phong
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
10
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
10
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu xã hội dân sự
10
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu phát triển con người
17
3.1 Xã hội dân sự với tư cách là một không gian xã hội
63
3.2. Cộng đồng chính trị và sự phát triển con người trong đời sống
Hi Lạp cổ đại
65
3.2.1 Sự hình thành cộng đồng chính trị
60
3.2.2 Khác biệt giữa cộng đồng chính trị và lĩnh vực tư
66
3.3. Xã hội dân sự, kinh tế thị trường, lĩnh vực công
và sự phát triển con người 76
3.3.1 Xã hội dân sự, kinh tế thị trường và phát triển con người
78
3.3. 2 Xã hội dân sự, lĩnh vực công và phát triển con người
85
3.3.2.1 Lĩnh vực công và công luận
87
3.3.2.2. Lĩnh vực công và phát triển con người
91
Kết luận chương 3
97
Chương 4. TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO
SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ PHÁT TRIỂN
CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM
100
4.1 Tiền đề tư tưởng cho sự phát triển con người và phát triển xã hội
tại Việt Nam
101
4.1.1.Tu thân Nho giáo và sự phát triển con người
105
mạnh mẽ và toàn diện với thế giới. Trong tiến trình hội nhập quốc tế đó Việt
Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức hết sức lớn lao. Để có thể
tận dụng được thời cơ, vượt qua thách thức nhằm chủ động hội nhập với thế
giới thì bên cạnh việc xây dựng một nhà nước pháp quyền mạnh và một nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa năng động, thì sự hình
thành và phát triển một xã hội dân sự phù hợp là một đòi hỏi tất yếu đối với
nước ta hiện nay.
Ở Việt Nam, mặc dù xã hội dân sự vẫn còn là một khái niệm gây nhiều
tranh cãi, nhưng nhìn nhận dưới góc độ thực tiễn dân sự, thực tiễn mang tính
truyền thống ở các cấp độ và lĩnh vực xã hội khác nhau, hoạt động của các tổ
chức xã hội dân sự là những hoạt động diễn ra trong các không gian xã hội (có
tổ chức chính thức hoặc bán chính thức) thông qua đó người dân tự liên kết lại
để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống cộng đồng và địa phương
mà không cần đến sự can thiệp của nhà nước. Trong lịch sử phát triển của dân
1
tộc thì các hình thức biểu hiện cụ thể của xã hội dân sự có thể nhận thấy
không những trong hoạt động có tổ chức của nhóm, hội, phường… mà còn
trong các hoạt động không chính thức nảy sinh giữa những người dân cùng
tồn tại trong một cộng đồng xã hội truyền thống. Đó có thể được coi là những
thiết chế văn hóa đặc thù trong đời sống văn hóa của người Việt Nam mà
chúng ta cần tính đến trong việc nghiên cứu về nét đặc trưng của xã hội dân sự
Việt Nam. Trong giai đoạn hiện đại xã hội dân sự còn mang diện mạo các
đoàn thể, hiệp hội bao gồm các tổ chức ngoài nhà nước hoạt động theo nguyên
tắc tự nguyện, tự chủ, độc lập về tài chính với thiết chế tổ chức đa dạng hướng
tới mục tiêu vì sự phát triển của cộng đồng.
