BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN LHQ
MPI UNDP
Dự án SLGP – 00039111
Tăng cường năng lực chính quyền địa phương
*****
TÀI LIỆU ĐÀO TẠO
NÂNG CAO NĂNG LỰC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG
Ở ĐỊA PHƯƠNG
Hà Nội, 2007
2
MỞ ĐẦU
Bộ tài liệu "Quản lý tài chính công ở địa phương" do Dự án Nâng cao năng
lực chính quyền địa phương (Strengthening Local Government Project, mã số
SLGP - 00039111, do UNDP tài trợ cho Bộ KH&ĐT) đặt hàng Viện Khoa học tài
chính chủ trì biên soạn nhằm phục vụ các hoạt động đào tạo nâng cao năng lực cán
bộ tài chính, kế hoạch cũng như cán bộ lãnh đạo các cấp tỉnh, huyện, xã của các địa
phương tham gia dự án như Trà Vinh, Quảng Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn.
Được thiết kế trong khuôn khổ của dự án SLGP phục vụ các đối tượng tham
gia dự án; do có sự giới hạn về thời lượng đào tạo cũng như kinh phí, nên Bộ tài
liệu này sẽ không bao gồm tất cả các vấn đề về quản lý tài chính địa phương mà chỉ
tập trung vào những vấn đề then chốt nhất, phục vụ sát đúng nhất các đối tượng cán
bộ tài chính, kế hoạch các cấp tỉnh, huyện, xã, phù hợp với nhu cầu thực tiễn ở địa
phương, đón bắt được các xu hướng đổi mới kế hoạch và cải cách quản lý tài chính
công đã, đang và sẽ diễn ra tại Việt Nam.
Sẽ rất khó khăn khi phải thiết kế một bộ tài liệu phục vụ các đối tượng rất
khác nhau về cả trình độ và nhu cầu. Trên thực tế, trong số các đối tượng học viên
của dự án SLGP, luôn có sự khác biệt khá xa nhau giữa cán bộ lãnh đạo với cán bộ
chuyên môn; giữa cán bộ cấp tỉnh với cán bộ cấp huyện, xã. Chính vì vậy, sau khi
điều tra và cân đối nhu cầu và khả năng đào tạo nâng cao năng lực cán bộ tài chính,
kế hoạch và cán bộ lãnh đạo ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã của các địa phương tham gia
bản để nắm vững và giải quyết có phương pháp các vấn đề vướng mắc trong quá
trình lập, bảo vệ dự toán cũng như trong quan hệ với KBNN khi chấp hành, quyết
toán ngân sách cấp mình.
5). Hơn nữa, những học viên là cán bộ chuyên môn sẽ được trang bị những
kiến thức cơ bản, cả lý thuyết và thực hành, về kế toán công - một công cụ quản lý
không thể thiếu trong quản lý tài chính công.
Các tác giả trực tiếp và gián tiếp tham gia biên soạn bộ tài liệu này gồm:
PGS. TS. Đỗ Đức Minh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học tài chính, Học viện Tài
chính, Bộ Tài chính; TS. Nguyễn Ngọc Tuyến, Phó Vụ trưởng, Vụ chính sách thuế,
Bộ Tài chính; Th.S. Trương Bá Tuấn, Vụ chính sách thuế, Bộ Tài chính; TS. Đặng
Văn Du, Trưởng khoa tài chính công, TS. Hoàng Thúy Nguyệt, Giảng viên chính,
TS. Hoàng Văn Bằng, Giảng viên chính, Th.S. Nguyễn Văn Luyện, giảng viên,
PGS. TS. Dương Đăng Chinh, Giảng viên cao cấp, Học viện Tài chính; TS.
