tai lieu on thi triet hoc chuong trinh cao hoc kinh te da nang - Pdf 13

Contents
Contents 1
Câu 1 : Quan điểm chính trị xã hội của Nho gia. Nhận xét mặt tích cực và hạn chế. So
sánh đường lối chính trị của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia 1
Câu 2 : Bản thể luận và nhân sinh quan của Phật giáo trong triết học ấn Độ cổ đại. Nhận
xét mặt tích cực và hạn chế 6
Cõu 4 : Sự đối lập giữa quan điểm duy tâm và duy vật, biện chứng và siêu hình trong triết
học Hy Lạp cổ đại 8
Câu 5 : Quan điểm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ (về quan hệ giữa triết học với tôn
giáo, về vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, con người và xã hội) 9
Cõu 6 : Những thành tựu và những hạn chế của chủ nghĩa duy vật Tây Âu thế kỷ XVII-
XVIII 11
Câu 7: những luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa hiện sinh. Mặt tích cực và ảnh hưởng tiêu
cực của nó 12
Câu 8: Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do các Mác và ăngghen thực hiện, V.
I. Lê nin phát triển 15
Cõu 9: Bản chất thế giới quan duy vật biện chứng. các nguyờn tắc phương pháp luận của
nó và sự vận dụng trong thực tiễn cách mạng XHCN ở Việt Nam 17
Câu 10: Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật (hai nguyên lýí, ba qui luật
và 6 cặp phạm trù) và ý nghĩa PPL của nó (các nguyên tắc :toàn diện, phát triển và lịch sử
cụ thể) 20
Câu 11: Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn. Quan hệ giữa lý luận và thực tiễn,
ý nghĩa phương pháp luận của nó: 22
Câu 12: Khái niệm, cấu trúc của hình thái kinh tế xã hội. Phép biện chứng của sự vận
động, phát triển các hình thái KT-XH. Con đường đi lên CNXH ở VN: 23
Câu 13 : Quan điểm mác xít về giai cấp, đấu tranh giai cấp và quan hệ giữa giai cấp, dân
tộc và nhân loại. Sự vận dụng trong đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay: 25
Cõu 14: Quan điểm Maxit về bản chất, nguồn gốc, chức năng của nhà nước. Vấn đề XD
nhà nước pháp quyền XHCN ở VN 27
Cõu 15: Quan điểm macxit và tư tưởng HCM về bản chất của con người và ý nghĩa của
nú 28

cụ thể. Trong đạo nhân, hiếu là gốc. Hiếu khơng chỉ thể hiện ở việc ni nấng cha mẹ mà quan
trọng là lòng thành kính.
-Nghĩa: là hành vi đạo đức biểu hiện đức nhân. Người làm việc nghĩa thì hy sinh lợi ích của mình,
vì người khác. Nghĩa và lợi khơng thể dung hợp nhau.
-Lễ: bao gồm nhiều mối quan hệ rộng lớn từ quan hệ với thần linh đến quan hệ ứng xử giữa
người với người, quan hệ đạo đức, phong tục tập qn, quan hệ nhà nước, luật pháp, Trong
quan hệ với nhân, lễ là hình thức để thể hiện lòng nhân. Tn theo lễ là điều kiện thực hiện nhân
đức. Người qn tử khơng bao giờ làm trái với lễ. Cùng với lễ, nhạc cũng có vai trò quan trọng.
Nhạc mà chính trực, trang nghiêm, hồ nhã có tác dụng ni dưỡng tâm tính, cảm hố lòng
người, hướng cái tâm con người tới chân, thiện, mỹ.
-Chính danh: Coi chính danh là điều cơ bản để trị nước. Một trong những ngun nhân loạn lạc
của xã hội là do danh thực khơng phù hợp nhau, vì theo ơng nếu danh thực khơng phù hợp nhau;
mà ngơn khơng thuận thì sự việc khơng thành; sự việc khơng thành thì lễ nhạc khơng hưng thịnh.
Danh là tên, khái niệm, bản chất. Chính danh có nghĩa là người ở cương vị nào thì phải xứng
đáng với cương vị đó, phải làm đúng danh phận, chức trách của mình.
Nhân, nghĩa, lễ, chính danh khơng chỉ đạo làm người, mà còn là đạo trị nước. Để cai trị đất nước,
người cầm quyền trước hết phải có đạo đức.
Để cho đất nước thịnh trị, phải biết thượng hiền. Phải thực hiện 3 điều là thực túc, binh cường,
dân tín. Nếu bất đắc dĩ phải bỏ bớt những điều trên, thì trước hết bỏ bỏ binh cường, sau đó bỏ
thực túc, nhưng khơng bỏ lòng tin của dân được, nếu khơng chính quyền sẽ sụp đổ.
Đường lối nhân trị của Khổng Tử có tính chất điều hồ mâu thuẫn giai cấp, phản đối đấu tranh.
Khun giai cấp thống trị phải biết u thương, tơn trọng, chăm lo nhân dân. Dân phải an phận,
lấy nghèo làm vui, coi việc ốn trách cảnh nghèo hèn, ưa dùng bạo lực là mầm móng của loạn.
*Mạnh Tử:
Một trong những quan điểm quan trọng nhất của học thuyết Mạnh Tử là thuyết tính thiện. Mạnh
tử đưa ra 3 căn cứ để lý giải bản tính của con người là bản tính thiện: Tính thiện của con người
biểu hiện ở bốn đức tính lớn: nhân, nghĩa, lễ, trí. Bốn đức lớn đó bắt nguồn ở tứ đoan (4 đầu mối
của thiện) đó là lòng trắc ẩn (biết thương xót), lòng u tố (biết thẹn, ghét), lòng từ nhượng (biết
cung kính) và lòng thị phi (biết phải trái). Bản tính thiện của con người cũng xuất phát từ cái
2

trị trong thiên hạ: trời đất là cái đầu sự sinh, lễ nghĩa là cái đầu sự trị, quân tử là cái đầu lễ nghĩa.
Lễ là cốt để phân biệt ra trật tự và định giới hạn cho minh bạch, khiến việc hành động của nhân
dân không rối loạn, ông tin rằng dùng lễ có hiệu quả rất lớn về việc xã hội và quốc gia trọng lễ
quý nghĩa thì nước trị, giản lễ rẻ nghĩa thì quốc loạn. Theo ông, lễ có ảnh hưởng đến sự linh hoạt
của người ta ở trong xã hội mà việc trị loạn đều bởi đó mà ra. Ông cho rằng làm vua muốn được
dân yêu dân quý tài phải có nhân có nghĩa hết nhân với thiên hạ thì ai cũng yêu, hết nghĩa với
thiên hạ thì ai cũng quý. Vậy lấy nhân nghĩa mà trị thiên hạ thì thiên hạ cho ngôi vua là gốc
chung của thiên hạ. Nguời dân tuy phải phục tùng theo vua nhưng khi vua là kẻ tàn ác thì dân có
quyền được trừ bỏ đi. Phạt người có tội là để khiến những kẻ gian ác đừng làm những điều phi
pháp và sự thưởng phạt của vua bao giờ cũng phải công minh và xứng đáng.
b.Nhận xét mặt tích cực và hạn chế:
* Ưu điểm:
-Đề cập đến tất cả các vấn đề của triết học, nhưng tập trung vào vấn đề chính trị xã hội, đạo đức;
-Có nhiều yếu tố duy vật, vô thần và tư tưởng biện chứng tự phát;
-Có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử Trung Hoa và nhiều dân tộc xung quanh;
-Có đóng góp to lớn vào kho tàng tư tưởng của nhân loại.
3
* Nhược điểm:
- Nặng về giáo dục chính trị đạo đức không coi trọng việc giáo dục tri thức khoa học, kỹ thuật.
Khổng Tử coi sản xuất là công việc của kẻ tiểu nhân, không phải là trách nhiệm của người quân
tử;
- Chủ trương theo khuôn mẫu cũ, không khuyến khích việc sáng tạo ra cái mới;
- Trong thời kỳ trung đại chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ tư tuởng chính trị và đạo đức phong
kiến;
- Tư tuởng triết học và đường lối giáo dục không gắn khoa học với kỹ thuật và sản xuất;
- Sự thống trị của hệ tư tuởng Nho gia trong suốt thời kỳ phong kiến đó làm mất đi tính sáng tạo
và tự do tư tưởng trong thời cổ đại.
c. Đường lối chính trị xã hội của phái Đạo gia
Nếu đường lối chính trị xã hội của phái Nho gia là chủ trương theo đường lối đức trị, chú tâm đến
việc trị dân, giáo dục dân theo Nhân, Nghĩa, Lễ, Chính danh thì đường lối chính trị xã hội của