Xã hội dân sự tại Việt nam, như vậy, có thể tạm được hiểu là thực tiễn
dân sự bao gồm các hoạt động ngoài gia đình và mạng lưới các đoàn thể, hiệp
hội và các tổ chức ngoài nhà nước nhằm khai thác tiềm năng mọi nguồn nhân
lực nhằm thúc đẩy xã hội phát triển. Ở đây, không có sự tách biệt giữa nhà
nước và các tổ chức xã hội dân sự như thường thấy trong các định nghĩa về xã
“Tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn
diện của con người. Tư tưởng phát triển con người là nội dung xuyên suốt các
kỳ đại hội Đảng sau này. Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm
2011-2020, như nhận xét của GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã “đưa ra một hệ quan điểm về phát triển. Trong đó đặc biệt nhấn
mạnh phát triển nhanh phải gắn liền với phát triển bền vững, khẳng định phát
triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” và điều đáng lưu ý là
Chiến lược phát triển nhanh và bền vững đặc biệt coi trọng việc “phát huy tối
3
đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu
của sự phát triển” (V67, tr. 6)
1
Cũng cần phải nói rằng ở nước ta hiện nay, bên cạnh việc hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập
môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính và xây dựng hệ thống
kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ
thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn thì việc phát triển nhanh nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản
nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát
triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một trong ba khâu đột phá trong
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 -2020. Xã hội dân sự có thể đóng
vai trò to lớn trong việc thúc đẩy thực hiện các khâu đột phá đó, đặc biệt là
khâu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tuy nhiên, việc xây dựng một xã hội dân sự mang tính đặc thù, phù hợp
với điều kiện lịch sử, văn hóa và đáp ứng được nhu cầu phát triển của Việt Nam
hiện nay cần phải dựa trên cơ sở các nghiên cứu lý luận một cách hệ thống
nhằm làm rõ bản chất của xã hội dân sự và quan trọng hơn là tạo cơ sở cho việc
chủ động định hướng sự phát triển của xã hội dân sự nhằm khác phục những
hạn chế và bất cập đồng thời phát huy tính tích cực của các hoạt động của các tổ
chức xã hội dân sự hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
bản chất của mình trong những bối cảnh và điều kiện văn hóa lịch sử khác
nhau. Trong bối cảnh phát triển lịch sử xã hội đặc thù của Việt Nam chúng tôi
muốn khẳng định rằng Việt Nam đã có những tiền đề tư tưởng quan trọng cho
sự phát triển một xã hội dân sự phù hợp, đáp ứng được những mục tiêu nhân
văn của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng. Nói cụ thể
hơn, theo quan điểm của chúng tôi thì tư tưởng tu thân của Nho giáo và đặc
biệt là tư tưởng phát triển con người và phát triển xã hội của Chủ tịch Hồ Chí
5
Minh, người đã kế thừa một cách sáng tạo và có chọn lọc tinh hoa văn hóa của
Phương Đông và các tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính là những nền
tảng tư tưởng quan trọng cho sự hình thành và phát triển xã hội dân sự xã
hội chủ nghĩa trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam. Hơn thế nữa, các tư tưởng
về phát triển con người và phát triển xã hội của Hồ Chí Minh đã được Đảng
cộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển sáng tạo trong các chiến lược phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước, đặc biệt là trong giai doạn tiến hành công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đến nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Xuất phát từ cách tiếp cận mang tính triết học về phát triển con người và xã
hội dân sự, mục đích mà chúng tôi đặt ra trong luận án này là luận giải xã hội
dân sự với tư cách là không gian xã hội của (và cho) sự phát triển con người.
Để thực hiện mục tiêu này, trong khuôn khổ luận án chúng tôi sẽ tập trung
giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ nội dung và phân tích mối liên hệ giữa các khái niệm cơ bản
như chất con người, phát triển con người nhằm chỉ ra tính đặc thù trong sự
phát triển con người.
- Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của xã hội dân sự trong một số
giai đoạn tiêu biểu của lịch sử phát triển xã hội phương Tây nhằm chỉ ra mối
liên hệ biện chứng giữa thực tiễn phát triển của xã hội dân sự và phát triển
con người.
- Tìm hiểu và phân tích nền tảng tư tưởng cho sự phát triển con người và
trình phát triển ngày một hoàn thiện hơn bản chất con người. Các nguyên lý
này còn cho thấy tính thống nhất trong đa dạng của tiến trình phát triển con
7
người với tư cách là tiến trình phát triển bản chất con người. Tiếp cận chỉnh
thể và nhận thức duy vật lịch sử còn cho chúng ta thấy vai trò sáng tạo và chủ
động của con người trong tiến trình phát triển bản chất của mình. Tính sáng
tạo và chủ động của con người lý giải cho tính đa dạng của các hình thái xuất
hiện của xã hội dân sự, nét đặc trưng và bản sắc văn hóa của xã hội dân sự.
