ký sinh trùng học thú y - Pdf 13



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Chủ biên: PGS.TS. NGUYỄN THỊ KIM LAN
GS. TSKH. NGUYỄN THỊ LÊ - PGS. TS. PHẠM SỸ LĂNG
- TS. NGUYỄN VĂN QUANG

GIÁO TRÌNH
KÝ SINH TRÙNG HỌC THÚ Y
(Giáo trình dùng cho bậc Cao học)
Vì vậy ngoài việc chuẩn hoá đội ngũ Giảng viên trong nhà trường, việc biên soạn giáo
trình, tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập các bậc học là hết sức quan trọng. Ký
sinh trung học thú y là một trong những môn học trong chương trình đào tạo Cao học,
ngành Thú y. Cho đến nay, việc học tập môn Ký sinh trùng học Thú y còn gặp nhiều khó
khăn, do các Trường Đại học Nông nghiệp vẫn chưa có tài liệu chuẩn dùng cho bậc đào
tạo Cao học về môn học này.
Từ nhu cầu của quá trình đào lạo, chúng tôi đã biên soạn cuốn "Ký sinh trùng học
Thú y". Nội dung của cuốn tài liệu giới thiệu sâu về những kiến thức Ký sinh trùng học
đại cương, những kết quả nghiên cứu mới, những kiến thức kinh điển và những quan
điểm mới về Ký sinh trùng học thú y.
Mặc dù đã rất cố gắng, song cuốn tài liệu chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót.
Tập thể tác giả rất mong nhận được những ý kiên đóng góp của các học viên Cao
học và bạn đọc đểcuôn tài liệu được hoàn thiện hơn trong những lần tái bản sau.
Xin trân trọng cảm ơn ! Tập thể tác giả


hệ qua lại ổn định của chúng. Do vậy, các phương pháp nghiên cứu thông thường của
sinh thái học đối với môi trường không đủ để nghiên cứu các hiện tượng của sự ký
sinh, mà phải sử dụng hàng loạt các phương pháp đặc biệt như là phương pháp miễn
dịch để nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường (cơ thể vật chủ) lên vật ký sinh; hay là
các biến đổi về sinh lý của vật ký sinh do sự tác động của môi trường (vật chất lên vật
ký sinh, hoặc những biến đổi bệnh lý đòi hỏi phải có những phương pháp nghiên cứu
đặc trưng không phải những phương pháp nghiên cứu về sinh thái học.
Như vậy, ký sinh trùng học là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa vật ký sinh và
vật chủ, rút ra các quy luật cơ bản trong quá trình thích nghi của cơ thể vật ký sinh và vật
chủ, tạo cơ sở để đề xuất các biện pháp đấu tranh với các bệnh ký sinh trùng, nhằm nâng
cao sức khoẻ con người và phát triển vật nuôi, cây trồng.
Trong ký sinh trùng học có thể chia ra ký sinh trùng học động vật và ký sinh
trùng học thực vật.
- Ký sinh trùng học thực vật là khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở thực vật và các
bệnh do chúng gây ra ở thực vật.
- Ký sinh trùng học động vật là khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở người, động
vật và các bệnh do chúng gây ra ở động vật và người. Bao gồm ký sinh trùng y học và
thú y học.
Ký sinh trùng y học là khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở người và các bệnh do
chúng gây ra ở người.
Ký sinh trùng thú y học là khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở vật nuôi và các

2


ở người (Nam Bộ).
Năm 1910 - 1911 , Mathis C. và Leger M . đã mô tả một số loài mới đối với khoa học
và công bố một số danh sách về các loài sán lá ký sinh ở người và động vật.
Năm 1911 , Railliet A. và Henry xuất bản công trình kết quả nghiên cứu 12 loài
giun sán ở lợn do Bauche thu thập ở lò mổ của thành phố Huế trong 2 năm liên tục.
Năm 1911- 1913 , Brau và Bruyant tìm thấy loài sán lá Gastrodiscoides hominis ở lợn
và người tại Nam Bộ.
Năm 1912, Bauche J. và Bemard N. thông báo về loài giun tròn Oxyspirura
mansoni ký sinh ở mắt gà nuôi tại Huế.
3