có thể đánh giá chính xác được. Hàn Phi phê phán chủ trương phục cổ, sùng bái các vua đời xưa
của Nho gia, Đạo gia.
4
Hàn Phi cũng dựa vào thuyết tính ác của Tuân Tử để khẳng định tính đúng đắn của chủ trương
pháp trị, Hàn Phi cho rằng con người có bản tính ích kỷ, thích tìm điều lợi, tránh điều hại. Vì thế
người ta luôn chỉ lo mưu lợi cho bản thân mình. Do đó phải căn cứ vào tâm lý tránh hại và cầu lợi
của con người để đặt pháp luật trọng thưởng nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội.
Hàn Phi phê phán ảo tưởng và sự có hại trong đường lối đức trị của Nho gia. Ngoài ra ông cũng
lập luận rằng người thiện trong xã hội rất ít, người bất thiện thì nhiều. Do đó trị nước phải căn cứ
vào số đông mà dùng pháp trị.
- Thế, theo quan niệm Hàn Phi là địa vị, thế lực quyền uy của người cầm đầu. Kiệt làm thiên tử,
chế ngự được thiên hạ không phải vì hiền mà vì có quyền thế. Nghiêu thất phu không trị nổi ba
nhà không phải vì hiền, mà vì địa vị thấp
- Thuật, phương pháp mưu lược thủ đoạn trong việc trị dân. Nếu pháp được công bố rộng rãi thì
thuật là cơ trí, thủ đoạn ngấm ngầm của vua không để ai biết. Chính vì thế Hàn Phi nói vua dùng
luật như trời, dùng thuật như quỷ.
Thuật của Pháp gia có kế thừa yếu tố chính danh của Nho gia. Vua cứ theo thuật “lấy danh mà
trách thực” để thưởng phạt. Thưởng phạt được ví như hai tay của vua hay hai cái cán của thuật.
Vua cần thường xuyên kiểm tra bề tôi bằng cách tự mình trực tiếp hay thông qua nguời được vua
giao. Vua phải luôn luôn giữ kín sở thích, tâm ý của mình, không cho người khác biết được để lợi
dụng gièm pha, xu nịnh hoặc làm hại vua.
e. So sánh đường lối chính trị của Phái Nho gia, Đạo gia và Pháp gia:
* Giống nhau:
- Đề cập đến tất cả các vấn đề của triết học, nhưng tập trung vào vấn đề chính trị xã hội, đạo đức;
Có nhiều yếu tố duy vật, vô thần và tư tưởng biện chứng tự phát; Có ảnh hưởng sâu rộng trong
lịch sử Trung Hoa và nhiều dân tộc xung quanh; Có đóng góp to lớn vào kho tàng tư tưởng của
nhân loại.
- Nặng về giáo dục chính trị đạo đức không coi trọng việc giáo dục tri thức khoa học, kỹ thuật;
Chủ trương theo khuôn mẫu cũ, không khuyến khích việc sáng tạo ra cái mới; Trong thời kỳ
trung đại chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ tư tuởng chính trị và đạo đức phong kiến; Tư tưởng triết

Người cầm quyền mà
dùng mưu trị nước là
cái hoạ cho nước
Vua dùng luật như trời,
dùng thuật như quỷ. Vua
thường xuyên kiểm tra bề
tôi và luôn giữ kín sở
thích và tâm ý của mình
3,Đường lối cai
trị nước
-Đường lối nhân trị có
tính chất điều hoà mâu
-Dân chỉ cần “no
bụng”, không dùng luật
-Để cai trị xã hội cần 3
yếu tố: Pháp, Thuật và
5
thuẫn giai cấp, phản đối
chiến tranh. Khuyên giai
cấp thống trị yêu
thương, chăm lo cho
nhân dân và dân phải an
phận
-Thực hiện 3 điều: Thực
túc, binh cường và dân
tín. Dân tín là quan trọng
nhất
-Phản đối cai trị bằng
bạo lực, phân biệt vương
chính với bá chính. Coi

tưởng của giai cấp quý tộc
mới.
Tóm lại mỗi trường phái triết học trên đều có những ưu điểm riêng nhưng bên cạnh đó cũng tồn
tại những nhược điểm của nó nhưng nhìn chung các trường pháp này đã có những đóp góp to lớn
vào kho tàng tư tưởng của nhân loại.
Câu 2 : Bản thể luận và nhân sinh quan của Phật giáo trong triết học ấn Độ cổ đại. Nhận xét
mặt tích cực và hạn chế.
Phật giáo là một trường phái triết học tôn giáo xuất hiện sớm, ra đời trong làn sóng đấu tranh
chống lại sự thống trị của đạo Bàlamôn, chống lại phân biệt đẳng cấp và đòi bình đẳng xã hội; do
Tất Đạt Đa sáng lập, ông xuất gia đi tìm con đường giải thoát, sau khi tu luyện giác ngộ ông lấy
hiệu Buddha, thu nhận đồ đệ và đi khắp nước Ấn Độ để truyền bá học thuyết của mình.
*Quan điểm bản thể luận:
Là trường phái triết học vô thần (không triệt để), có một số yếu tố duy vật, biện chứng. Nhưng
nhìn chung là một trào lưu triết học duy tâm chủ quan.
-Về nguồn gốc thế giới:
Thế giới tồn tại khách quan không phụ thuộc vào thần thánh, không do thần thánh sáng tạo ra.
Phật giáo không thừa nhận Brahma- sáng tạo thế giới và atman- linh hồn bất tử. Thừa nhận có
thần tiên là đẳng cấp cao hơn con người, nhưng không có vai trò đặc biệt, không sáng tạo ra thế
giới. Vũ trụ vô cùng vô tận với hàng nghìn thế giới chia thành tiểu thiên, trung thiên và đại thiên
thế giới. Thế giới do các yếu tố vật chất và tinh thần kết hợp với nhau tạo nên. Vật chất gồm: sắc-
là những yếu tố có hình thù như đất, nước, lửa, gió và không- là những yếu tố không có hình thù.
Các yếu tố tinh thần gọi là danh, thụ, thưởng, hành, thức. Con người do 5 yếu tố tạo nên (ngũ
uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức). Dùng thuyết nhân quả để giải thích nguồn gốc của tất cả các sự
vật, hiện tượng. Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân, nhân kết hợp với duyên thì sinh ra
quả. Quả kết hợp với duyên lại biến thành nhân và sinh ra quả khác.
-Về sự biến đổi của thế giới: Phật giáo đưa ra thuyết vô thường, vô ngã
+Vô thường: không có gì ổn định, bất biến. Thế giới biến đổi không ngừng, sự biến đổi diễn ra
trong khoảng khắc gọi là niệm vô thường và sự biến đổi diễn ra theo những chu kỳ nhất định gọi
là nhất kỳ vô thường.
6