5. Đóng góp mới của luận án
Tiếp cận từ góc độ triết học chính trị tới các khái niệm bản chất con
người và xã hội dân sự, luận án đã phân tích và làm sáng tỏ được những vấn
đề mang tính lý luận sau đây:
- Luận án đã làm sáng tỏ khái niệm xã hội dân sự từ quan điểm triết học
Mác về bản chất con người và phát triển con người.
- Luận án đã làm sáng tỏ vai trò của xã hội dân sự đối với sự phát triển
con người trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội dân sự
- Luận án đã chỉ ra nền tảng tư tưởng cho sự phát triển của xã hội dân sự
với tư cách là không gian phát triển con người trong điều kiện phát triển của
Việt Nam
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án muốn chỉ ra sự cần thiết phải có những sự nhìn nhận và đánh giá đầy
đủ hơn di sản lý luận của triết học Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc
nghiên cứu nghiêm túc và khách quan các tư tưởng của C.Mác và Hồ Chí
Minh về bản chất con người và phát triển con người sẽ có thể giúp chúng ta có
những quan niệm sâu sắc về mục tiêu phát triển của đất nước, về vị trí, vai trò
của xã hội dân sự trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam. Tiếp cận
xã hội dân sự từ khía cạnh phát triển con người còn giúp chúng ta có sự đánh
giá đầy đủ hơn về những mặt tích cực cũng như mặt hạn chế của xã hội dân sự
để trên cơ sở đó đề ra những định hướng chính trị quan trọng để phát huy tiềm
năng của xã hội dân sự vì mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam.
hội dân sự ở một số nước Phương tây hiện đại, Nxb Chính trị Quốc gia,…
Trên các tạp chí chuyên ngành cũng xuất hiện nhiều công trình nghiên
cứu khá chuyên sâu về xã hội dân sự từ các góc nhìn khác của các nghành
khoa học xã hội khác nhau. Đó là các công trình của các tác giả như: Đỗ
Trung Hiếu. Một số vấn đề về xã hội công dân, Tạp chí Triết học, năm 2002,
Phạm Hồng Thái. Bàn về xã hội công dân. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số
11/2004, Bùi Việt Hương, Xã hội công dân trong lịch sử tư tưởng chính trị
10
phương Tây, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4/2006; Nguyễn Như Phát. Tìm
hiểu khái niệm xã hội dân sự, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2006; Phan
Hữu Thư. Bước đầu tìm hiểu khái niệm xã hội dân sự tại Việt Nam, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật số 9/2006, Bùi Quang Dũng. Xã hội dân sự: khái niệm
và các vấn đề, Tạp chí Triết học, năm 2006, Vũ Văn Nhiêm, Vài nét về Xã hội
dân sự trong lịch sử và kinh nghiệm đối với nước ta, Tạp chí Khoa học Pháp
luật số 1/2007; Nguyễn Thanh Tuấn , Xã hội dân sự từ kinh điển Mác Lênin
đến tư tưởng Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 12/2007; Tương Lai,
Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội dân sự, Tạp chí Khoa học
Pháp luật, số 4/2007, Bùi Quang Dũng, Xã hội dân sự: khái niệm và các vấn
đề, Tạp chí Triết học số 2 (189)/2008; Trần Tuấn Phong, Xã hội công dân và
Xã hội dân sự từ Aritxtot đến Hêghen, Tạp chí Triết học số 2/2009; Nguyễn
Đình Tường, Quan niệm của Hêghen về Xã hội công dân, Tạp chí Triết học số
4/2009; Trần Hữu Quang, Một số quan niệm cổ điển về Xã hội dân sự, Tạp chí
Khoa học Xã hội, số 7/2009…
