Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường - Pdf 13

Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường
tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Đến nay trên địa bàn tỉnh có 13 KCN với tổng diện tích 3.684,6ha đã được Thủ
tướng Chính phủ chấp thuận đưa vào Quy hoạch tổng thể phát triển các KCN cả nước,
trong đó có 03 KCN đã đi vào hoạt động, tiếp nhận dự án đầu tư, bao gồm:
- KCN Phố Nối A: do Công ty Quản lý khai thác KCN Phố Nối A làm chủ đầu tư,
giai đoạn I có quy mô diện tích 390ha, đi vào hoạt động từ năm 2003, đến nay đã tiếp
nhận 114 dự án đầu tư, tỷ lệ lấp đầy đạt 80,5%; giai đoạn mở rộng có quy mô 204,8 ha
đang được chủ đầu tư tiến hành công tác đền bù, giải phóng mặt bằng.
- KCN Dệt may Phố Nối (thuộc KCN Phố Nối B): do Công ty Cổ phần phát triển
hạ tầng Dệt may Phố Nối làm chủ đầu tư, giai đoạn I có quy mô khoảng 25,17ha, đi vào
hoạt động từ năm 2004, đã tiếp nhận 11 dự án đầu tư, tỷ lệ lấp đầy đạt 100%; giai đoạn
II có quy mô 94,34ha, chủ đầu tư đang tiến hành san lấp mặt bằng để đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN.
- KCN Thăng Long II (thuộc KCN Phố Nối B): do Công ty TNHH KCN Thăng
Long II làm chủ đầu tư, giai đoạn I có quy mô diện tích 219,6ha, đi vào hoạt động từ
năm 2009, đến nay đã tiếp nhận 32 dự án đầu tư, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,22%; giai đoạn mở
rộng có quy mô 125,6ha đang được chủ đầu tư tiến hành công tác bồi thường, giải
phóng mặt bằng.
- KCN Minh Đức: do Công ty cổ phần phát triển hạ tầng VNT làm chủ đầu tư với quy
mô 198ha, hiện tại do chủ đầu tư hạ tầng KCN chưa được bàn giao đất nên chưa triển khai
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN. Tại KCN Minh Đức có 22 dự án đầu tư đã
được UBND tỉnh cấp phép và cho thuê đất trước khi thành lập KCN, với diện tích đất đã
cho thuê là 38,7ha, đạt 28,5% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của cả KCN.
Các KCN còn lại chưa đi vào hoạt động, hiện tại các chủ đầu tư hạ tầng KCN đang
thực hiện công tác lập quy hoạch chi tiết và bồi thường, giải phóng mặt bằng. Trong số
các KCN đang hoạt động chỉ có KCN Minh Đức do chủ đầu tư chưa được bàn giao mặt
bằng nên chưa thể đầu tư hạ tầng kỹ thuật cũng như các công trình bảo vệ môi trường.
Các KCN còn lại đều được các chủ đầu tư hạ tầng tập trung xây dựng các công trình bảo
vệ môi trường theo đúng quy hoạch. Qua đó công tác bảo vệ môi trường tại KCN trong
thời gian qua đã được nâng lên rõ rệt, góp phần giảm thiểu các tác động gây ô nhiễm

3
/ngày đêm, chủ yếu là
nước thải sinh hoạt, chưa đấu nối vào hệ thồng thu gom, xử lý chung của KCN mà do các
chủ dự án xử lý bằng hệ thống xử lý nước thải nội bộ trước khi xả thải ra ngoài môi trường.
Đây là các dự án nằm trong số 29 dự án được UBND tỉnh Hưng Yên cấp phép đầu tư trước
khi thành lập KCN.
Theo báo cáo kết quả quan trắc định kỳ năm 2011, và 06 tháng đầu năm 2012 của chủ
đầu tư hạ tầng KCN thì nước thải sau khi qua nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt Quy
chuẩn QCVN 24:2009/BTNMT, cột B trước khi xả thải ra nguồn tiếp nhận. So với năm
2010 thì tổng lượng nước thải trung bình/ngày đêm tiếp nhận về hệ thống xử lý nước thải
tập trung của KCN, chất lượng nước thải sau khi qua hệ thống xử lý, tại điểm xả thải của
KCN trên sông Bún là tương đối ổn định, ít dao động, các chỉ tiêu đều đạt quy chuẩn cho
phép. Tuy nhiên, chất lượng môi trường nước mặt tại khu vực KCN có sự thay đổi so với
năm 2010, theo kết quả quan trắc năm 2011 của KCN Phố Nối A thì môi trường nước mặt,
trên sông Bần Vũ Xá là nơi tiếp nhận nhiều nguồn nước thải, có thông số BOD5 vượt 1,43
lần giới hạn cho phép, thông số COD cũng gần xấp xỉ giới hạn cho phép tại QCVN
08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, cột B1.
1.1.2. Tại KCN Dệt may Phố Nối: Chủ đầu tư đã xây dựng công trình xử lý nước
thải tập trung giai đoạn với công suất 10.000m
3
/ngày đêm, có công nghệ xử lý đặc thù
cho ngành dệt nhuộm, may mặc, nên nước thải của các dự án trong KCN không phải xử
lý sơ bộ mà được thu gom trực tiếp về nhà máy xử lý nước thải tập trung của KCN để
xử lý. Hiện tại, trong KCN có 11 dự án đang hoạt động với tổng lượng nước thải phát sinh vào
khoảng 1.550m
3
/ngày đêm, trong đó khoảng 1.500m
3
/ngày đêm được xử lý tại hệ thống xử lý
nước thải tập trung của KCN; còn lượng nước thải sinh hoạt khoảng 50m