Nguyễn Thị Hải Hà, Viện KHTC, Bộ Tài chính; Th.S. Vũ Cương, Giảng viên
chính,; Th.S. Phạm Hồng Vân, Giảng viên chính, Đại học Kinh tế quốc dân Hà
Nội; TS. Phạm Huy Tuấn Kiệt, chuyên gia tư vấn, Ms. Lê Nguyệt Anh, Chuyên gia
tư vấn của Dự án PFMRP của Bộ Tài chính;
Ban biên tập cũng đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của Mr. Peter Brooke,
Cố vấn cao cấp của Ngân hàng thế giới và Dự án cải cách tài chính công (PFMRP)
của Bộ Tài chính, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồng Kông; PGS. TS. Đặng
Văn Thanh, Phó Chủ tịch Hiệp hội kế toán Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Ủy ban
KT&NS, Quốc hội khóa XI; TS. Nguyễn Đình Tùng; nguyên Trưởng phòng ngân
sách huyện, xã - Vụ NSNN, Bộ Tài chính; TS. Bùi Đường Nghiêu; TS. Bùi Hà, Vụ
trưởng Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ, Bộ KH&ĐT; PGS. TS. Phan Thị Thu
Hương, nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường, Bộ
KH&ĐT; Mr. Phạm Hải, nguyên Vụ trưởng Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ, Bộ
KH&ĐT; Mr. Phạm Thanh Tâm, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế địa phương và
lãnh thổ, Bộ KH&ĐT.
Với sự nỗ lực cố gắng to lớn của tập thể các tác giả, của Ban quản lý Dự án
SLGP, các chuyên gia tư vấn về kế hoạch và tài chính của Dự án bộ tài liệu đã
KPTX : Kinh phí thường xuyên
KT&NS : Kinh tế và ngân sách
KT-XH : Kinh tế - xã hội
KTC : Kế toán công
LCT : Lệnh chi tiền
MTEF : Khung khổ chi tiêu trung hạn (còn gọi là Khung khổ ngân
sách trung hạn)
MTF&EF : Khung khổ tài chính và ngân sách (chi tiêu) trung hạn
MTFF : Khung khổ tài chính trung hạn
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NS: Ngân sách
NSĐP : Ngân sách địa phương
NSNN : Ngân sách nhà nước
NSTW : Ngân sách trung ương
NSX : Ngân sách xã
PCI : Bình quân đầu người
PFMRP : Dự án cải cách tài chính công của Bộ Tài chính
PT&DB : Phân tích và dự báo
PTKTXH : Phát triển kinh tế - xã hội (kế hoạch)
6
QLNN : Quản lý nhà nước
SLGP : Dự án Nâng cao năng lực chính quyền địa phương
(Strengthening Local Government Project, mã số SLGP -
00039111, do UNDP tài trợ cho Bộ KH&ĐT)
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCC : Tài chính công
TCNN : Tài chính nhà nước
TSCĐ : Tài sản cố định
TTCK : Thị trường chứng khoán
TTVĐT : Thanh toán vốn đầu tư
2.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
CÔNG 25
2.2.1. Quản lý NSNN 25
2.2.2. Quản lý các quỹ TCC ngoài NSNN 27
2.3. TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG 27
2.3.1. Căn cứ và nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý TCC 27
2.3.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý TCC 28
2.4. CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG 32
8
Chương 3. KẾ TOÁN CÔNG 33
3.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN CÔNG 33
3.1.1. Những khái niệm cơ bản. 33
3.1.2. Đặc điểm của kế toán công 34
3.1.3. Nhiệm vụ của kế toán công 34
3.1.4. Đối tượng kế toán công 35
3.2. CÁC BỘ PHẬN HỢP THÀNH CỦA KẾ TOÁN CÔNG 35
3.2.1. Kế toán HCSN 36
3.2.2. Kế toán NSNN 37
3.2.3. Kế toán tài chính và ngân sách xã 38
