Phân tích tình hình tài chính trên cơ sở bảng
cân đối kế toán với việc tăng cường quản trị
doanh nghiệp tại Công ty cơ khí Hà Nội
cherrynp
Tất cả
• Trang chủ
• /
• Tài liệu
• /
• Thành viên
TẠI SAO TẢI LÊN 123DOC.VN ?
Chuyên đề thực tập
Lời mở đầu
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta
đã đạt được nhiều bước tiến hết sức quan trọng. Tuy nhiên để đặt được mục
tiêu đến năm 2020 đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp với
cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí và thực hiện công nghiệp
hoá hiện dại hoá đất nước thì đòi hỏi chúng ta chiến lược đúng đắn và hợp lí.
Cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới phát triển nền kinh tế là mũ
nhọn của đất nước. Công cụ chủ yếu được dùng đó là tài chính. Vàđể cung
cấp những thông tin hữu ích cho việc ra quyết định kinh doanh và kinh tế của
các nhà quản lí doanh nghiệp và các nhà sử dụng thông tin tài chính ở bên
ngoài, hệ thống báo cáo tài chính đã ra đời. Dựa vào các nguồn thông tin nhận
được trong các Báo cáo tài chính, người sử dụng sẽ nắm được thực trạng tài
chính của doanh nghiệp và làm cơ sở cho việc ra quyết định của mình.
Các Báo cáo tài chính gồm Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh
doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh Báo cáo tài chính, mỗi loại
cung cấp những thông tin tổng hợp về một khía cạnh khác nhau của tình hình
tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Các báo cáo này bổ sung
cho nhau và cùng làm sáng tỏ bức tranh tài chính của doanh nghiệp. Trong
các báo cáo tài chính đó, Bảng cân đối kế toán đóng vai trò quan trọng, nó
tăng cường quản trị doanh nghiệp tại Công ty cơ khí Hà Nội” cho chuyên
đề của mình.
Luận văn ngoài Lời mở đầu và kết luận bao gồm ba nội dung chính sau:
Chương I: Hoạt động tài chính và cơ sở của việc phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp.
Chương II: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cơ khí Hà Nội.
Chương III: Phương hướng nâng cao công tác quản trị tài chính tại
Công ty cơ khí Hà Nội
Do trình độ lí luận và thực tiên còn nhiều hạn chế nên bài viết này
không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô giáo cùng các cô chú trong công ty.
2
2
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I
HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.1.1. Hoạt động tài chính:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất đều phải có một số
vốn. Số vốn đó được huy động từ nhiều nguồn khác nhau như từ nguồn vốn
góp của cá nhân, của Nhà nước và các nguồn vốn vay hay đi chiếm dụng của
các doanh nghiệp khác. Nguồn vốn đó chính là nguồn hình thành các yếu tố
sản xuất để tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ
chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh
doanh. Nó giúp cho quá trình sản xuất được thực hiện và tiến hành thông suốt.
Là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh, hoạt động tài
chính giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất
của quá trình kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
- Phải tôn trọng pháp luật, tuân theo chế độ tài chính tín dụng, pháp luật
về tài chính, kỷ luật thanh toán, đảm bảo doanh nghiệp vừa đạt được lợi
nhuận tối đa, vừa đảm bảo các yếu tố xã hội.
1.1.2. Sự cần thiết phải phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Tình hình tài chính doanh nghiệp (TCDN) được ghi chép và biểu hiện
qua các con số trên các tài liệu kế toán. Những con số đó tự thân nó không nói
lên một điều gì cả. Hơn nữa, chúng chỉ là những minh chứng cho quá khứ, chỉ
là những con số trên sổ sách, không thể hiện được thực trạng đa dạng và sôi
động của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp. Chính phân tích sẽ làm cho
chúng biết nói, không những làm hiện ra bức tranh tài chính hiện tại của
doanh nghiệp mà còn chỉ ra xu hướng của nó trong tương lai tươi sáng hay ảm
đạm. Nói cách khác, phân tích làm công việc thổi hồn cho bức tranh tài chính
của doanh nghiệp, khiến nó trở nên sống động và có ích.
Hoạt động tài chính là một hoạt động đóng vai trò cực kì quan trọng đối
với sự phát triển của doanh nghiệp và cũng là đối tượng quan tâm đặc biệt của
những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, những người có quan hệ tài chính
với doanh nghiệp. Do tính chất quan trọng đó, đối tượng hoạt động tài chính
luôn là đối tượng cần được nắm bắt để kiểm tra tình hình hoạt động và đưa ra
những dự đoán, quyết định cho tương lai. Nếu chỉ nhìn vào những con số khô
4
4
Chuyên đề thực tập
cứng trong các báo cáo tài chính và các tài liệu tài chính khác thì thông tin tài
chính không mang một ý nghĩa nào đáng kể, các mối quan hệ, các xu hướng
biến đổi, những cơ hội và rủi ro tiềm tàng sẽ chìm trong biển chi tiết các con
số. Vì vậy chỉ có phân tích tình hình tài chính mới giúp người sử dụng đánh
giá và đưa ra các dự đoán, quyết định trong tương lai một cách có hiệu quả,
đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của người dùng.