Năm 1924, Railliet A. công bố công trình “Giun sán ở động vật và người tại
Đông Dương". Tác giả đã thông báo về 40 loài sán lá, trong đó có một số loài mới đối với
khoa học. Cùng năm, Bemard N., Badlet J. và Pons R. (1924) thông báo về 3 loài sán lá ở
người và lợn tại Nam Bộ.
Năm 1925, Houdemer E. xuất bản công trình “Kết quả nghiên cứu khu hệ giun sán
ở động vật nhà và động vật hoang tại Bắc Bộ”. Trong mẫu vật thu được từ 1306 động vật
có xương sống đã tìm thấy 32 loài giun sán. Cùng năm, Schwartz đã mô tả loài giun tròn
Ascaridia anseris ở ngỗng tại Bắc Bộ.
Năm 1927 - 1928, Joyeux C. và Houdemer E. đã thông báo về số liệu các loài sán
dây, sán lá ở chim và thú các nước khu vực Đông Dương, trong đó chủ yếu là các loài ký

Năm 1975, phạm vi điều tra cơ bản về ký sinh trùng có điều kiện mở rộng trên toàn
lãnh thổ Việt Nam.
Những năm đầu của giai đoạn này là thời kỳ triển khai các nghiên cứu hợp tác quốc
tế chủ yếu do các chuyên gia Liên Xô (cũ) và các nước bạn sang để giúp đỡ, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ trong nước, đồng thời Nhà nước ta cũng gửi một số cán bộ đi đào tạo ở
nước ngoài.
Cuối năm 1960 - 1961, đoàn điều tra của Viện sinh học thổ nhưỡng ở Viễn Đông
(Liên Xô cũ) đã tiến hành điều tra trên 6.000 động vật có xương sống ở Hải Phòng, trong
đó có 327 gia cầm và 619 chim hoang. Đã tìm thấy 115 loài sán lá, 54 loài sán dây ở
chim nhà và chim hoang, trong số đó có 33 loài mới đối với khoa học (Oschmarin
P. G. (1964 - 1971); Oschmarin P. G.; Mamaev I. U., Lebexev B. I., 1970; Oschmarin P. G.
và Demchin N. I., 1972).
Cuối năm 1961, đầu năm 1962, đoàn điều tra hợp tác Việt - Xô do Giáo sư
Spasski A. A., Sudarikov V: E., Đặng Văn Ngữ, Đào Văn Tiến và nhiều cán bộ từ các cơ
quan khác nhau tham gia. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu tại một số vùng
trung du, đồng bằng, ven biển miền Bắc, đã mổ 623 cá thể động vật và tìm thấy 1 59 loài
giun sán khác nhau.
Từ kết quả nghiên cứu trên, các công trình của Ryjikov K. M., Hohlova I. G.
(1964 - 1968), So nin M. D. (1966), Parukhin A. M. (1964 - 1968), Spasski A. A.,
Jurpalova N. M. (1969), Sudarikov V. E., Pavlov A. V., Nguyễn Thị Lê (1971) về sán lá,
sán dây, giun tròn ký sinh ở gia cầm và chim hoang đã được công bố.