3.2.4. Kế toán ở một số đơn vị đặc thù 38
Phần 2. PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO KINH
TẾ TÀI CHÍNH 39
Chương 1. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH
VÀ DỰ BÁO KINH TẾ, TÀI CHÍNH 40
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO
KINH TẾ, TÀI CHÍNH 40
1.1.1. Khái quát về PT&DB 40
1.1.2. Các hình thức PT&DB 41
1.1.3. Vai trò của PT&DB 42
1.1.4. Các nguyên tắc của PT&DB 45
3.1.2. Mô hình cân bằng tổng thể (General Equilibrium Model) 59
3.1.3. Các mô hình kinh tế lượng vĩ mô (Macroecometrics Model) 60
3.1.4. Đánh giá tóm tắt 64
3.2. PHÂN TÍCH, DỰ BÁO KINH TẾ THÔNG QUA MÔ HÌNH
KINH TẾ LƯỢNG 65
3.2.1. Khái quát 65
3.2.2. Quy trình PT&DB qua mô hình kinh tế lượng 66
3.2.3. Điều kiện xây dựng mô hình PT&DB 72
3.3. XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO KINH TẾ
TÀI CHÍNH CẤP TỈNH 77
3.3.1. Mục tiêu 77
3.3.2. Sản phẩm đầu ra 77
3.3.3. Yêu cầu về sản phẩm 78
3.3.4. Công việc chủ yếu cần triển khai 78
Chương 4. MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ, TÀI CHÍNH VĨ
MÔ CƠ BẢN 82
4.1. GIỚI THIỆU 82
4.2. CÁC LOẠI CHỈ TIÊU KINH TẾ, TÀI CHÍNH 82
4.2.1. Các chỉ tiêu tổng hợp 83
4.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu của nền kinh tế 83
4.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất xã hội 84
4.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh các quan hệ cân đối lớn của nền kinh tế 84
4.2.5. Các chỉ tiêu về tài chính, ngân sách và tiền tệ 85
4.3. ĐỌC, HIỂU ĐÚNG Ý NGHĨA, CÁCH XÁC ĐỊNH MỘT SỐ
CHỈ TIÊU QUAN TRỌNG 85
10
4.3.1. Tổng sản phẩm quốc nội 85
4.3.2. Tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân 88
4.3.3. Chỉ số lạm phát 90
4.3.4. GDP và vấn đề so sánh theo giá năm gốc 92
2.2.2. Xác định giới hạn trần chi tiêu 120
2.2.3. Xây dựng các mục tiêu chiến lược 122
11
2.2.4. Đánh giá chính sách, chiến lược và kế hoạch phát triển 122
2.2.5. Xác định các đầu ra và các hoạt động 124
2.2.6. Tính toán chi phí cho các hoạt động và các đầu ra 125
2.2.7. Phân tích chi phí cam kết và dự kiến chi tiêu 126
2.2.8. Lựa chọn và quyết định ưu tiên 128
2.2.9. Xác định trách nhiệm và liên kết hoạt động 130
2.2.10. Đánh giá tính khả thi của các đề xuất 130
Chương 3. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA UBND VÀ
HĐND 132
3.1. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM VÀ THẨM QUYỀN CỦA HĐND
VÀ UBND 132
3.2. NHỮNG VƯỚNG MẮC THƯỜNG GẶP VÀ CÁCH GIẢI
QUYẾT 133
3.2.1. Những vấn đề thường gặp khi xây dựng MTEF cấp tỉnh 133
3.2.2. Những vướng mắc đã xảy ra trong quá trình triển khai tại các
tỉnh thí điểm MTEF ở Việt Nam 134
3.3. ĐIỀU KIỆN TRIỂN KHAI MTEF CẤP TỈNH 135
3.3.1. Các bài học rút ra từ những tỉnh đã thực hiện thí điểm 135
3.3.2. Các yêu cầu cơ bản để triển khai MTEF 136
3.3.3. Một số thuật ngữ trong quản lý chi tiêu công hiện đại 139
Phần 4. PHÂN CẤP VÀ QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH, NGÂN SÁCH 142
Chương 1. PHÂN CẤP QUẢN LÝ TÀI CHÍNH, NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CÁC CẤP 143
