Nâng cao trình độ trí tuệ của đảng theo tư tưởng hồ chí minh - Pdf 13

Nâng cao trình độ trí tuệ của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
22:21' 4/2/2014
TCCSĐT - Thực tiễn cách mạng Việt Nam 84 năm qua khẳng định: Trình độ trí tuệ của Đảng là một trong những tiền đề cơ bản bảo đảm cho Đảng đề ra
đường lối đúng đắn đáp ứng yêu cầu lịch sử trong suốt thời kỳ đấu tranh chống thực dân đế quốc giành chính quyền về tay nhân dân, cũng như khi
cả nước bước vào sự nghiệp xây dựng đất nước, thực hiện công cuộc đổi mới nhằm hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Do vậy, không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ của Đảng phải được xem là một nhiệm vụ cơ bản
và cấp thiết hàng đầu trong xây dựng Đảng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này, những thế
hệ cán bộ, đảng viên chúng ta luôn có chỗ dựa tin cậy là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
nâng cao năng lực và trình độ trí tuệ của Đảng.
1- Muốn nâng cao trình độ trí tuệ của Đảng, điều đòi hỏi đầu tiên là phải nâng cao trình độ trí tuệ
của bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên. V.I. Lê-nin đã từng dạy rằng, người cộng sản phải biết
làm giàu trí tuệ của mình bằng kho tàng tri thức của nhân loại. Trong kho tàng tri thức đó, Hồ
Chí Minh nhấn mạnh trước hết đến sự cần thiết phải học tập và kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-
nin.
Ngay từ những năm đầu của thập niên 20 thế kỷ XX, khi giai cấp phong kiến Việt Nam ươn hèn
đã đầu hàng thực dân đế quốc, giai cấp tư sản dân tộc non yếu chủ trương thỏa hiệp với thực dân
đế quốc vì những lợi ích riêng của họ, tư tưởng của các tầng lớp tiểu tư sản đi vào bế tắc… thì
chính Nguyễn Ái Quốc, với kinh nghiệm tích lũy sau nhiều năm thực tiễn hoạt động cách mạng
đã sớm tìm ra được con đường duy nhất đúng để giải phóng dân tộc và quần chúng lao động khỏi
ách nô lệ thực dân đế quốc - con đường cách mạng vô sản. Lãnh đạo con đường cách mạng đó
không ai khác ngoài và phải là chính đảng tiên phong của giai cấp công nhân. Để hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình, bản thân Đảng phải rèn luyện để trở thành một tổ chức thực sự vững
mạnh. Nhưng “Đảng muốn vững, - như Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, - thì phải có chủ nghĩa làm
cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa
cũng như người không có trí khôn, tầu không có bàn chỉ nam”(1). Chủ nghĩa ấy chính là chủ
nghĩa Mác - Lê-nin - thế giới quan và phương pháp luận cách mạng khoa học của giai cấp vô sản
và các lực lượng tiến bộ trong thời đại mới. Đánh giá chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong số các học
thuyết, các trào lưu tư tưởng về cách mạng đang lan truyền trên thế giới cũng như ở Việt Nam
vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều,
chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa

cần thiết phải nghiên cứu, xem xét những “tài liệu thiết thực” khác, đó là “những kinh nghiệm do
người học mang đến, kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại”. Người đánh giá
“những kinh nghiệm đó đem trao đổi, gom góp lại tức là những bài học quý…”(6). Bởi lý luận
không phải là một cái gì đó đối lập với kinh nghiệm, mà ngược lại, lý luận chẳng qua là “sự tổng
kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích
trữ lại trong quá trình lịch sử”(7).
Để nâng cao trình độ trí tuệ của mình, người cán bộ đảng viên còn phải “ra sức học tập văn hóa,
kỹ thuật và nghiệp vụ”, bởi chỉ có như vậy mới có tri thức hiểu biết công việc và hoàn thành tốt
nhiệm vụ chuyên môn, góp phần bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả chức năng lãnh đạo
chính trị của Đảng đối với công tác chuyên môn.
Việc học tập và nghiên cứu có đạt kết quả tốt hay không, điều đó đòi hỏi bản thân người học phải
có thái độ và phương pháp học tập đúng. Thái độ học tập đúng là phải “khiêm tốn, càng cao càng
giỏi, càng khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ”. Phê phán những thói tự kiêu, tự mãn, tự phụ,
không cầu tiến bộ,… Hồ Chí Minh luôn căn dặn mỗi cán bộ đảng viên phải “tích cực tự động
hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kỳ
khó khăn nào trong học tập”.
Về phương pháp học tập, Hồ Chí Minh nhắc nhở “cách học tập… phải lấy tự học làm cốt. Do
thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Khi học tập, nghiên cứu bất cứ vấn đề gì về xã hội, con người,…
cũng đều phải “xem xét toàn diện, xem quá khứ, nhất là xem hiện tại để hiểu biết và suy đoán
tương lai. Có như thế mới nhận định tình hình, mới nhận xét sự việc xảy ra được đúng đắn”.
Muốn cho việc học tập trở thành phương thức cơ bản để nâng cao năng lực trí tuệ cán bộ, đảng
viên thì phương châm “học đi đôi với hành”, “lý luận liên hệ với thực tế” phải được đặc biệt chú
trọng. Người cho rằng, học mà không đi đôi với hành, học mà không biết hành là mới “chỉ có tri
thức một nửa”, “muốn thành một người trí thức hoàn toàn thì phải đem cái tri thức đó áp dụng
vào thực tế”, “lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng nghìn,
hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng
sách…”. Người coi thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc mác-xít căn bản và
vạch rõ rằng những những sai lầm từng mắc phải trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, cải
tạo xã hội chủ nghĩa là do sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn “chưa được hoàn toàn”. Trong
phương châm “học đi đôi với hành”, “lý luận liên hệ với thực tiễn” thì việc học lý luận không có

năng của Chính phủ”(10).
3- Trong tiềm năng và sức mạnh trí tuệ chung của xã hội, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến việc
phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức. Người khẳng định rằng, “kháng chiến và kiến quốc thì phải
cần trong các ngành kinh tế tài chính, quân đội, văn hóa có những người trí thức giúp vào mới
thành”. Đánh giá cao những điểm tích cực của đội ngũ trí thức Việt Nam, như “dễ hấp thụ được
tinh thần cách mạng, dễ theo cách mạng…”, nhưng đồng thời Người cũng vạch ra và phê phán
nghiêm khắc những khuyết điểm của họ, như chủ nghĩa cá nhân, tính không kiên quyết, thái độ
bàng quan, tính bảo thủ, địa vị,… Đối với những trí thức của xã hội cũ, để sử dụng có hiệu quả
tài năng và tri thức của họ, để họ trở thành những người trí thức của giai cấp công nhân, góp
phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng xã hội mới thì điều cần thiết là phải “cải tạo tư tưởng”
của họ. Thế nhưng đây là việc không giản đơn, đòi hỏi phải thực hiện một cách “lâu dài và gian
khổ”, nó chính là “một cuộc cách mạng trong người”, bởi vậy, nó phải được thực hiện một cách
“tự nguyện tự giác”.
Cùng với việc cải tạo và sử dụng trí thức cũ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc cần thiết phải đào
tạo đội ngũ trí thức mới từ các tầng lớp công nhân và nông dân, thực hiện “công nông trí thức
hóa”, nghĩa là cần nâng cao trình độ tri thức cho các tầng lớp công nhân và nông dân. Tuy nhiên,
việc thực hiện “công nông trí thức hóa” không tách rời việc thực hiện đồng thời “trí thức công
nông hóa”, nghĩa là trí thức cần “gần gụi công nông và học tập tinh thần, nghị lực, sáng kiến và
kinh nghiệm của công nông”(11).
Xuất phát từ quan điểm là mỗi đường lối, mỗi chính sách, mỗi hoạt động của Đảng đều phải
“dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng”, “dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng
chính đáng của nhân dân”… Hồ Chí Minh đặt nhiệm vụ nâng cao năng lực trí tuệ của Đảng
trong mối quan hệ với nâng cao trí tuệ của toàn dân, mà trước hết là phải thực hiện được trên
thực tế việc “nâng cao dân trí”. Bởi “dốt nát cũng là kẻ địch, địch dốt nát tấn công ta về tinh
thần, cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực…”. Căn cứ vào hoàn cảnh thực tế Việt
Nam trước cách mạng là tuyệt đại đa số nhân dân lao động mù chữ, nên không phải ngẫu nhiên
mà ngay sau khi giành được độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đã coi “nâng cao dân trí” là một trong
những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. “Nâng cao dân trí” được
bắt đầu bằng chiến dịch chống nạn mù chữ với phong trào “bình dân học vụ” không chỉ dừng lại
ở mục đích làm cho mọi người biết đọc, biết viết,… mà còn trang bị cho họ những tri thức đủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status