Ưu điểm:
-Là trường phát triết học vô thần (không triệt để), có yếu tố duy vật, biện chứng
-Chống lại sự phân biệt đẳng cấp, chủ trương bình đẳng xã hội
-Khinh ghét những ham muốn dục vọng vật chất tầm thường
-Có tính nhân đạo cao, khuyên con người làm điều thiện, tránh xa điều ác, thương yêu, cứu giúp
mọi người. Không dùng bạo lực trong quan hệ giữa các giáo phái khác nhau cũng như với các tôn
giáo khác
Nhược điểm:
-Phật giáo là trường phái duy tâm chủ quan, cho rằng nguyên nhân cơ bản của cái khổ là vô minh;
và sự sáng suốt, giác ngộ của con người là yếu tố quyết định sự giải thoát con người khỏi cái khổ.
-Cuộc đời là giả, ảo; mọi ham muốn đời thường đều tội lỗi. Trái lại Niết bàn, cái mà Phật cho là
thực tại thì hoá ra chỉ là điều tưởng tượng thuần tuý, không có gì làm bằng chứng.
7
-Nhận thức luận duy tâm. Theo Phật giáo, nhận thức chỉ thực hiện bằng sự tu luyện, thiền định.
Không nhận thức vai trò của nhận thức cảm tính và tư duy cũng như vai trò của hoạt động thực
tiễn đối với nhận thức
-Xa lánh cuộc đời, phủ nhận sự biến đổi, cải tạo xã hội bằng thực tiễn cách mạng.
Cõu 4 : Sự đối lập giữa quan điểm duy tâm và duy vật, biện chứng và siêu hình trong triết học
Hy Lạp cổ đại.
Triết học Hy Lạp ra đời trong điều kiện chế độ chiếm hữu nô lệ đang cực thịnh, cuộc đấu tranh
giữa giai cấp nô lệ và chủ nô rất gay gắt. Sự phân công lao động trí óc và chân tay dẫn đến hình
thành một tầng lớp trí óc chuyên nghiên cứu triết học và khoa học. Sự phát triển thủ công nghiệp,
nông nghiệp, thương nghiệp và hàng hải dẫn đến sự ra đời hàng loạt đô thị và tạo điều kiện cho
sự phát triển triết học, khoa học, văn hoá, nghệ thuật. Các trường phái triết học Hy Lạp là thế giới
quan của giai cấp chủ nô. Các nhà triết học cho rằng chế độ nô lệ là hợp lý.
* Lênin coi cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm ở Hy Lạp cổ đại là
cuộc đấu tranh giữa hai đường lối: đường lối Democrit và đường lối Platon
- Về nguồn gốc của vũ trụ:
Democrit cho rằng cơ sở đầu tiên tạo nên vũ trụ là nguyên tử (atom: không thể phân chia được).
Nguyên tử là hạt vật chất nhỏ nhất không thể phân chia đuợc nữa. Nguyên tử đồng nhất về chất,

cấp: Nhà triết học làm vua, vệ binh bảo vệ đất nước, người lao động sản xuất. Đây là nhà nước
độc tài do giai cấp chủ nô thống trị.
Tóm lại, Lênin coi cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT ở Hy Lạp cổ đại là cuộc đấu tranh giữa
2 đường lối: đường lối Đêmôcrit và đường lối Platôn. Về bản thể luận, Đêmôcrit cho rằng cơ sở
đầu tiên tạo nên vũ trụ là nguyên tử, vũ trụ hình thành do sự va chạm nguyên tử, còn Platôn cho
rằng thế giới ý niệm có trước thế giới sự vật cảm tính, ý niệm là linh hồn của vũ trụ. Về vấn đề
nhận thức luận, Đêmôcrit cho rằng nhận thức bắt nguồn từ cảm giác. Nhưng nhận thức cảm tính
là sự nhận thức mờ tối, chỉ có nhận thức lý tính mới phát hiện ra nguyên tử, còn Platôn cho rằng
nhận thức là sự hồi tưởng của linh hồn về thế giới ý niệm có trước thế giới vật chất. Nhận thức
cảm tính chỉ là sự nhận thức cái bóng của ý niệm, chỉ cho ta những quan niệm, chứ không phải là
tri thức chân thực. Chỉ có nhận thức lý tính, tức nhận thức khái niệm mới đạt đến tri thức chân
thực. Đặc biệt hơn thế về đường lối chính trị, Đêmôcrit đứng trên lập trường của phái chủ nô dân
chủ, chống lại đường lối Platôn. Tuy nhiên ông vẫn coi chế độ nô lệ là hợp lý, còn Platôn đưa ra
Nhà nước lý tưởng là nhà nước cộng hoà gồm 3 đẳng cấp: Nhà nước triết học làm vua, Vệ binh
bảo vệ đất nước, Người lao động sản xuất. Đây là Nhà nước độc tài do giai cấp chủ nô thống trị.
* Sự đối lập giữa siêu hình và biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại được biểu hiện rõ
nhất qua hai trường phái triết học Hêraclit và trường phái Elê
-Hêraclit:
ông là người sáng lập ra phép biện chứng duy vật cổ đại. Tư tưởng biện chứng của ông được thể
hiện trong những câu châm ngôn nổi tiếng. Ông cho rằng vạn vật không ngừng biến đổi nhhư một
dòng chảy. Theo ông: “Mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều biến đổi”, “Người ta không thể tắm hai
lần trong cùng một dòng sông”.
Hêraclit nêu ra tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của mâu thuẩn, trong sự vật hiện tượng. Bất cứ sự
vật, hiện tượng nào cũng bao hàm những mặt đối lập, ông nói: “Cùng một cái ở trong chúng ta
sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già”.
Các mặt đối lập làm tiền đề cho nhau, có mặt này mới có mặt kia. “Bệnh tật làm cho sức khoẻ
quý hơn, cái ác làm cho cái thiện cao cả hơn, cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn”. Các mặt đối lập
có thể chuyển hoá lẫn nhau: ông nói: “Cái nóng lạnh đi, cái lạnh nóng lên, cái ướt khô đi, cái khô
ướt lại”
-Trường phái Elê: không thừa nhận sự vận động của thế giới