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ 143
1.1.1. Nhận thức tổng quát về phân cấp 143
1.1.2. Những nội dung cơ bản của phân cấp quản lý tài chính, ngân
2.3.2. Phân bổ, giao dự toán chi thường xuyên 177
2.3.3. Phân bổ, giao ngân sách CTMT và các nội dung khác 178
2.4. CHẤP HÀNH NGÂN SÁCH 179
2.4.1. Tổ chức quản lý, điều hành ngân sách 179
2.4.2. Cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách 180
2.5. QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH 180
2.5.1. Thẩm quyền và trách nhiệm các cơ quan, đơn vị trong lập,
xét duyệt, thẩm tra và phê chuẩn quyết toán ngân sách 180
2.5.2. Nội dung xét duyệt và thẩm định quyết toán 185
2.6. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ 189
2.6.1. Những vấn đề đặt ra 189
2.6.2. Biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý ngân sách
địa phương 191
Chương 3. TÀI CHÍNH, NGÂN SÁCH XÃ, PHƯỜNG, THỊ
TRẤN 195
3.1. NGÂN SÁCH XÃ 195
3.1.1. Thu ngân sách xã 195
3.1.2. Chi ngân sách xã 197
3.2. QUY TRÌNH QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ 199
13
3.2.1. Lập dự toán ngân sách xã 199
3.2.2. Chấp hành ngân sách xã 200
3.2.3. Kế toán và quyết toán ngân sách xã 204
3.3. TÀI CHÍNH KHÁC CỦA XÃ 205
3.3.1. Các quỹ công chuyên dùng của xã 205
3.3.2. Hoạt động tài chính các sự nghiệp của xã 206
3.3.3. Các hoạt động tài chính của thôn bản 206
3.3.4. Các hoạt động tài chính khác của xã 207
Chương 4. CÔNG KHAI TÀI CHÍNH, NGÂN SÁCH ĐỊA
PHƯƠNG 208
1.2.4. Kế toán cân đối thu chi NSNN 238
Chương 2. KẾ TOÁN HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 241
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KẾ TOÁN HCSN 241
2.1.1. Khái niệm 241
2.1.2. Đặc điểm 241
2.1.3. Nhiệm vụ 241
2.1.4. Nội dung cơ bản của kế toán HCSN 241
2.1.5. Tổ chức công tác kế toán HCSN 242
2.2. KẾ TOÁN TÀI SẢN, VẬT TƯ, HÀNG HÓA 248
2.2.1. Kế toán chi tiết vật tư, hàng hóa 248
2.2.2. Kế toán tổng hợp vật tư, sản phẩm, hàng hóa 250
2.3. KẾ TOÁN TSCĐ 253
2.3.1. Khái niệm, đặc điểm TSCĐ 253
2.3.2. Phân loại TSCĐ 254
2.3.3. Nhiệm vụ của kế toán TSCĐ 254
2.3.4. Kế toán chi tiết TSCĐ 255
2.3.5. Kế toán tổng hợp TSCĐ 258
2.4. KẾ TOÁN THANH TOÁN 266
2.4.1. Những vấn đề chung về kế toán thanh toán. 266
2.4.2. Kế toán các khoản nợ phải thu. 267
2.4.3. Kế toán các khoản nợ phải trả 275
2.4.4. Kế toán thanh toán nội bộ 283
2.5. KẾ TOÁN THU, CHI HOẠT ĐỘNG TẠI ĐƠN VỊ HCSN 285
2.5.1. Khái quát về các hoạt động trong đơn vị HCSN 285
2.5.2. Phương pháp hạch toán các hoạt động thu, chi hành chính sự
nghiệp 286
2.5.3. Các bút toán chủ yếu hạch toán nguồn kinh phí 287
2.5.4. Hạch toán chi hoạt động 288
1). Tài khoản sử dụng 288
2). Các bút toán chủ yếu về hạch toán chi hoạt động 289
TÀI LIỆU THAM KHẢO 315
PHỤ LỤC 318
16
Phần 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG Ở
ĐỊA PHƯƠNG
17
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH CÔNG
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT TÀI CHÍNH CÔNG
Cho dù tài chính công là một thuật ngữ khá thông dụng ở các nước công
nghiệp phát triển nhưng chỉ thực sự xuất hiện ở nước ta khoảng hơn 10 năm nay.