Bên cạnh việc làm rõ nội dung, đặc điểm và tính chất của xã hội dân sự
ở Việt Nam một số công trình đã tập trung làm rõ mối quan hệ của các hình
thức xã hội dân sự với nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường. Các tác giả
đã chỉ ra vai trò tích cực cũng như những hạn chế của các hình thức tổ chức xã
hội dân sự đối với sự phát triển của Việt Nam; quan hệ giữa nhà nước và xã
hội dân sự Việt Nam trong lịch sử và hiện đại, mối liên hệ giữa nhà nước với
xã hội dân sự và vấn đề cải cách hành chính; mối liên hệ giữa xã hội, cá nhân
nay, Tạp chí Triết học, số 2/2006, Đinh Ngọc Vượng, Xã hội dân sự và nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam; Hà Thị Mai Hiên, Xã hội dân sự và cá nhân
trong Nhà nước Pháp quyền, trong kỷ yếu hội thảo “Xã hội dân sự ở Việt
12
Nam và những khía cạnh Nhà nước pháp quyền”, 2006 , Đổi mới quan hệ
giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính
trị ở Việt Nam của Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo, Bùi Đình Bôn (Đồng chủ
biên), Nxb. Chính trị quốc gia (năm 2008), Phản biện xã hội và phát huy dân
chủ pháp quyền (Sách tham khảo) của Hồ Bá Thâm và Nguyễn Tôn Thị
Tường Vân (Đồng chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia (năm 2009), Về quá
trình dân chủ hoá XHCN ở Việt Nam (Sách chuyên khảo) của Lê Minh Quân,
Nxb. Chính trị quốc gia (năm 2011), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước
pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện
nay của Lê Minh Thông, Nxb. Chính trị quốc gia (năm 2011).
Tác giả Hoàng Ngọc Giao thì cho rằng xã hội dân sự là môi trường
quan hệ với đặc điểm chủ yếu là không vì mục đích lợi nhuận, vận hành theo
nguyên tắc tự nguyện và bên ngoài hệ thống quyền lực công cộng.
Trong một công trình nghiên cứu công phu thì các tác giả Thang Văn
Phúc và Nguyễn Minh Phương cho rằng xã hội dân sự là một trong những lĩnh
vực cơ bản của đời sống xã hội, tập hợp các mối quan hệ tự nguyện, tự quản
của người dân, liên kết con người với nhau thành các tổ chức, không vì mục
đích lợi nhuận, độc lập tương đối với nhà nước và thị trường nhằm thỏa mãn
các nhu cầu và lợi ích nhất định của cá nhân hoặc cộng đồng.
Theo quan điểm của tác giả Dương Xuân Ngọc thì xã hội dân sự là tổng
thể các quan hệ và các tổ chức, các mạng lưới xã hội được hình thành và hoạt
động theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, tự trang trải về
kinh phí, trong khuôn khổ pháp lý và đạo lý, phối hợp với nhà nước để kiểm
xoát và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy phát triển kinh tế, từng
bước hoàn thiện và phát huy vai trò của xã hội dân chủ, nhằm duy trì, bảo đảm
sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của nhà nước và xã hội, hiện thực
hội dân sự từ góc độ văn hóa, xã hội học, lịch sử, kinh tế hay luật học có rất
ít công trình tiếp cận đầy đủ từ góc độ triết học. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ
“Cơ sở triết học và thực tiễn của việc xây dựng xã hội dân sự” do PGS. TS.
Phạm Văn Đức, Viện Triết học chủ nhiệm (2007-2009) là số ít đề tài nằm
trong số đó khi tiếp cận khái niệm xã hội dân sự từ góc độ triết học, đặc biệt là
từ góc độ lịch sử triết học.