Malczewski (1967); Bùi Lập, Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Đoàn Tuân (1969); Phan
Địch Lân (1964, 1974, 1983 ); Phan Địch Lân và cộng sự (1964, 1972 );
Grochovskaia và Nguyễn Xuân Hoè (1969); Đào Văn Tiến, Đặng Văn Ngữ, Phan Thế
Việt (1970) ; Nguyễn Kim Bằng (1970); Nguyễn Thị Lê (1971 , 1977, 1979, 1980,
1983, 1985, 1988, 1990, 1991, 1995, 1996); Hà Ký (1968, 1976 ); Matskasi (1973);
Phạm Văn Khuê (1970, 1971, 1973 ); Phạm Sỹ Lăng (1973, 1975 ); Nguyễn Thị
Lê, Nguyễn Quý Tuấn (1976); Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực (1976); Phan Trọng
Cung, Đoàn Văn Thụ, Nguyễn Văn Chí (1977); Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh
(1978); Phan Thế Việt, Phan Lục (1978); Phan Thế Việt (1966, 1973, 1977, 1978,
1981, 1983, 1984 ); Nguyễn Thị Kỳ (1977, 1980, 1994); Nguyễn Thị Lê và cộng sự
(1987, 1990, 1996); Hà Duy Ngọ (1985, 1990 ); Nguyễn Văn Châu (19971; Nguyễn
Thu Vân (1997); Phạm Văn Lực, Nguyễn Văn Đức, Bùi Quang Tề, Lương Tố Thế, Lê
Ngọc Mỹ đã công bố về khu hệ, sinh học, sinh thái của ký sinh trùng ở các nhóm
động vật Việt Nam.
Từ năm 1990 đến nay, đã có những công trình nghiên cứu về giun sán ký sinh ở
lợn một số tỉnh phía Nam và biện pháp phòng ngừa của Lương Văn Huấn (1990 -
1994); những công trình nghiên cứu về bệnh sán lá gan và bệnh tiên mao trùng của
Lương Tố Thu và cs (1992 - 1996); công trình nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học của
các bệnh ký sinh trùng chính ở trâu, bò, lợn Việt Nam và biện pháp phòng trừ của
Nguyên Đăng Khai (1992 - 1996); công trình nghiên cứu về bệnh giun phổi lợn của
Nguyễn Đức Tân (1992 - 1996); công trình nghiên cứu về sự liên quan giữa tỷ lệ
nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc (KCTG) với tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò (KCCC)
để đánh giá tình hình dịch tễ bệnh của Nguyễn Trọng Kim (1993 - 1997); công trình
nghiên cứu một số đặc tính sinh học của Trypanosoma evansi (Steel, -1885) và bệnh
học do Trypanosoma evansi gây nên của Nguyễn Quốc Doanh (1993 - 1998); công
trình nghiên cứu về dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở tỉnh Bắc Thái (cũ) của Lê Hải
Đường (1994 - 1998); công trình nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng Eimeria, một
số đặc điểm của bệnh cầu trùng gà ở TP. Hồ Chí Minh và thử nghiệm thuốc phòng trị
của Hoàng Thạch (1994 - 1999); công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, dịch tễ
biện pháp phòng trừ sán lá ruột lợn ở vùng đồng bằng sông Hồng của Nguyễn Văn

- Phần thứ hai : Ký sinh trùng học chuyên khoa
3.1. Phần thứ nhất: Ký sinh trùng học đại cƣơng, gồm 5 chƣơng:
Chương 1. Phân bố và nguồn gốc của ký sinh trùng
Nội dung chương 1 trình bày sự phân bố và hiện tượng ký sinh của ký sinh trùng,
nguồn gốc của ký sinh trùng;.cung cấp những hiểu biết về sự phân bố của ký sinh
trùng trong thiên nhiên, về hiện tượng ký sinh trong giới động vật, về các kiểu liên hệ khác
nhau của vật ký sinh và vật chủ; về nguồn gốc của ngoại ký sinh trùng, nội ký sinh trùng
và ký sinh trùng đường máu.
Chương 2. Sự thích nghi của vật ký sinh với đời sống ký sinh
Nội dung chương 2 trình bày sâu những thích nghi về llllul thái, cấu tạo của vật ký
sinh (trong đó có những biến thái thoái hoá, biến thái tiến hoá và những thể hiện của sự
thích nghi về hình thái, cấu tạo của vật ký sinh; những thích nghi về sinh sản và sự phát
triển của vật ký sinh (thích nghi về sinh sản, sự phát tán ra ngoại cảnh, thích nghi về chu
kỳ sống phù hợp với vật chủ ).
Chương 3. Vật chủ, mối quan hệ vật ký sinh và vật chủ
Nội dung chương 3 trình bày chi tiết các loại vật chủ của ký sinh trùng, nguồn gốc
của vật chủ trung gian, mối quan hệ giữa vật ký sinh và vật chủ. Những nội dung của mối
quan hệ này là: đường xâm nhập của vật ký sinh vào vật chủ, hiện tương di chuyển của
ký sinh trùng trong cơ thể vật chủ, hoạt động của vật ký sinh ảnh hưởng đến vật chủ và
phản ứng của vật chủ lên vật ký sinh.
Chương 4. Khu hệ ký sinh trùng và môi trường
Nội dung chương 4 giới thiệu sự phụ thuộc của khu hệ ký sinh trùng vào tuổi vật chủ
và các mùa trong năm, vào thức ăn và đời sống của vật chủ, vào sự di cư của vật chủ, vào
đời sống xã hội của vật chủ, vào vùng địa lý, vào sự có mặt của các loại khác trong quần lạc
ký sinh và quần lạc sinh vật.
7