Trước đây, trong kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức sở hữu tập thể và sở
hữu nhà nước chiếm vị trí thống trị, Nhà nước bao trùm gần như toàn bộ không
gian KT-XH. Nhà nước chăm lo hầu hết đời sống cán bộ, từ lúc sinh ra đến khi qua
đời thông qua hệ thống phân phối tem phiếu và theo giá do nhà nước quy định, từ
việc ăn, mặc, ở, đi lại, ốm đau Trong bối cảnh đó, tài chính nhà nước đồng nghĩa
với tài chính công, không cần thiết phải có thuật ngữ tài chính công. Từ khi thực
hiện đường lối đổi mới (1986), phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
thì thuật ngữ tài chính công mới có điều kiện xuất hiện, mà đúng hơn là du nhập từ
các nền kinh tế thị trường.
Sau hơn 20 năm đổi mới, Nhà nước đã giảm mạnh bao cấp, các cơ chế thị
trường hóa và xã hội hoá đã được hình thành và ngày càng mở rộng để thu hút các
nguồn lực đa dạng của nền kinh tế cho phát triển, phạm vi can thiệp của tài chính
nhà nước dần được thu hẹp lại, thuật ngữ tài chính công dần được hình thành và sử
dụng rộng rãi. Tuy nhiên, khi quan niệm về tài chính công (TCC), xuất phát từ
nhiều cách tiếp cận và vì nhiều lý do nên hiện nay có khá nhiều quan điểm khác
nhau.
Có quan điểm cho rằng: “TCC là một bộ phận của tài chính nói chung và
của tài chính nhà nước nói riêng
1
phân biệt TCC với tài chính tư. Theo quan điểm này, TCC phục vụ cho các mục
đích chung của quốc gia, cộng đồng, tổ chức kinh tế thuộc sở hữu công cộng, tổ
18
chức xã hội. Theo đó, thuộc về TCC có ngân sách nhà nước (NSNN), các quỹ
TCNN, các quỹ của các tổ chức xã hội và tài chính các DNNN (DNNN, bao gồm
cả các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm thuộc sở hữu nhà nước). Tài
chính tư là tài chính phục vụ cho các mục đích kinh tế tư nhân, hộ gia đình. Thuộc
về tài chính tư có tài chính các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, tài chính các hộ
gia đình. Cũng theo quan điểm này, nếu dựa vào tiêu thức sở hữu nguồn tài chính
thì có thể phân biệt TCNN với tài chính phi nhà nước. TCNN thuộc sở hữu nhà
nước, phục vụ hoạt động của bộ máy nhà nước để thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước, đồng thời phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội. Theo đó, TCNN
bao gồm NSNN, tín dụng nhà nước, tài chính của các cơ quan hành chính nhà
nước, tài chính các đơn vị thuộc Nhà nước quản lý như DNNN, các đơn vị sự
nghiệp nhà nước, các tổ chức tài chính trung gian thuộc sở hữu nhà nước như
NHNN (NHNN), ngân hàng thương mại quốc doanh, công ty bảo hiểm, công ty
chứng khoán thuộc sở hữu nhà nước; các quỹ TCNN khác như quỹ dự trữ quốc gia,
quỹ dự trữ ngoại tệ, BHXH, hỗ trợ phát triển Theo đó, các quỹ điều hòa lưu thông
tiền tệ, quỹ tiền gửi bắt buộc (là những quỹ điều hành nghiệp vụ của hệ thống ngân
hàng) cũng thuộc TCNN
6
.