+Về xã hội: Nhà nước là vương quốc điều ác. Nhà thờ là vương quốc của sự thánh thiện. Do đó,
quyền lực nhà thờ phải được đặt trên quyền lực của nhà vua. Ông tích cực bảo vệ sự bất bình
đẳng xã hội. Thượng đế ban thưởng cho người này sung sướng và bắt người kia phải chịu đoạ
đày khốn khổ. Người nghèo không nên yêu của cải, mà chỉ nên yêu Thượng đế vì cuộc sống trần
gian chỉ là tạm bợ.
+Về con người: Con người do Thượng đế sáng tạo ra. Con người có tự do trong giới hạn sự tiền
định của Thượng đế. Con người là “kẻ bộ hành tạm thời trên trái đất” là “cây nến trước gió
mạnh”. Cuộc sống trần gian là tội lỗi, tạm thời và chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cữu ở thế
giới bên kia. Giới tự nhiên vật chất là đáng nguyền rũa, người ta càng chóng thoát khỏi xiềng
xích của nó thì càng chóng đạt tới hạnh phúc.
*Chủ nghĩa kinh viện Tây Âu trung cổ. Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học là phái
duy danh và phái duy thực
-Chủ nghĩa kinh viện là triết học chính thống của giai cấp phong kiến Tây Âu trung cổ, được
chính thức giảng dạy trong nhà trường. Về bản chất, nó là thứ triết lý viễn vông, xa rời hiện thực,
không quan tâm đến nội dung mà chỉ chú trọng đến sách vở kinh điển, tranh cãi với nhau những
vấn đề vô bổ.
-Cuộc đấu tranh giữa phái duy danh và phái duy thực về vấn đề giữa cái chung và cái riêng; giữa
khái niệm và sự vật. Phái duy thực: cho rằng cái chung, cái phổ biến, khái niệm là thực tại, có
trước thế giới vật chất. Nó là thực thể tinh thần không phụ thuộc vào sự vật cụ thể. Phái duy
danh: cho rằng cái chung, cái phổ biến, khái niệm không có tính thực tại. Nó chỉ là tên gọi mà
con người đặt ra cho các sự vật, hiện tượng. Không có cái nhà, con người nói chung mà chỉ có cái
nhà và con người cụ thể.
-Tômat Đacanh: Triết học của ông được Nhà thờ coi là học thuyết duy nhất đúng đắn và lấy làm
hệ tư tưởng của mình.
+Về quan hệ giữa triết học và thần học: ông cho rằng, đối tượng của triết học là chân lý của lý trí,
đối tượng của thần học là chân lý của niềm tin. Niềm tin cao hơn lý trí, do đó triết học phải phục
tùng tôn giáo. Triết học là tôi tớ của tôn giáo.
+Về bản thể luận: ông cho rằng, giới tự nhiên là do Thượng đế sáng tạo ra. Mọi trật tự trong tự
nhiên, từ sự vật không có linh hồn đến con người rồi đến thần thánh và sau cùng là Chúa trời đều
10

chức năng chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc cách mạng tư sản.
-Về vai trò của triết học và khoa học: các nhà triết học duy vật đề cao vai trò của triết học và khoa
học trong việc nhận thức quy luật và sức mạnh tự nhiên, giúp con người làm chủ tự nhiên.
-Về bản thể luận: các nhà triết học đứng trên lập trường duy vật vô thần, chống lại thế giới quan
duy tâm, tôn giáo của Nhà thờ. Họ khẳng định vật chất tự nhiên là thực thể duy nhất. Vật chất
luôn luôn vận động. Vận động do nguyên nhân bên trong của vật chất. Tuy nhiên thế giới quan
của họ nhìn chung là siêu hình và máy móc.
-Về con người: con nguời là sản phẩm của tự nhiên, là thể thống nhất giữa cơ thể và ý thức. Họ
bác bỏ linh hồn bất tử, linh hồn tách rời cơ thể. Theo họ nhân cách con người là sản phẩm của
hoàn cảnh và giáo dục. Tuy nhiên họ chưa thoát khỏi cách nhìn nhận máy móc về con người.
-Về nhận thức: các nhà triết học duy vật đề cao vai trò nhận thức cảm tính, của tư duy và thực
nghiệm khoa học.
-Về chính trị xã hội: Họ chống lại tư tưởng và trật tự phong kiến, tuyên truyền tư tuởng chính trị
của giai cấp tư sản. Họ đưa ra thuyết kết ước xã hội. Theo họ nhà nước là do sự thoả thuận giữa
các tầng lớp nhân dân lập ra. Họ đề cao hình thức nhà nước dân chủ, chống lại quyền lực phong
11
kiến và nhà thờ. Nhà nước là kết quả của sự thoả thuận chung theo kết ước của xã hội, không hề
có nguồn gốc thần thánh. Tuy nhiên họ chưa thấy được tính giai cấp của nhà nước.
-Về vấn đề tôn giáo: họ vạch trần bản chất tôn giáo và tính phản động, phản tiến bộ của nó. Theo
họ, tôn giáo là do con người sáng tạo ra. Tuy nhiên họ chỉ thấy nguồn gốc nhận thức, chưa thấy
nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Họ chủ trương xoá bỏ tôn giáo bằng cách giáo dục quần chúng và
tiêu diệt giới tu hành.
Câu 7: những luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa hiện sinh. Mặt tích cực và ảnh hưởng tiêu cực
của nó.
a- Nguồn gốc ra đời
Chủ nghĩa hiện sinh có nguồn gốc từ nhà triết học kiêm thần học Đan Mạch tên là Kiêckêgô.
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời do hai nguồn gốc:
- Sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản đó đẩy con người vào tình trạng tha hóa cùng cực. Hai
cuộc chiến tranh thế giới do chủ nghĩa đế quốc gây ra đó đem lại sự tàn phá, đau thương chết
chóc khủng khiếp, gây ra tình trạng khủng hoảng sâu sắc trong đời sống tinh thần của con người.

đồng nhất với chính nó, không có quan hệ gì với cái khác, không cần bất cứ một cái gì khác làm
nguyên nhân, cứu cánh cho nó. Nó chẳng là cái gì cả. Nó là tồn tại hổn độn, thừa thải, phi lý và
gây ra sự buồn nôn.
Tồn tại cho nó là tồn tại có ý thức, ý thức về đối tượng và về chính mình. Tồn tại cho nó không
phải là ý thức thuần tuý, và ý thức về một đối tượng. Đó là sự sáng suốt mà nhờ đó đối tượng
được nhận thức. Tồn tại cho nó cũng là tự ý thức, nghĩa là biết được là mình đang có ý thức về
đối tượng. Con người là một tồn tại cho nó, một tồn tại có ý thức.
Các nhà phân tích chủ nghĩa hiện sinh thường phân biệt khái niệm tồn tại với khái niệm hiện sinh
hay hiện hữu. Chỉ có tồn tại có ý thức mới là sự hiện hữu, sự hiện sinh, và như vậy chỉ con người
mới có hiện hữu, hiện sinh, còn đồ vật chỉ đơn giản tồn tại mà thôi. Đồ vật chỉ hiện hữu khi con
người có những cảm xúc về nó; sự hiện hữu của đồ vật là do con người đem lại.
Rõ ràng quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh về tồn tại và con người là một quan điểm duy tâm chủ
quan, siêu hình. Tồn tại tự nó là những đồ vật không có quan hệ với nhau, không thể nhận thức
được. Còn tồn tại của con người là tồn tại có ý thức. Tồn tại của con người bị đồng nhất với ý
thức. Con người trong chủ nghĩa hiện sinh là một cá nhân đơn nhất, với những tâm lý, những xúc
cảm, những đau khổ, những trăn trở riêng tư của nó; con người bị chia cắt khỏi mặt sinh học của
nó, khỏi những quan hệ xã hội và hoạt động thực tiễn của xã hội.
+ Về quan hệ giữa hiện sinh và bản chất
Các nhà hiện sinh cho rằng hiện sinh có trước bản chất, hiện sinh là tính thứ nhất so với bản chất.
Con người không có một bản chất vốn có nào cả, nó không giống như cái tên của nó, nó không
phải là cái mà người định nghĩa về nó, không phải là bản chất mà triết học, khoa học gán cho nó.
Mỗi cá nhân trở thành cái gì là do sự hiện sinh của nó, do ý thức của nó. Giữa cá nhân này với cá
nhân khác không có một bản chất chung nào cả. Đồ vật cũng vậy, nó không phải là cái tên mà
người ta đặt cho nó, cái bản chất mà người ta gán cho nó ngay từ đầu, một cái bản chất có sẳn, có
trước nào cả.
Trong tác phẩm Buồn nôn của Sartre, nhân vật Roquentin đang ngồi trên một cái ghế trên chiếc
xe buýt. Anh ta phát hiện ra sự hiện sinh của nó, nó không phải là cái ghế mà người ta đó đặt tên
cho nó như vậy. Roquentin phát hiện ra rằng những đồ vật, trong sự hiện sinh đích thực của
chúng, không có liên quan gì đến những cái tên mà chúng ta đặt cho chúng, không có liên hệ gì
với bản chất mà chúng ta gán cho chúng. Nghĩa là, sự hiện sinh của đồ vật là hoàn toàn do cảm