Nhìn chung, mỗi chuyên đề ở chương 7 và chương 8 đều được trình bày chi tiết vị trí
của ký sinh trùng trong hệ thống phân loại động vật học, đặc điểm sinh học của các loài
ký sinh trùng gây bệnh, bệnh học của các bệnh do chúng gây ra ở gia súc, gia cầm và biện
pháp phòng trị. Mỗi chuyên đề đều có sự tổng hợp những kiến thức kinh điển và những
quan điểm mới về ký sinh trùng học thú y, đồng thời được tổng quan một cách hệ thống
và cập nhật những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, giúp người
học có kiến thức sâu và rộng về một số bệnh ký sinh trùng quan trọng thường gặp ở gia
súc, gia cầm.

8 9 Chương 1
PHÂN BỐ VÀ NGUỒN GỐC CỦA KÝ SINH TRÙNG

1. PHÂN BỐ VÀ HIỆN TƢỢNG KÝ SINH CỦA KÝ SINH TRÙNG TRONG
THIÊN NHIÊN
1.1. Phân bố của giới ký sinh trùng trong thiên nhiên
Ký sinh trùng phân bố rất rộng trong thiên nhiên, gồm các đại diện của 20 lớp

10

đó là hiện tượng hội sinh và cộng sinh.
Hiện tượng cộng sinh (symbiosis hoặc mutualis: hội sinh hoặc hỗ trợ) là hai cơ thể
sống chung với nhau và mang lại lợi ích cho nhau. Ví dụ: cua biển giống Melia và hải quỳ
Cua giúp hải quỳ di chuyển và tìm nguồn thức ăn phong phú hơn, còn hải quỳ dùng những
thích ty bào của mình để bảo vệ cua (hình l).

Hình 1 . Hiện tượng cộng sinh (symbiosis) giữa cua và hải quỳ
A - Cua ký cư và hải quỳ. B - Cua Melia và hải quỳ (a. hải quỳ)
Hiện tượng hội sinh (commensalism) là hai cơ thể sống chung với nhau, nhưng chỉ
một bên thu lợi còn bên kia không có tác hại gì và cũng không được lợi gì. Ví dụ cua ký
cư trong vỏ ốc, giun ít tơ (Cllaetogaster lymnae) ở ốc Lymnae, cá Flerafer họ
Anlmodytidae sống trong Hotothltria tublosa (hình 2) hoặc cá dính Ecchneis remora bám
vào cá hồng để sử dụng thức ăn thừa của cá hồng (hình 3).
Trong quá trình liên hệ giữa hai cơ thể của hiện tượng cộng sinh và hội sinh,
người ta cũng tìm thấy các bước chuyển tiếp sang đời sống ký sinh.
1.2.2. Hiện tượng ký sinh bậc hai
Ngoài khái niệm về hiện tượng ký sinh còn có hiện tượng ký sinh bậc 2, đó là hiện
Hìm 4. Một số ký sinh trùng ở bướm ngô (Pyrausta nubilalis) và ký sinh bậc 2 của chúng
A - P. nubilans;
B - Ong ký sinh Limneria trên P. nubilans
C . Ong ký sinh Hemiteles ký sinh bậc 2 trên Limneria
D - Ong Pimpla ký sinh bậc 2 trên Limnena
E - Ong Mesochorus ký sinh bậc 2 trên Limneria
F - Ong Angitia punctoria ký sinh bậc 2 trên Pyrausta nubilalis G -
Ong Pimpla ký sinh bậc 2 trên Angitia
H - Ong Eupteromatus nidulans ký sinh bậc 2 trên Angitia
Hình 5. Sơ đồ môi liên hệ giữa vật chủ, vật ký sinh và hiện tượng ký sinh
bậc 2 của chúng (Nguyễn Thị Lê, 1998)
Trung tâm là vật chủ (Loxotege sticticillis).
Xung quanh là vật ký sinh.
Tiếp theo là ký sinh bậc 2, ngoài cùng là ký sinh bậc 3