Để hiểu rõ khái niệm tài chính công, cần thống nhất nhận thức rằng TCC là
tài chính của Nhà nước (trung ương), các cấp chính quyền địa phương, các đơn vị
hành chính, đơn vị sự nghiệp ở trung ương và địa phương. TCC phản ánh các quan
hệ kinh tế - tiền tệ phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ
tập trung của các “chủ thể công” - khác biệt với tài chính của các chủ thể là cá nhân,
hộ gia đình, hoặc doanh nghiệp - TCC phục vụ các hoạt động vì lợi ích cộng đồng
và chịu sự điều chỉnh của hệ “luật công”. Hoạt động TCC là hoạt động tạo lập và sử
dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với các chủ thể công mà trong đó NSNN là bộ phận
hệ thống an sinh xã hội, hệ thống thu phí giáo dục, phòng chữa bệnh đắt đỏ, ngăn
cản cơ hội tiếp cận sử dụng dịch vụ công cộng của người dân bình thường và các
tầng lớp khó khăn.
Nghiên cứu khái niệm, bản chất, chức năng, vai trò tài chính công không
những giúp củng cố nhận thức mà còn sẽ cung cấp những luận cứ xác đáng, tạo cơ
sở cho việc nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý, chế độ, chính sách, hoặc đổi mới cơ
cấu thu, chi của hệ thống tài chính công nhằm sử dụng hiệu quả các công cụ tài
chính phù hợp với quá trình phát triển kinh tế thị trường, bảo đảm công bằng xã hội,
tôn trọng lợi ích chính đáng của giai cấp cầm quyền và của nhân dân lao động.
Nghiên cứu tài chính công có nội dung quan trọng là nghiên cứu cơ chế,
chính sách huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính thuộc sở hữu công do các
chủ thể công nắm giữ, quản lý.
1.2. CÁC BỘ PHẬN HỢP THÀNH CỦA TÀI CHÍNH CÔNG
Về cấu trúc, tài chính công được cấu thành bởi hệ thống thuế, phí, lệ phí, hệ
thống NSNN, hệ thống bảo hiểm và an sinh xã hội, hệ thống các đơn vị quản lý
hành chính nhà nước các cấp, các đơn vị sự nghiệp công cung cấp các dịch vụ công
như giáo dục, y tế, văn hoá
Để hiểu chi tiết hơn về cấu trúc của tài chính công, cần xem xét theo những
tiêu chí khác nhau như sau.
1.2.1. Xét theo chủ thể quản lý trực tiếp
Xét theo chủ thể quản lý trực tiếp, TCC bao gồm: Tài chính chung của Nhà
nước và Tài chính của các đơn vị sử dụng kinh phí.
1). Tài chính chung của Nhà nước
Tài chính chung của Nhà nước tồn tại và hoạt động gắn liền với việc tạo lập
và sử dụng các quỹ tiền tệ chung của Nhà nước nhằm phục vụ cho hoạt động của
bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước.
Theo tính chất của các quỹ tiền tệ, tài chính chung của Nhà nước bao gồm
các bộ phận: NSNN và các quỹ ngoài NSNN, cả trung ương và địa phương.
Chủ thể trực tiếp quản lý NSNN là Nhà nước - Chính phủ và chính quyền
địa phương các cấp. Việc quản lý được thực hiện thông qua các cơ quan chức năng
3). Các quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN
Các quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN là các quỹ tiền tệ tập trung do Nhà
nước thành lập, quản lý và sử dụng nhằm cung cấp nguồn lực tài chính cho việc xử
lý những biến động bất thường trong quá trình PTKTXH; và để hỗ trợ thêm cho
NSNN trong trường hợp khó khăn về nguồn lực tài chính.
Hiện nay ở nước ta hệ thống các quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN đã và
đang được sắp xếp lại và bao gồm các quỹ chủ yếu sau:
- Quỹ Dự trữ quốc gia (dưới hình thức hiện vật)
- Quỹ Dự trữ tài chính
- Quỹ Dự trữ ngoại hối (do NHNN quản lý)
- Quỹ tích luỹ trả nợ nước ngoài
- Quỹ Bảo hiểm xã hội (bao gồm cả BHYT đã được sáp nhập).