+ Cỏi chết
Đối với con người hiện sinh, cái chết là vấn đề quan trọng nhất. Con người hiện sinh là con người
luôn sợ hãi trước cái chết, vì sự sống là sự tồn tại dẫn đến cái chết. Cái chết treo lơ lửng trên đầu,
trong mỗi giây phút của cuộc sống. Theo Sartre, cái chết cũng phi lý như sự sinh ra. Nó không là
cái gì khác hơn là chỉ xoá đi sự hiện hữu của tôi. Cái chết cũng là một bằng chứng khác về sự phi
lý của cuộc đời.
+ Sự tha hóa
Khái niệm tha hoá được Hêghen, Phoiơbăc, Mác và một số nhà triết học dùng trong những bối
cảnh nhất định. Thí dụ, Phoiơbăc nói về sự tha hoá của con người trong niềm tin tôn giáo, con
người đánh mất bản chất sáng tạo của mình trong sự tôn thờ thần thánh; anh ta càng hiến dâng
cho thần thánh nhiều bao nhiêu thì cái anh ta giữ lại cho mình càng ít bấy nhiêu. C. Mác nói về sự
tha hoá của con người lao động trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Lao động của
người công nhân không còn là cái thuộc về anh ta; sản phẩm lao động của anh ta cũng không
thuộc về anh ta.
Chủ nghĩa hiện sinh phát triển khái niệm tha hoá đến cực đoan, không thể chấp nhận được. Con
người hiện sinh là những người bị tha hoá, tách rời, trờ thành xa lạ với tất cả: với thế giới đồ vật,
với xã hội, trong lao động, trong quan hệ với người khác, kể cả trong quan hệ giữa cha mẹ và con
cái, giữa vợ chồng, giữa con cái với nhau, và kể cả sự tha hóa ngay cả trong tình yêu.
Sartre cho rằng: "địa ngục là những người khác" (L. Trong quan hệ với người khác bao giờ cũng
là quan hệ mâu thuẫn. quan hệ người chủ- người nô lệ. Người khác nhìn tôi, xâm phạm tự do của
tôi, biến tôi trở thành đối tượng của nó, thành đồ vật. Tôi cũng vậy, khi tôi tìm cách nô dịch
người khác thì người khác cũng tìm cách nô dịch tôi, khi tôi cố gắng giải thoát tôi khỏi người
khác thì người khác cũng tìm cách giải thoát họ ra khỏi tôi).
+ Tự do và trách nhiệm
Các nhà hiện sinh, đặc biệt là Sartre nói đến tự do với một ý nghĩa đặc biệt đến mức đôi khi họ
gọi triết học của mình là "triết học về tự do". Tự do là thuộc về con người. Con người - đó là tự
do. Ông nói, con người "bị kết án tự do". Các nhà hiện sinh giải thích tự do một cách chủ quan: tự
do là sự tự lựa chọn cái gì phù hợp với xúc cảm nội tâm, cái gì mà cá nhân coi là đúng đắn.
Tự do theo quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh là tự do tuyệt đối. Tự do là sự lựa chọn một cách
hoàn toàn chủ quan, không do bất kỳ sự quy định nào bên ngoài, không có bất kỳ tính tất yếu nào,

- Tuy nhiên chủ nghĩa hiện sinh là trào lưu triết học duy tâm, phủ nhận thực tại khách quan và
quy luật khách quan, phủ nhận khả năng nhận thức của con người nên không thể tìm ra con
đường đúng đắn để giải phóng con người.
- là trào lưu triết học bi quan về cuộc sống, tuyệt đối hoá tự do cá nhân đối lập với xã hội nên hậu
quả tiêu cực của nó đối với lớp trẻ là điều không thể tránh khỏi.
Câu 8: Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do các Mác và ăngghen thực hiện, V. I. Lê
nin phát triển
* Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do các Mác và ăngghen thực hiện.
Triết học Mác lênin là sự kế thừa có phê phán và chọn lọc những tư tưởng triết học của
nhân loại trong quá trình lịch sử . đồng thời sự ra đời của triết hoc Mác lênin là một bước ngoặc
vĩ đại trong sự phát triển tư tưởng triết học của nhân loại. triết học mác có những cái mới về chất
so với các hệ thống triết học trước đó.
+ Mác và angghen đó phát triển chủ nghĩa duy vật lên hình thức cao của nó là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và phát triển phép biện chứng lên hình thức cao là phép biện chứng duy vật. nếu trước
đây, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng tách rời nhau, chủ nghĩa duy vật thì siêu hình còn
phép biện chứng là duy tâm, thì sau khi triết học mới ra đời, chủ nghĩa duy vật và phép biện
chứng kết hợp với nhau thành một thể thống nhất.
+ Việc sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là biểu hiện quan trọng nhất của bước ngoặc cách
mạng trong triết học do mác và angghen thưc hiện. trước mác , các nhà triết học đều không tách
khỏi duy tâm khi giảỉ thích các hiện tượng xã hội. họ đều cho rằng tinh thần, tư tưởng là yếu tố
15
quyết định trong lịch sử. mác và angghen đó vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào đời sống
xã hội. vạch ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của con người. chính vì thế triết học Mac và chủ nghĩa duy vật cân đối hoàn chỉnh và
triệt để.nó bao quát cả tự nhiên xh và tư duy.
+ Triết học mác –lênin không chỉ giải thích thế giới mà vấn đề quan trọng là cải tạo thế giới. mác
viết “các nhà triết học đó chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, vấn đề là cải tạo thế
giới”.
+ Triết học mac lênin có sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học.
Với sự ra đời của triết học mác lênin, giai cấp vô sản và nhân dân lao động có một lý luận