1.2. HAI BÁO CÁO TÀI CHÍNH CƠ BẢN SỬ DỤNG ĐỂ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
báo cáo so sánh nên căn cứ vào số liệu ở hai thời điểm cuối kì và đầu năm sẽ
thấy được sự thay đổi của vốn và nguồn vốn trong kì báo cáo.
b) Ý nghĩa của bảng CĐKT trong việc phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp.
Do những đặc trưng cơ bản, riêng có, bảng CĐKT khái quát hoá toàn bộ
tài sản và nguồn vốn hiện có tại doanh nghiệp vào thời điểm cuối kì. Nhìn vào
hai dòng cuối cùng của phần tài sản và nguồn vốn, người đọc có thể thấy
được quy mô tài sản của doanh nghiệp và các nguồn vốn tài trợ cho các tài
sản đó.
Do được sắp xếp khoa học theo các khoản mục và mục chi tiết, người
đọc có thể dễ dàng nắm bắt được các con số tổng hợp, các con số chi tiết của
từng loại tài sản và nguồn vốn, qua đó có thể tiến hành phân tích dọc để có
thể thấy sự biến động về cơ cấu của chúng. Việc sắp xếp, phân loại hết sức
lôgíc này cũng giúp người phân tích tài chính giảm thời gian và công sức
phân loại thông tin trước khi tiến hành phân tích.
Ngoài ra, do mang tính chất là báo cáo so sánh, bảng CĐKT luôn có số
liệu của đầu năm và cuối kỳ. Việc cung cấp số liệu của hai kì liên tiếp tạo điều
kiện choviệc so sánh, đối chiếu để dễ nhận thấy sự biến đổi qua thời gian, qua
đó sự đoán dược xu hướng phát triển trong tương lai.
Cuối cùng, bảng CĐKT được sắp xếp theo thứ tự khả năng chuyển đổi
thành tiền của tài sản, từ nguồn vốn tài trợ tạm thời đến thường xuyên giúp
cho người phân tích nhanh chóng thấy được khả năng thanh toán của doanh
nghiệp.
Nói tóm lại, bảng CĐKT là một báo cáo tổng hợp, phản ánh tình hình tài
sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Nó cung cấp
những thông tin tài chính tổng hợp theo các chỉ tiêu kinh tế, tài chính để
nghiên cứu, phân tích toàn diện tình hình tài chính, kết quả và xu hướng phát
triển của doanh nghiệp. Nó cũng cung cấp những thông tin, mối quan hệ cơ
bản giữa các yếu tố, quá trình giúp cho việc đề xuất phương hướng và biện
pháp quản lý hiệu quả. Chính nhờ sự khái quát hoá của bảng CĐKT và dựa
phần tài sản, nếu dư có thì ở phần nguồn vốn.
+ Một số chỉ tiêu liên quan đến các tài khoản điều chỉnh hay tài khoản
dự phòng như tài khoản 214, 129, 229,139, 159…Các tài khoản này luôn có
7
7
Chuyên đề thực tập
số dư có nhưng khi lên bảng CĐKT phải ghi ở phần tài sản theo số âm. Các
tài khoản phản ánh nguồn vốn như tài khoản 412, 413, 421…nếu có số dư bên
nợ thì vẫn ghi ở phần nguồn vốn và ghi theo số âm.
c) Kiểm tra bảng CĐKT
Kiểm tra bảng CĐKT là yêu cầu bắt buộc với công tác hạch toán và quản
lý doanh nghiệp. Thực chất của công việc kiểm tra là thẩm định tính chính
xác của số liệu trong bảng CĐKT thông qua kiểm tra nguồn số liệu và kĩ thuật
lập bảng. Việc thực hiện công việc này hoàn toàn không dễ dàng. Vì vậy, để
hỗ trợ, một hệ thống các phương pháp kiểm tra đã ra đời, cho phép người sử
dụng, tuỳ từng trường hợp cụ thể, có thể vận dụng linh hoạt, lựa chọn hay kết
hợp nhiều phương pháp để đạt được mục đích của mình. Tuy nhiên, dù có áp
dụng phương pháp nào đi nữa thì công việc kiểm tra cũng được tiến hành qua
các bước sau:
Bước 1: Kiểm tra khái quát.
Việc kiểm tra khái quát được tiến hành theo nhận thức cảm quan hoặc
kiểm tra lôgíc các số liệu trong bảng CĐKT và một số tài liệu có liên quan.
Thông qua kiểm tra lôgíc người ta phân tích sự biến động của các khoản
mục có liên quan với nhau trên bảng CĐKT. (Khoản phải thu giảm tương ứng
với lượng tiền tăng, khoản vay dài hạn tăng tương ứng với TSCĐ tăng...)
Việc kiểm tra khái quát cho phép người phân tích nắm bắt được những
mâu thuẫn, những dấu hiệu sai phạm trọng yếu có thể tồn tại qua đó có định
hướng khoanh vùng kiểm tra, tiết kiệm được thời gian và công sức.