21
- Quỹ quốc gia giải quyết việc làm và Quỹ tín dụng đào tạo. Hiện nay 2
quỹ này đã được sáp nhập vào Ngân hàng chính sách xã hội. Ngân hàng
chính sách xã hội là cơ quan quản lý nguồn tài chính sử dụng cho các
mục tiêu kể trên.
- Ngân hàng phát triển Việt Nam
- Quỹ Phòng chống ma tuý
- Hệ thống các quỹ môi trường (đã được thành lập ở Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh, ngành than)
- Quỹ đầu tư xây dựng CSHT ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (7 địa phương) và một số quỹ khác.
Ở các quốc gia khác nhau, thậm chí ngay trong một quốc gia, giữa các thời
kỳ phát triển khác nhau, việc tổ chức bao nhiêu quỹ tài chính nhà nước ngoài
NSNN là không giống nhau. Điều đó phụ thuộc vào mức độ PTKTXH, trình độ
quản lý TCNN của các quốc gia trong các thời kỳ lịch sử nhất định.
Từ các cách phân loại trên đây của TCC có thể rút ra nhận xét rằng: nguồn
vốn của TCC bao gồm các nguồn NSNN và ngoài NSNN. Trong đó, nguồn NSNN
có quy mô lớn nhất và giữ vai trò quyết định đến phạm vi cũng như hiệu quả hoạt
kỳ phát triển.
Hai là, phân phối các nguồn tài chính đã tập trung được cho các nhu cầu
chi tiêu theo những quan hệ tỷ lệ hợp lý nhằm vừa đảm bảo duy trì sự tồn tại và
tăng cường sức mạnh của bộ máy nhà nước, vừa bảo đảm thực hiện các chức
năng KT-XH của nhà nước đối với các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.
Ba là, kiểm tra giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối
được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các
yêu cầu của quản lý nhà nước và PTKTXH.
1.3.2. Vai trò là công cụ để nhà nước tác động vào nền KT-XH một
cách phù hợp với các quy luật khách quan
Do vị trí đặc biệt của mình, TCC đã trở thành công cụ đóng vai trò chủ yếu
trong việc điều chỉnh các quan hệ KT-XH nhằm đạt tới các mục tiêu đã định của
kinh tế vĩ mô. Có thể khái quát vai trò kể trên của TCC trên các khía cạnh chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất, TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh
tế, tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả của các hoạt động KT-XH.
Thứ hai, TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội
và giải quyết các vấn đề xã hội (vai trò xã hội của TCC).
1.3.3. Vai trò là công cụ để nhà nước điều tiết bảo đảm công bằng xã
hội, bổ khuyết cho các khuyết tật của thị trường, góp phần
bảo vệ môi trường
Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, những sự mất ổn định
trong quá trình PTKTXH là điều không tránh khỏi. Do đó, sự can thiệp và điều
chỉnh của Nhà nước một cách hợp quy luật khách quan là cần thiết và tất yếu nhằm
giữ vững sự ổn định của quá trình phát triển.
Trong kinh tế thị trường, các chủ thể của nền kinh tế chỉ tập trung quan tâm
đến tìm kiếm lợi nhuận khi kinh doanh, chỉ quan tâm đến lợi nhuận tài chính, ít
quan tâm đến môi trường sinh thái hoặc công bằng xã hội. Đó chính là những
khuyết tật cỗ hữu của thị trường.
Trong điều kiện đó, việc Nhà nước sử dụng tài chính của mình để tác động,
Quản lý TCC là quá trình mà chủ thể quản lý, thông qua việc sử dụng có
chủ định các phương pháp và các công cụ quản lý, tác động và điều khiển hoạt
động TCC nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Trong hoạt động quản lý các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý,
công cụ quản lý, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những vấn đề trọng tâm,
đòi hỏi phải được nhận thức và xác định đúng đắn.