1. 3. Các kiểu trên hệ khác nhau của vật ký sinh và vật chủ
Trong thiên nhiên, giữa đời sống ký sinh và đời sống tự do của giới sinh vật,
người ta đã gặp các khâu trung gian và sự chuyển tiếp từ đời sống tự do sang đời sống
ký sinh.
1.3.1. Ký sinh tuỳ ý và ký sinh bắt buộc
Trong hình thức liên hệ giữa vật ký sinh và vật chủ, do mức độ thích nghi dần
của cơ thể sống tự do với đời sống ký sinh mà ký sinh trùng lúc sống nhờ cơ thể vật
chủ, lúc sống tự do. Người ta gọi đó là "ký sinh tuỳ ý" hay còn gọi "ký sinh giả"; nghĩa
là động vật sống tự do nếu ngẫu nhiên gặp vật chủ thích hợp thì nó chuyển sang đời
sống ký sinh và làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của vật chủ. Như vậy,
trong chu kỳ sống của những động vật này, giai đoạn ký sinh không phải là bắt buộc.

14


Dựa vào thời gian tiếp xúc giữa vật ký sinh và vật chủ, người ta chia vật ký sinh
thành "vật ký sinh tạm thời" và "vật ký sinh cố định" hay "vật ký sinh vĩnh viễn".
- Vật ký sinh tạm thời: những vật ký sinh này phát triển từ trứng đến giai đoạn
trưởng thành đều ở ngoài cơ thể ký chủ, chúng xâm nhập vào ký chủ cốt để lấy thức
ăn, sau khi ăn no, chúng rời bỏ ký chủ và lại chỉ tìm đến ký chủ khi đói (ví dụ: đỉa,
muỗi ).
Vật ký sinh tạm thời thường ký sinh trên các bộ phận bên ngoài của ký chủ, hay ở
các xoang của cơ thể (xoang mũi, miệng, mang cá).
Nói cách khác, những vật ký sinh tạm thời là những vật ký sinh bên ngoài - ngoại

15

ký sinh.
Do phương thức sống tương đối tự do mà ngoại ký sinh trùng (trong đó có cả đỉa)
không khác lắm so với các loài cùng giống sống tự do về cấu tạo cơ thể, vì môi trường tạm
thời sống trên cơ thể ký chủ không thể làm thay đổi nhiều đến hình thái và cấu tạo cơ thể
của những vật ký sinh này.
Vật ký sinh tạm thời chỉ tiếp xúc với vật chủ từng lúc. Ví dụ: để hút máu, muỗi
chỉ tiếp xúc với vật chủ 1 - 2 phút. Do đó, ở chúng sự thích nghi hình thái thể hiện rất
ít (chủ yếu là vòi hút), còn những cơ quan khác không sai khác gì so với các loài muỗi
khác sống tự do không dinh dưỡng bằng máu. Hoặc đối với loài ve Ixodes cũng vậy,


đến giai đoạn trưởng thành; sau khi giao phối, con đực sẽ chết, con cái xâm nhập vào
thành ruột đẻ con (ấu trùng), ấu trùng vào máu và xâm nhập vào các tế bào cơ, sau đó tạo
thành nang kén hình hạt chanh, trong nang có ấu trùng.
1.3.4. Ký sinh thời kỳ
* Sự ký sinh lặp lại ở một số pha trong chu kỳ phát triển
Vật ký sinh chỉ sống những giai đoạn nhất định ở vật chủ. Ví dụ như giun tròn
Rhabdias bufonis ký sinh trong phổi ếch. Khi sống trong phổi ếch, chúng là thế hệ
lưỡng tính. Giun trưởng thành đẻ trứng, trứng ra ngoài qua miệng hoặc ruột vào đất phát
triển thành ấu trùng phân tính sống tự do. Sau đó con đực và con cái thụ tinh và đẻ ra ấu
trùng. âu trùng lại xâm nhập vào vật chủ là ếch. Thế hệ Rhabdias sống tự do về cấu trúc
rất gần với giun tròn sống tự do giống Rhabditis. Như vậy, ở đây có sự xen kẽ thế hệ ký sinh
với thế hệ tự do.
* Sự ký sinh lặp lại ở tất cả các pha phát triển khác nhau trong một thê hệ
Hiện tượng này gặp ở ve - bét (Ixodidae). Ký sinh trùng này có 3 pha (3 giai
đoạn) phát triển (ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành).
Ở các pha ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành đều có sự xen kẽ giữa đời sống ký
sinh và đời sống tự do.
* Sự lặp lại đời sống ký sinh trong suốt chu kỳ sống ở các thế hệ khác nhau
Kiểu này gặp ở vật ký sinh có chu kỳ sống phức tạp như sán lá (Trematoda) cần
2 ký chủ trung gian. Chúng thường có 3 thế hệ: sán lá trưởng thành và hai thế hệ đơn