trong vật lý học. chủ nghĩa duy tâm lợi dụng tỡnh trạng khủng hoảng này để tấn công và bác bỏ
chủ nghĩa duy vật. lênin phải tiến hành đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, bảo vệ và phát
triển chủ nghĩa duy vật.
2) Sự phát triển của lênin dối với triết học mac
16
Trước năm 1907, lênin lãnh đạo phong trào cơng nhân Nga, tiến hành đấu tranh chống
phái dân t. lênin viết các tác phẩm như: những người bạn dân thế nào và hộ đấu tranh chống
những người dân chủ - xã hội ra sao (1894); nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân t và sự phê
phán trong cuốn sách của storuvê về nội dung đó (1894); làm gì (1902); hai sách lược của đảng
dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ (1905).
Sau thất bại của cuộc cách mạng 1905-1907, lênin viết tác phẩm chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908); bút ký triết học (1914-1915). ba bộ phận cấu thành chủ
nghĩa mac; tác phẩm Karl Mác; chủ nghĩa cứu quốc; giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản
(1916); nhà nước và cách mạng (1917); trong tác phẩm chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán lênin phê phán chủ nghĩa duy tâm chủ quan và phát triển chủ nghĩa duy vật,
phát triển lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng trong tác phẩm bút ký triết học lênin tổng kết và
phát triển phép biện chứng duy vật.
Lênin đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa mac vào hồn cảnh cụ thể của nước Nga và lãnh
đạo thành cơng cuộc cách mạng vơ sản tháng 10 Nga, mở ra cho nhân loại một thời đại mới: thời
đại q độ từ CNTB lên CNXH trong phạm vi tồn thế giới.
Sau cách mang tháng 10, lênin nghiên cứu giải quyết các vấn đề cách mạng vơ sản, xây
dựng cương lĩnh xây dựng CNXH trong thời kỳ q độ, vấn đề xây dựng đảng và nhà nước.
những tác phẩm trong thời kỳ này là: những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xơ viết (1918);
bệnh ấu trỉ tả khuynh trong phong trào cộng sản (1920); về chính sách kinh tế mới (1921); về tác
dụng của chủ nghĩa duy vật đặt biệt trong chính sách kinh tế mới. lênin nêu lên tư tưởng về
kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ q độ lên chủ nghĩa xã hội.
Cõu 9: Bản chất thế giới quan duy vật biện chứng. các nguyờn tắc phương pháp luận của nó và
sự vận dụng trong thực tiễn cách mạng XHCN ở Việt Nam.

Cách 1

hóỷ qua laỷi giổợa caùc bọỹ phỏỷn, giổợa caùc yóỳu tọỳ, giổợa caùc màỷt cuớa chờnh sổỷ vỏỷt
vaỡ trong sổỷ taùc õọỹng qua laỷi giổợa sổỷ vỏỷt õoù vồùi caùc sổỷ vỏỷt khaùc, kóứ caớ mọỳi
lión hóỷ trổỷc tióỳp vaỡ giaùn tióỳp; chố trón cồ sồớ õoù mồùi nhỏỷn thổùc õuùng sổỷ vỏỷt.
Âọửng thồỡi quan õióứm toaỡn dióỷn õoỡi hoới chuùng ta phaới bióỳt phỏn bióỷt tổỡng mọỳi
lión hóỷ; phaới bióỳt chuù yù tồùi mọỳi lión hóỷ bón trong, mọỳi lión hóỷ baớn chỏỳt, mọỳi lión
hóỷ chuớ yóỳu, mọỳi lión hóỷ tỏỳt nhión õóứ hióứu roợ baớn chỏỳt cuớa sổỷ vỏỷt vaỡ coù
phổồng phaùp taùc õọỹng phuỡ hồỹp nhàũm õem laỷi hióỷu quaớ cao nhỏỳt trong hoaỷt õọỹng
cuớa baớn thỏn nhổng chuùng ta cuợng cỏửn lổu yù tồùi sổỷ chuyóứn hoaù lỏựn nhau giổợa caùc
mọỳi lión hóỷ ồớ nhổợng õióửu kióỷn xaùc õởnh.
Trong hoaỷt õọỹng thổỷc tióựn theo quan õióứm toaỡn dióỷn, khi taùc õọỹng vaỡo sổỷ
vỏỷt, chuùng ta khọng nhổợng phaới chuù yù tồùi nhổợng mọỳi lión hóỷ nọỹi taỷi cuớa noù maỡ
coỡn phaới chuù yù tồùi nhổợng mọỳi lión hóỷ giổợa sổỷ vỏỷt naỡy vồùi sổỷ vỏỷt khaùc; vaỡ
phaới bióỳt sổớ duỷng õọửng bọỹ caùc bióỷn phaùp caùc phổồng tióỷn khaùc nhau õóứ taùc
õọỹng. Vaỡ moỹi sổỷ vỏỷt hióỷn tổồỹng õóửu nàũm trong quaù trỗnh vỏỷn õọỹng vaỡ phaùt
trióứn, nón trong nhỏỷn thổùc vaỡ hoaỷt õọỹng cuớa baớn thỏn, chuùng ta phaới coù quan õióứm
phaùt trióứn; coù nghiaợ laỡ khi xem xeùt bỏỳt kyỡ sổỷ vỏỷt hióỷn tổồỹng naỡo cuợng phaới
õàỷt chuùng trong sổỷ vỏỷn õọỹng, sổỷ phaùt trióứn, vaỷch ra xu hổồùng bióỳn õọứi chuyóứn
hoaù cuớa chuùng, phaới thỏỳy roợ caùc hióỷn tổồỹng õang tọửn taỷi ồớ sổỷ vỏỷt vaỡ khuynh
hổồùng phaùt trióứn trong tổồng lai cuớa chuùng; thỏỳy õổồỹc caùi bióỳn õọứi õi lón, cuợng nhổ
bióỳn õọứi coù tờnh thuỷt luỡi vaỡ coỡn phaới bióỳt phỏn chia quaù trỗnh phaùt trióứn cuớa sổỷ
vỏỷt ỏỳy thaỡnh nhổợng giai õoaỷn. Quan õióứm phaùt trióứn goùp phỏửn khàừc phuỷc tổ
tổồớng baớo thuớ, trỗ tróỷ, õởnh kióỳn trong hoaỷt õọỹng nhỏỷn thổùc vaỡ hoaỷt õọỹng thổỷc
tióựn cuớa chuùng ta.
Vồùi tổ caùch laỡ nhổợng nguyón tàừc phổồng phaùp luỏỷn, ngoaỡi quan õióứm toaỡn
dióỷn, quan õióứm phaùt trióứn, quan õióứm lởch sổớ cuỷ thóứ coỡn õoỡi hoới chuùng ta khi
nhỏỷn thổùc vóử sổỷ vaỡ taùc õọỹng vaỡo sổỷ vỏỷt phaới chuù yù õióửu kióỷn hoaỡn caớnh lởch
sổớ cuỷ thóứ, mọi trổồỡng cuỷ thóứ trong õoù sổỷ vỏỷt sinh ra, tọửn taỷi vaỡ phaùt trióứn nhổ
thóỳ naỡo; qua õoù vồùi tờnh chỏỳt cuớa mỗnh ba quan õióứm seợ goùp phỏửn õởnh hổồùng,
chố õaỷo hoaỷt õọỹng nhỏỷn thổùc vaỡ hoaỷt õọỹng thổỷc tióựn caới taỷo hióỷn thổỷc, caới taỷo
chờnh baớn thỏn chuùng ta.

hổồùng dỏựn thổỷc tióựn, thuùc õỏứy xaợ họỹi ta vỏỷn õọỹng, phaùt trióứn õuùng hổồùng, phuỡ
hồỹp vồùi õióửu kióỷn hoaỡn caớnh lởch sổớ, phuỡ hồỹp vồùi thồỡi õaỷi vaỡ trung thaỡnh vồùi
lyù tổồớng XHCN cuớa chuùng ta.