Quản lý TCC là một nội dung của quản lý tài chính và là một bộ phận của
quản lý xã hội nói chung. Trong đó, chủ thể quản lý cao nhất là Nhà nước, tiếp theo
là các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo
lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Các cơ quan được giao chức năng,
nhiệm vụ trực tiếp quản lý TCC thông thường là bộ máy tài chính trong hệ thống
các cơ quan nhà nước.
Đối tượng quản lý của TCC là các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền
tệ diễn ra trong các bộ phận cấu thành của TCC.
Hoạt động quản lý các đối tượng quản lý trong từng lĩnh vực cấu thành của
tài chính công chính là các nội dung chủ yếu của quản lý TCC.
Các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp và công cụ quản lý
khác nhau để quản lý. Các phương pháp thường được sử dụng, như phương pháp tổ
chức, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế.
24
Các công cụ thường được sử dụng, bao gồm công cụ pháp luật, các chính
sách công và chính sách tài chính công, các đòn bẩy kinh tế, tài chính, các công cụ
kiểm tra, thanh tra, giám sát; các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý TCC
2.1.2. Đặc điểm của quản lý TCC
Về đối tượng của quản lý TCC. Đối tượng của quản lý TCNN là các hoạt
động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của TCC. Các hoạt động của TCC lại luôn
gắn liền với các cơ quan nhà nước - các chủ thể của TCC. Các cơ quan này vừa là
người thụ hưởng nguồn kinh phí của TCC, vừa là người tổ chức các hoạt động của
TCC. Do đó, vừa là chủ thể, vừa trở thành đối tượng của quản lý TCC. Vì vậy, sự
kết hợp chặt chẽ giữa quản lý con người với quản lý hoạt động tài chính là đặc điểm
động của tổng nguồn lực TCC - sự vận động về mặt giá trị, trên cơ sở tính toán để
đảm bảo cân đối với sự vận động của các luồng của cải vật chất và lao động - sự
vận động về mặt giá trị sử dụng, trong đời sống thực tiễn. Kết hợp quản lý, đảm bảo
25
tính thống nhất giữa hiện vật và giá trị, giá trị và giá trị sử dụng cũng là một đặc
điểm quan trọng của quản lý TCC.
2.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG
Quản lý TCC có nội dụng đa dạng và phức tạp. Xét theo các bộ phận cấu
thành các quỹ, thì nội dung chủ yếu của quản lý TCC bao gồm: quản lý NSNN và
quản lý các quỹ TCC ngoài NSNN.
2.2.1. Quản lý NSNN
Quản lý NSNN được thể hiện chủ yếu trên 4 phương diện:
- Quản lý quá trình thu NSNN
- Quản lý quá trình chi NSNN
- Quản lý và thực hiện các biện pháp cân đối thu, chi NSNN
- Phân cấp quản lý NSNN.
1). Quản lý quá trình thu NSNN
Thu NSNN được thực hiện bằng các hình thức: (i) bắt buộc như thuế, phí, lệ
phí; (ii) bán tài nguyên, tài sản quốc gia; (iii) các khoản thu từ phân phối lợi nhuận
trong các DNNN. Ngoài ra, tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi nước mà còn có các
hình thức động viên khác như hình thức trưng thu, trưng mua Quản lý quá trình
thu NSNN chính là quản lý các hình thức động viên đó.
Yêu cầu cơ bản quản lý quá trình thu NSNN là:
- Đảm bảo tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính quốc gia vào tay Nhà
nước để trang trải các khoản chi phí cần thiết của Nhà nước trong từng giai đoạn
lịch sử.
- Đảm bảo khuyến khích, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra nguồn thu của
NSNN ngày càng lớn hơn.
- Trong quá trình quản lý thu phải coi trọng yêu cầu công bằng xã hội, đảm
bảo thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan có thẩm