Bước 2: Kiểm tra kĩ thuật lập bảng:
Sau khi nắm bắt được những sai sót trên bảng CĐKT, người ta cần tiến
một kỳ sản xuất. Tuy nhiên, con số đó chưa phản ánh được quá trình sản xuất
đó có thực sự đem lại hiệu quả hay không hay chỉ là một kết quả thông
thường. Vì vậy, người ta thường sử dụng phân số giữa kết quả và chi phí để
chỉ hiệu quả.:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh doanh = (*)
Chi phí đầu vào
Công thức (*) trên phản ánh sức sản xuất của các yếu tố đầu vào, được tính
cho tổng số và cho riêng phần gia tăng trong kì.
Hay:
Chi phí đầu vào
24
24
Chuyên đề thực tập
Hiệu quả kinh doanh = (**)
Kết quả đầu ra
Công thức (**) phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào nghĩa là
để có một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết bao nhiêu chi phí đầu vào.
Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, tổng
doanh thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp. Còn yếu tố đầu vào bao gồm:
lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn CSH, vốn vay…
Trong các chỉ tiêu đo lường kết quả kinh doanh, chỉ tiêu hiệu quả sử
dụng vốn sản xuất kinh doanh được coi là chỉ tiêu cơ bản nhất.
25
25
Chuyên đề thực tập
Kết quả đầu ra
Hiệu quả sử dụng vốn SXKD =
Vốn sản xuất bình quân
Chỉ tiêu phản ánh cứ một đồng vốn sản xuất bình quân dùng vào sản
Chuyên đề thực tập
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận cho các chủ
sở hữu của doanh nghiệp. Doanh lợi vốn chủ sở hữu chính là chỉ tiêu đánh giá
mức độ tạo ra lợi nhuận của mục tiêu này.Công thức xác định là:
Lợi nhuận sau thuế
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Vốn CSH bình quân
Chỉ tiêu cho biết một đồng vốn chủ sở hữu binh quân tạo ra được mấy
đồng lợi nhuận.
Doanh lợi vốn CSH cũng có mối quan hệ với tỉ suất lợi nhuận/ vốn chủ sở
hữu thể hiện qua công thức:
Tỉ suất lợi nhuận/vốn sử dụng
Doanh lợi vốn CSH =
1- tỉ số nợ bình quân
Tổng số dư nợ đầu kì và cuối kì
Với tỉ số nợ bình quân =
Tổng vốn đầu kì và cuối kì
Hay doanh lợi vốn CSH = Tỉ suất lợi nhuận/ 1
vốn sử dụng 1- tỉ số nợ bình quân
= Tỉ suất lợi nhuậndoanh thu x Hệ số quay vòng TS x
1- Hệ số nợ bq
Như vậy doanh lợi tổng vốn phụ thuộc vào:
- Trong một đồng vốn sử dụng có bình quân trong kì có mấy đồng được
hình thành từ vốn huy động bên ngoài?
- Một đồng vốn sử dụng bình quân trong kì tạo ra mấy đồng doanh thu?
- Trong một đồng doanh thu có mấy đồng lợi nhuận sau thuế?
32
32
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG II
dụng cụ y tế, hàng tiêu dùng
33
33
Chuyên đề thực tập
• Xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp
• Kinh doanh nhà ở, bất động sản, phân bón, hoá chất và vật tư nông
nghiệp. Dịch vụ cho thuê kho bãi, nhà xưởng, văn phòng, vận chuyển và giao
nhận hàng hoá
• Xuất nhập khẩu và kinh doanh thiết bị.
• Chế toạ các thiết bị áp lực cao
• Đào tạo công nhân kĩ thuật các nghề tiện, phay, bào, rèn, đúc, nhiệt,
luyện, công nhân vận hành các máy công nghệ cao
• Kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật
2.1.2.2 Mục tiêu phát triển:
+ Luôn cung cấp sản phẩm và dịch vụ có chất lượng, thoả mãn mọi
yêu cầu của khách hàng.
+ Thực hin đúng, đầy đủ phương châm “Vui lòng khách đến, vừa lòng
khách đi”. Luôn cải tiến phương thức phục vụ, tôn trọng mọi cam kết với
khách hàng.
+ Bằng mọi phương tiện tuyên truyền và giáo dục cho cán bộ công
nhân viên hiểu rõ chất lượng là sự sống còn của công ty, lao động có chất
lượng là nghĩa vụ đồng thời là quyền lợi sát sừơn của mỗi người
+ Thường xuyên cải tiến sản phẩm thực hiện chiến lược đầu tư đổi
mới công nghệ, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ công nhân viên đáp ứng
mọi yêu cầu phát triển của công ty.
+ Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng theo mô hình TCVN ISO
9002:1996
2.1.2.3 Hoạt động chính của công ty:
Với lực lượng kĩ sư gần 150 người và nhiều công nhân lành nghề, công
ty cơ khí Hà Nội có khả năng cung cấp dịch vụ tư vấn và trực tiếp thực hiện