Caùch 2:

Baớn chỏỳt cuớa thóỳ giồùi quan DVBC:
Trổồùc Maùc, CNDV thổồỡng bở taùch rồỡi vồùi pheùp bióỷn chổùng. Tuy vỏỷy trong
caùc hoỹc thuyóỳt duy vỏỷt trổồùc Maùc cuợng coù chổùa õổỷng mọỹt sọỳ tổ tổồớng bióỷn
chổùng nhỏỳt õởnh. Nhổng do haỷn chóỳ vóử trỗnh õọỹ phaùt trióứn khoa hoỹc vaỡ vóử lởch
sổớ nón noùi chung nón quan õióứm sióu hỗnh laỡ mọỹt thióỳu soùt lồùn chi phọỳi CNDV
trổồùc Maùc. Âàỷc bióỷt laỡ CNDV thóỳ kyớ XVII-XVIII ồớ Tỏy Áu.
Trong khi õoù, pheùp bióỷn chổùng laỷi õổồỹc quan tỏm nghión cổùu vaỡ phaùt trióứn
trong mọỹt sọỳ hóỷ thọỳng trióỳt hoỹc duy tỏm, nhỏỳt laỡ trong trióỳt hoỹc Hóghen. Hóghen laỡ
ngổồỡi coù cọng lao to lồùn trong vióỷc khọi phuỷc vaỡ phaùt trióứn pheùp bióỷn chổùng, nhổng
dổồùi caùi voớ duy tỏm thỏửn bờ. Vỗ vỏỷy, õóứ xỏy dổỷng trióỳt hoỹc DVBC, Maùc õaợ phaới
caới taỷo caớ CNDV cuợ, sióu hỗnh vaỡ caớ pheùp bióỷn chổùng duy tỏm. Giaới thoaùt CNDV
khoới tờnh haỷn chóỳ sióu hỗnh vaỡ pheùp bióỷn chổùng khoới CNDT, Maùc õaợ taỷo nón sổỷ
thọỳng nhỏỳt hổợu cồ giổợa thó giồùi quan duy vỏỷt vaỡ phuồng phaùp bióỷn chổùng. Nhổ vỏỷy,
CNDV macxờt laỡ CNDV bióỷn chổùng, coỡn pheùp bióỷn chổùng macxờt laỡ pheùp bióỷn
chổùng duy vỏỷt. Duy vỏỷt vaỡ bióỷn chổùng laỡ hai yóỳu tọỳ khàng khờt, laỡ hai õàỷc trổng
trióỳt hoỹc macxờt.
Trióỳt hoỹc macxờt laỡ thóỳ giồùi quan cuớa giai cỏỳp cọng nhỏn - giai cỏỳp tióỳn bọỹ
vaỡ caùch maỷng cuớa thồỡi õaỷi. Âoù laỡ thóỳ giồùi quan khoa hoỹc vaỡ caùch maỷng, laỡ vuợ
khờ tổ tổồớng trong cuọỹc õỏỳu tranh giaới phoùng giai cỏỳp cọng nhỏn, nhỏn dỏn lao õọỹng
vaỡ toaỡn thóứ nhỏn loaỷi khoới aùp bổùc vaỡ boùc lọỹt.
Chuớ nghộa Maùc noùi chung, trióỳt hoỹc Maùc noùi rióng mang õàỷc tờnh baớn chỏỳt
bón trong laỡ sổỷ thọỳng nhỏỳt giổợa tờnh khoa hoỹc vaỡ tờnh caùch maỷng. Trióỳt hoỹc Maùc
laỡ hóỷ tổ tổồớng cuớa giai cỏỳp cọng nhỏn, mọỹt hóỷ tổ tổồớng õaợ õổồỹc luỏỷn chổùng bàũng
lyù luỏỷn khoa hoỹc, phaớn aùnh nhổợng qui luỏỷt phaùt trióứn khaùch quan cuớa lởch sổớ.

nghiờn cứu các mối liên hệ và khuynh hướng phát triển trong thế giới của các SVHT, quá trỡnh
cụ thể.
(*) Các cặp phạm trù cái chung và cái riêng, tất nhiên và ngẫu nhiên, bản chất và hiện
tượng giải thích toàn bộ các mối liên hệ theo một hệ thống nhất định; các cặp phạm trù nguyên
nhân và kết quả, khả năng và hiện thực chỉ rừ trỡnh tự kế tiếp nhau của cỏc mối liờn hệ và sự
phỏt triển là một quỏ trỡnh tự nhiờn; cặp phạm trự nội dung và hỡnh thức phản ỏnh tớnh đa dạng
của các phương pháp, nhận thức và hoạt động thực tiễn.
(*) Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo
mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan
điểm lịch sử. Qui luật được hiểu là mlh bản chất, lặp lại giữa các mặt trong sự vật hay giữa các sự
vật với nhau. Qui luật có tính khách quan, tính tất yếu và phổ biến. Căn cứ vào đặc trưng và tính
chất, có thể phân thành quy luật tự nhiên, quy luật XH, quy luật tư duy; căn cứ vào phạm vi ảnh
hưởng có thể phân thành quy luật riêng, quy luật chung, quy luật phổ biến; căn cứ vào phép biện
chứng, có thể phân thành quy luật cơ bản (quy luật mâu thuẩn, quy luật lượng chất, quy luật phủ
20
định cái phủ định) và quy luật không cơ bản (cặp phạm trù riêng chung, nhân quả, nội dung-hỡnh
thức, tất nhiên- ngẫu nhiên, bản chất - hiện tượng, khả năng - hiện thực) trong đó:
! Quy luật chuyển hoá từ sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại (Quy
luật lượng - chất).
Chất là tính quy định bên trong sự vật, nói lên sự vật đó là cỏi gỡ, phõn biệt nú với sự vật
khỏc. VD: Sắt khỏc với Đồng
Chất là một phạm trự triết học bao quỏt tất cả những khỏi niệm về chất của cỏc nhà khoa
học.
Lượng là tính quy định về quy mô, cường độ, trỡnh độ, tốc độ.
Người ta nhận thức chất của sự vật thông qua thuộc tính của nó. Xuất phát từ cấu trúc bên
trong dẫn đến thuộc tính khác nhau. Lượng có thể đo bằng con số.
Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng: Chất và lượng gắn bó không tách rời nhau (Bằng
tư duy trừu tượng có thể tách lượng và chất), phù hợp với nhau trong một giới hạn gọi là “độ”.
Lượng đổi dẫn đến chất đổi (chiều thuận), chất đổi dẫn đến lượng đổi (chiều ngược)
í nghĩa: Từ quy luật này giỳp chỳng ta hiểu được cách thức, cơ chế của quá trỡnh phỏt