hoạt với tổng lượng phát sinh vào khoảng 300m
3
/ng.đ. Nước thải của các dự án này đều được
xử lý bằng hệ thống xử lý nước thải nội bộ trước khi xả thải ra ngoài môi trường. Qua kết quả
quan trắc môi trường định kỳ năm 2011 của 06/22 dự án đã gửi về Ban Quản lý cho thấy, hầu hết
chất lượng nước thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các dự án đều đạt Quy chuẩn trước
khi xả thải ra ngoài môi trường. Tuy nhiên do chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập
trung nên việc kiểm soát chất lượng nước thải đầu ra của từng dự án là khó khăn.
1.2. Thu gom, xử lý chất thải rắn và loại hình ô nhiễm khác:
1.2.1. Chất thải rắn, chất thải nguy hại: Tại KCN Phố Nối A tổng lượng chất thải
rắn (sinh hoạt và công nghiệp, bùn thải) phát sinh trong quá trình hoạt động của các doanh
nghiệp vào khoảng 32.000 tấn/năm, tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh vào khoảng
2.300 tấn/năm; Số lượng tương ứng tại KCN Dệt May Phố Nối là 158 tấn/năm +
108m
3
/năm, và khoảng 26 tấn/năm; Tại KCN Thăng Long II là khoảng 147,8 tấn +
250m
3
/năm, và khoảng 109 tấn/năm; Tại KCN Minh Đức là khoảng 224 tấn/năm, và
khoảng 19 tấn/năm.
Trong các KCN trên địa bàn tỉnh, hiện tại chỉ có chủ đầu tư hạ tầng KCN Phố Nối A
thực hiện việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn (rác thải sinh hoạt và chất thải công
nghiệp) phát sinh trong quá trình hoạt động của các dự án trong KCN, tuy nhiên lượng thu
gom này là không nhiều. Các chất thải nguy hại và chất thải rắn phát sinh trong quá trình
hoạt động đều được các doanh nghiệp tổ chức thu gom, phân loại tại nguồn và chủ yêu
trực tiếp ký hợp đồng với đơn vị có chức năng vận chuyển và đưa đi xử lý theo quy định.
1.2.2. Khí thải, tiếng ồn: mức độ, tải lượng phát sinh khí thải tại các KCN trên địa
bàn tỉnh tùy thuộc vào đặc thù ngành nghề sản xuất của từng dự án, tập trung chủ yếu
vào các dự án sản xuất thức ăn gia súc, dệt nhuộm, may mặc (khí thải từ lò hơi), sản
xuất cơ khí (khí thải từ các lò hơi hoặc lò luyện)…Tùy theo lĩnh vực sản xuất mỗi