Trong đề tài này các tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ, chi tiết về
tình hình nghiên cứu Xã hội dân sự trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt là lịch
sử phát triển của khái niệm này dưới góc độ triết học (sự phát triển quan điểm
về xã hội dân sự trong quan điểm của các triết gia phương Tây tiêu biểu từ
Aristotle đến C. Mác cũng như các cách tiếp cận và quan điểm hiện đại của
chủ nghĩa cộng đồng, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cộng hòa ). Đề tài này còn
có những nghiên cứu một số mô hình xã hội dân sự thực tiễn ở một số nơi
trên thế giới như: Anh, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore. Đề tài đã vạch
ra nội dung, bản chất, những đặc trưng và những điều kiện để xây dựng xã hội
dân sự, nhằm góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho việc xây dựng và phát triển
xã hội dân sự trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Một đề tài cấp Nhà nước nữa được nghiệm thu là “Cơ sở lý luận và
thực tiễn của sự hình thành và phát triển xã hội dân sự định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, đề tài đã làm sáng tỏ nhiều vấn
đề từ cơ sở, tiền đề đến thực trạng hình thành, phát triển xã hội dân sự Việt
Nam. Đặc biệt, đề tài đã luận giải mô hình xã hội dân sự định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam bao gồm những đặc điểm cơ bản, nội dung hoạt động,
vai trò, chỉ ra những hạn chế và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện mô hình
này trong tương lai
15
Bên cạnh những bài báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu còn có
các hội nghị, hội thảo về xã hội dân sự. Các cuộc hội thảo này đã phần nào
thu hút được sự quan tâm của giới học giả và công chúng, góp phần làm sáng
tỏ nhiều vấn đề còn băn khoăn về xã hội dân sự nói chung và xã hội dân sự
trường - nhà nước pháp quyền - xã hội dân sự trên cả bình diện lý luận và thực
tiễn trên thế giới và Việt Nam….
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu phát triển con người
Ở Việt nam có thể nhận thấy rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam từ đại hội
VIII đã nhấn mạnh sự cần thiết phải quán triệt quan điểm “lấy việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền nhanh và bền
vững” và “Tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự
do, toàn diện của con người. Tư tưởng phát triển con người là nội dung xuyên
suốt các kỳ đại hội Đảng sau này. Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
10 năm 2011-2020, như nhận xét của GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã “đưa ra một hệ quan điểm về phát triển. Trong đó đặc
biệt nhấn mạnh phát triển nhanh phải gắn liền với phát triển bền vững, khẳng
định phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” và điều
đáng lưu ý là Chiến lược phát triển nhanh và bền vững đặc biệt coi trọng việc
“phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ
yếu và mục tiêu của sự phát triển” (V67, tr.6)
Trong các công trình nghiên cứu về phát triển con người thì, như nhận
xét của GS.TS. Hồ Sỹ Quý, khái niệm phát triển con người mặc dù đã được
biết đến là một khái niệm triết học cơ bản, đặc biệt là trong triết học C.Mác và
tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh, nhưng nó chỉ được đặc biệt chú ý đến
cùng với sự xuất hiện của Báo cáo Phát triển Người (HDR) do Liên Hiệp
17
Quốc công bố vào những năm 1990. “Của cải đích thực của một quốc gia là
con người của quốc gia đó. Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi tr-
ường thuận lợi cho phép con người đợc hưởng cuộc sống dài lâu, khoẻ mạnh
và sáng tạo. Chân lý giản đơn nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người ta
quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính”. (V20, tr. 80-81)
Cũng theo GS.TS. Hồ Sỹ Quý thì nội dung chủ yếu của khái niệm này
gồm: 1), là quá trình tăng cường năng lực cho sự lựa chọn của con người. 2),
là sự mở rộng các cơ hội lựa chọn cho mọi người. Khái niệm này có thể được
người, của cộng động, của dân tộc” (V49, tr. 31)
Con người văn hóa và quyền phát triển do Mai Quỳnh Nam (chủ biên)
là sản phẩm tập hợp từ những nghiên cứu của cán bộ và cộng tác viên của
Viện Nghiên cứu con người. Trong quyển sách này các khái niệm con người
và phát triển con người được đề cập đén trong mối liên hệ với phát triển văn
hóa và quyền con người. Phát triển con người được các tác giả chú ý đến
trong mối liên hệ với phát triển nguồn nhân lực
Mối liên hệ giữa phát triển con người và văn hóa cũng được đề cập nhiều,
tiêu biểu là các tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người và
phát triển văn hóa do Đặng Xuân Kỳ chủ biên. Trong bối cảnh hội nhập quốc
tế vấn đề con người và văn hóa Việt Nam được đề cập đến trong công trình
Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế do Hoàng
Chí Bảo chủ biên…
1. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về xã hội dân sự
Lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm xã hội dân sự đã được
các nhà triết học, xã hội học, chính trị học, luật học nổi tiếng trên trên thế giới
19