đồng thời phải đánh giá đúng vai trũ, vị trớ của từng mặt, từng MLH, nắm được mối liên hệ chủ
yếu có vai trũ quyết định.
- Nguyên tắc lịch sử cụ thể: nguyên tắc lịch sử cụ thể đũi hỏi chỳng ta khi xem xột SVHT
phải gắn nú với quỏ trỡnh vận động, phát triển từ lúc ra đời đến hiện tại. Ở mỗi giai đoạn lịch sử
cụ thể, nó có tính tất yếu và đặc điểm riêng của nó.
- Nguyên tắc phát triển: đũi hỏi chỳng ta khi xem xột SVHT phải nhỡn thấy xu thế biến
đổi, phát triển trong tương lai của nó. Cái lỗi thời sẽ mất đi, cái mới cái tiến bộ sẽ chiến thắng cái
cũ cái lạc hậu. Vd: Xem xét nhà nước: Ở XH PK Trung Hoa lạc hậu, không thể thống nhất đất
nước đuợc. Sau này Tần Thuỷ Hoàng phải dùng bạo lực để thống nhất đất nước và đũi hỏi phải
cú chế độ chuyên chế, độc đoán để quản lý nhà nước. Nhà nước TBCN cho phép nhiều Đảng phái
cùng tồn tại, đối lập nhau do đại diện cho nhiều giai cấp khác nhau. Nhà nước XHCN: trong XH
không cũn giai cấp, ko cũn đối kháng nhau. Đảng cộng sản là đại diện cho người vô sản nên ko
tất yếu phải có đa Đảng. Đảng có tính chất tham mưu để quản lý nhà nước.
Câu 11: Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn. Quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, ý
nghĩa phương pháp luận của nó:
* Khái niệm:
Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót của các nhà triết học trước,
Mác và Ăngghen đã đem đến một quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó
đối với nhận thức cũng như sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
- Thực tiễn là phạm trù triết học, là những hoạt động vật chất "cảm tính" có mục đích, có
tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Bản chất của hoật động thực tiễn đó là sự tác động qua lại của chủ thể và khách thể.
Hoạt động thực tiễn đa dạng , song có thể chia thanh ba hình thức cơ bản: hoạt động sản
xuất vật chất, hoạt động biến đổi chính trị xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học, rong đó
hoạt động sản xuất vật chất là hoạt dộng có í nghĩa quyết định các hình thức khác, hoạt động biến
đổi chính trị xã hội hình thức cao nhất và hoạt động thưch nghiệm khoa học là hình thức đặt biệt
nhằm thu nhận những tri thức về thực nghiệm khách quan.
- Lý luận là kết quả của hoạt động nhận thức, là hệ thống của tri thức con người về mối
quan hệ bản chất, những quy luật của tự nhiên và xã hội đã được thực tiễn kiểm nghiệm.
* Mối quan hệ biện chứng giữa lí luận và thực tiễn.

- Lí luận cách mạng có vai trò to lớn trong thực tiễn cách mạng. lênin viết “không có lí
luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”.
3. Giưã lí luận và thực tiễn có sự liên hệ, tác động qua lại tạo điều kiện cho nhau cùng phát
triển. bởi vậy sự thống nhất giua lí luận và thực tiển là nguyên lí cao nhất và căn bản nhất của
triết học Mác lênin.
* í nghĩa phương pháp luận
Nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn, coi
trọng việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứa lý luận phải liên hệ với thực tiễn. Nếu xa rời sẽ dẫn đến
các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu, chủ nghĩa xét lại. Chủ nghĩa
Mác - lênnin là tiêu biểu cho sự gắn bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình hình
thành và phát triển của nó. Lý luận Mác - lênnin là khái quát thực tiễn cách mạng, lịch sử xã hội,
là sự đúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực cụ thể để xây dựng
nên hệ thống lý luận khoa học hoàn chỉnh. Sức mạnh của nó là ở chỗ nó gắn bó hữu cơ với thực
tiễn xã hội. Đáng tiếc sau Lênnin, do những nguyên nhân khách quan và sai lầm chủ quan, ở
nhiều nước XHCN đã có sự vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn, từ đó làm cho lý luận bị lạc hậu, giáo điều, dẫn đến sự khủng hoảng về lý luận của chúng ta
hiện nay. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới xã hội theo định hướng XHCN ở nước ta đặt ra
nhiều vấn đề mới mẽ và phức tạp đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu để đáp ứng được những
yêu cầu đó. Đó là những vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên ở nước ta, về kinh tế thị
trường, về hoàn chỉnh hệ thống quan điểm đổi mới Qua việc làm sáng tỏ những vấn đề trên,
chắc chắn lý luận sẽ góp phần đắc lực vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta.
Câu 12: Khái niệm, cấu trúc của hình thái kinh tế xã hội. Phép biện chứng của sự vận động,
phát triển các hình thái KT-XH. Con đường đi lên CNXH ở VN:
Hỡnh thỏi kinh tế xó hội là phạm trự chỉ một kiểu hệ thống xó hội ở 1 giai đoạn phát triển
lịch sử nhất định, có tính xác định về chất, là sự thống nhất của các yếu tố, một cơ cấu hoàn chỉnh
luôn vận động thông qua sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,
giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
23
CN duy vật lịch sử xem xột xó hội với tớnh cỏch là một hệ thống bao gồm 04 lĩnh vực cơ
bản:

thức kinh nghiệm hoặc xó hội học mụ tả, đi sâu vạch ra cái bản chất ổn định từ cái phong phú của
hiện tượng, vạch ra cái logic bên trong của tính nhiều vẻ của lịch sử.
-Là cụng cụ lý luận giúp ta nhận thức quy luật phổ biến đang tác động và chi phối vận
động của xó hội.
-Là cơ sở lý luận của việc hoạch định các đường lối CM của các đảng cộng sản.
Sự vận dụng của Đảng ta :
-Nhận thức lại về chủ nghĩa xhội và thời kỳ quá độ
Lịch sử đó chứng minh khụng phải bất kỳ nước nào cũng phải tuần tự trải qua các hỡnh
thỏi kinh tế xó hội đó từng cú trong lịch sử. Việc bỏ qua một hỡnh thỏi kinh tế xó hội nào đó do
những yếu tố bên trong quyết định song đồng thời cũn tuỳ thuộc ở sự tỏc động của các nhân tố
bên ngoài. Ở nước ta đó cú những tiền và điều kiện cho phép chúng ta lựa chọn con đường xó hội
24
chủ nghĩa, kết hợp sức mạnh dõn tộc với sức mạnh thời đại để quá độ lên chủ nghĩa xó hội, nhanh
chúng thoỏt khỏi nghốo nàn lạc hậu, làm cho đất nước ngày càng phồn vinh.
Nhưng cần đặc biệt chú ý là cú thể bỏ qua chế độ tư bản nhưng không thể bỏ qua việc
chuẩn bị những tiền đề cần thiết nấht là tiền đề về kinh tế cho sự quá độ ấy. Do đó cần có sự phát
triển nhất định nhân tố tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ là một yêu cầu khách quan.
-Quan điểm phương pháp luận xuất phát để xây dựng CNXH ở nước ta :
Coi trọng vai trũ và bản chất của nhà nước, thể hiện đầy đủ quyền lực và nguyện vọng của
nhân dân. Thiết lập nền dân chủ XHCN, quyền lực của nhân dân được khẳng định và thực hiện
bằng pháp luật mang tính công khai, bỡnh đẳng dân chủ và tiến bộ.
Thực hiện biến đổi mang tính CM trên cả 3 lĩnh vực : llsx, quan hệ sx và kiến trúc thượng
tầng. Trong đó phải ra sức phát triển llsx, tạo tiền đề kinh tế vững chắc cho sự ra đời của phương
thức sx XHCN. Phải lựa chọn những ngành công nghệ thích hợp, xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở
vật chất kỹ thuật, hệ thông thông tin, tạo tiềm năng nhanh chóng ứng dụng công nghệ mới. Giải
phóng và khai thác nhanh mọi khả năng của llsx, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, tao ra nguồn sản phẩm và nguồn tích luỹ. Đó là nhiệm vụ hàng đầu hiện nay.
Phù hợp với sự phát triển của llsx, thiết lập từng bước quan hệ sx XHCN từ thấp đến cao
với đa dạng về hỡnh thức sở hữu. Thực hiện nhiều hỡnh thức phõn phối, lấy phõn phối theo kết
quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status