quản lý nhà nước về môi trường tại các khu công nghiệp được triển khai thực hiện chặt chẽ
và hiệu quả hơn. Qua đó, tình trạng gây ô nhiễm môi trường của các dự án đầu tư đã được
kiểm soát, khắc phục từng bước, việc thu gom, xử lý chất thải phát sinh tại các KCN được
chú trọng thực hiện và từng bước đi vào nề nếp, đảm bảo đúng quy trình, quy định. Tuy
nhiên trong quá trình thực hiện, còn nhiều Doanh nghiệp đang hoạt động trong các KCN
trên địa bàn tỉnh chưa chấp hành tốt các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Một
số vi phạm điển hình như:
- Hoạt động quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại chưa triệt để. Một số doanh
nghiệp chưa thực hiện đầy đủ các yêu cầu về phân loại chất thải rắn tại nguồn; kho lưu giữ
chất thải chưa đảm bảo quy định, một số doanh nghiệp còn để chất thải nguy hại ngoài trời.
- Còn một số doanh nghiệp đã hoạt động từ lâu nhưng chưa thực hiện các thủ tục về
lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Cam kết bảo vệ môi trường, hoặc Đề án bảo vệ
môi trường theo quy định. Hầu hết các doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định về lập,
niêm yết Kế hoạch xây dựng các công trình bảo vệ môi trường, rất ít doanh nghiệp được
xác nhận đã hoàn thành xây dựng công trình bảo vệ môi trường trước khi đi vào hoạt động
chính thức.
- Việc đấu nối, thu gom nước thải của các doanh nghiệp chưa triệt để: KCN Minh
Đức chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải chung; Tại KCN Phố Nối A còn khoảng 16
dự án đầu tư trước khi thành lập KCN chưa được đấu nối vào hệ thống chung, một số
doanh nghiệp còn đấu nối sai quy định, không tách riêng hệ thống nước thải và nước mưa;
KCN Dệt may Phố Nối còn khoảng 03 dự án chưa thực hiện đấu nối nước thải vào hệ
thống thu gom nước thải chung của KCN để xử lý.
- Việc thực hiện các quy định về quan trắc định kỳ của các Doanh nghiệp còn thiếu
đồng bộ, chất lượng chưa cao, còn mang tính đối phó. Một số Doanh nghiệp khi thực hiện
việc quan trắc lại không gửi báo cáo kết quả quan trắc về Ban Quản lý các KCN. Trong năm
2011, mới chỉ có khoảng 66/130 dự án; 06 tháng đầu năm 2012 mới có khoảng 45/139 dự án
đã đi vào hoạt động gửi báo cáo kết quả quan trắc môi trường định kỳ về Ban Quản lý theo
quy định của pháp luật.
- Còn một số doanh nghiệp chưa kiểm soát, xử lý triệt để khí thải, gây ảnh hưởng đến
môi trường như Nhà máy Phôi thép của Công ty Thép Hòa Phát, nhà máy cán thép tại KCN

- Hỗ trợ và thúc đẩy các chủ đầu tư hạ tầng KCN làm tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường
trong các KCN: đầu tư và vận hành thường xuyên các công trình bảo vệ môi trường của
KCN; Theo dõi, giám sát hoạt động của các nhà máy trong KCN, kịp thời phát hiện và phối
hợp xử lý các trường hợp vi phạm, gây ô nhiễm môi trường; Củng cố, kiện toàn bộ phận
chuyên môn làm công tác bảo vệ môi trường tại các KCN, và đầu tư trang thiết bị cần thiết
phục vụ cho hoạt động.
- Thúc đẩy để hoàn thành việc đấu nối thu gom nước thải của các doanh nghiệp trong
KCN Phố Nối A theo đúng quy định, nhất là các doanh nghiệp có nước thải chứa nhiều
chất có nguy cơ gây ô nhiễm cao. Để thực hiện dứt điểm việc đấu nối của các doanh nghiệp
đầu tư trước vào hệ thống chung theo quy định, cần có sự phối hợp chặt chẽ với Sở Tài
nguyên và Môi trường làm rõ và có chế tài bắt buộc các doanh nghiệp thực hiện.
- Rà soát các đối tượng phải xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường
trước khi đi vào hoạt động chính thức để hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đúng.
Những doanh nghiệp không thực hiện cần phối hợp các cơ quan tiến hành thanh tra, xử lý
theo quy định.
- Đẩy mạnh hoạt động giám sát việc xây dựng các công trình bảo vệ môi trường của
các doanh nghiệp theo đúng cam kết. Trong đó cơ quan quản lý nhà nước phải phối hợp với
các công ty hạ tầng KCN thực hiện giám sát chặt chẽ ngay từ khi chủ đầu tư triển khai xây
dựng công trình, nhất là đối với các công trình ngầm phải đảm bảo theo đúng thiết kế. Phải
kết hợp việc giám sát hoạt động xây dựng theo quy hoạch và giám sát việc xây dựng các
công trình bảo vệ môi trường.
- Phối hợp với các cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra hoạt
động bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp. Xử lý nghiêm, triệt để đối với những trường
hợp gây ô nhiễm môi trường, không chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status