nở ra, qua hai lần biến thái chuyển sang giai đoạn III (giai đoạn ấu trùng cảm nhiễm).
ấu trùng cảm nhiễm xâm nhập qua da hoặc qua miệng và tiếp tục hai lần biến thái nữa
rồi di chuyển vào máu, qua phổi, đến ruột và phát triển đến giai đoạn trưởng thành.
2. NGUỒN GỐC CỦA KÝ SINH TRÙNG
2.1. Nguồn gốc ngoại ký sinh trùng
Hiện tượng ký sinh bắt nguồn từ động vật sống tự do. Đối với hầu hết ngoại ký sinh
đều thể hiện phương thức dinh dưỡng từ tổ tiên sống tự do chuyển sang dinh dưỡng
bằng mô và máu của vật chủ.
Phần lớn ngoại ký sinh bắt nguồn từ động vật ăn thịt (ví dụ như đỉa, rệp, muỗi, ấu
trùng ruồi ). Các động vật kể trên rất ít sai khác so với các động vật ăn thịt sống tự do
gần gũi trong cây chủng loại phát sinh.
Để trở thành vật ký sinh, động vật ăn thịt không chỉ có mặt trên vật chủ để lấy thức
ăn mà là cả quá trình tiếp xúc lâu đài, qua nhiều thế hệ.
Hàng loạt các trường hợp ngoại ký sinh bắt nguồn từ động vật có đời sống cố
định. Ví dụ như đơn bào Infusoria (Tricllodina). Tổ tiên của nó có đời sống cố định bằng
cách bám chắc vào đáy ao, hồ hoặc bám vào các cơ thể sống ở nước và sống tự do. Sau
đó, một số loài trong đơn bào này (như Coronua sp.) luồn sâu vào da vật chủ (cá) và
chuyển sang đời sống ngoại ký sinh.
2.2. Nguồn gốc nội ký sinh trùng
Nội ký sinh trùng bắt nguồn từ đời sống ngoại ký sinh. Ví dụ, đơn bào Infllsoria
(Trichodina) là ngoại ký sinh trùng ở mang và da cá, nhưng một số loài trong chúng, ví
dụ như T. urinaria ký sinh ở cá hồng chuyển sang đời sống nội ký sinh trong túi bài tiết,
ống dẫn bài tiết hay ống dẫn trứng.
Một ví dụ điển hình nữa là sán lá đơn chủ (Polystoma integerrimum) sống ở
mang nòng nọc, khi nòng nọc biến thái thành ếch chúng chuyển vào sống ở túi niệu ếch
và trở thành nội ký sinh trùng.
2.3. Nguồn gốc ký sinh trùng đƣờng máu
Dạng nội ký sinh trùng đặc biệt là ký sinh trùng đường máu. Hiện nay có hai
quan điểm:
- Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ký sinh trùng đường máu ở động vật có xương

côn trùng không có phương thức dinh dưỡng chuyên hoá bằng máu. Tổ tiên
Trypanosoma sống trong ruột của động vật không xương sống, do sự tiếp xúc của
động vật không xương sống với động vật có xương sống mà ký sinh trùng này vào
máu động vật có xương sống. Quá trình tiến hoá làm cho chúng thích nghi dần. Môi
trường dinh dưỡng máu tốt hơn ở ruột, nhưng chúng vẫn không đánh mất khả năng
sống ở ruột côn trùng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status